Bài tổng quan
Số nạp giáp, nạp âm và cách tính ngày tích vào cục
Bốn mốc sinh của một người, năm, tháng, ngày, giờ, khi vào bàn Thái Ất đều đổi thành những con số. Một ngày Giáp Tý sau tiết Đông chí là điểm đếm đầu tiên, và chỉ cần đếm lệch một ngày là cả lá số sang một cục khác. Con số một trăm chín mươi ba của người sinh năm Giáp Tuất sẽ dẫn đến đâu…
Một người sinh ra vào một năm, một tháng, một ngày, một giờ, và bốn mốc ấy khi đem vào Thái Ất không còn là những cái tên mà trở thành những con số. Các con số ấy cộng lại, rồi đối với số ngày đã trôi từ một mốc đầu năm, đưa người ấy vào đúng một cục trong bảy mươi hai cục của bàn sao. Muốn đi trọn con đường ấy phải làm đúng từng bước, vì chỉ cần sai một ngày là toàn bộ lá số sẽ lệch.
Số của Trời và số của Đất
Các số một, ba, năm, bảy, chín là số của Trời, cộng lại được hai mươi lăm. Các số hai, bốn, sáu, tám, mười là số của Đất, cộng lại được ba mươi. Số Trời và số Đất thông nhau thành năm mươi lăm, và con số năm mươi lăm này chính là điều khiển cuộc vận chuyển biến hóa.
Bảng số nạp giáp can chi
Mỗi can, mỗi chi đều mang một con số, tính theo năm định lý sinh và thành. Trời một sinh Thủy, Đất sáu thành Thủy, cộng một với sáu được bảy. Đất hai sinh Hỏa, Trời bảy thành Hỏa, cộng hai với bảy được chín. Trời ba sinh Mộc, Đất tám thành Mộc, cộng lại được mười một. Đất bốn sinh Kim, Trời chín thành Kim, được mười ba. Trời năm sinh Thổ, Đất mười thành Thổ, được mười lăm. Từ đó có bảng:
- Nhâm, Quý và Hợi, Tý thuộc Thủy, được bảy.
- Bính, Đinh và Tỵ, Ngọ thuộc Hỏa, được chín.
- Giáp, Ất và Dần, Mão thuộc Mộc, được mười một.
- Canh, Tân và Thân, Dậu thuộc Kim, được mười ba.
- Mậu, Kỷ và Sửu, Mùi, Thìn, Tuất thuộc Thổ, được mười lăm.
Các số bảy, chín, mười một, mười ba, mười lăm này là tổng số sinh thành cộng với số ngũ hóa và nạp giáp của can chi.
Bảng số nạp âm
Mỗi cặp năm kề nhau trong vòng sáu mươi mang chung một hành, và hành ấy đổi thành một con số.
Bảng nạp âm tính cả hai can chi của một năm trong vòng lục thập hoa giáp. Mỗi cặp năm tuổi âm và tuổi dương cạnh nhau được chung một nạp âm, tức mệnh, rồi mệnh ấy lấy một trong năm con số: Hỏa chín, Kim mười ba, Thủy bảy, Mộc mười một, Thổ mười lăm. Ba mươi cặp như sau:
- Giáp Tý, Ất Sửu: Kim, mười ba. Bính Dần, Đinh Mão: Hỏa, chín.
- Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: Mộc, mười một. Canh Ngọ, Tân Mùi: Thổ, mười lăm.
- Nhâm Thân, Quý Dậu: Kim, mười ba. Giáp Tuất, Ất Hợi: Hỏa, chín.
- Bính Tý, Đinh Sửu: Thủy, bảy. Mậu Dần, Kỷ Mão: Thổ, mười lăm.
- Canh Thìn, Tân Tỵ: Kim, mười ba. Nhâm Ngọ, Quý Mùi: Mộc, mười một.
- Giáp Thân, Ất Dậu: Thủy, bảy. Bính Tuất, Đinh Hợi: Thổ, mười lăm.
- Mậu Tý, Kỷ Sửu: Hỏa, chín. Canh Dần, Tân Mão: Mộc, mười một.
- Nhâm Thìn, Quý Tỵ: Thủy, bảy. Giáp Ngọ, Ất Mùi: Kim, mười ba.
- Bính Thân, Đinh Dậu: Hỏa, chín. Mậu Tuất, Kỷ Hợi: Mộc, mười một.
- Canh Tý, Tân Sửu: Thổ, mười lăm. Nhâm Dần, Quý Mão: Kim, mười ba.
- Giáp Thìn, Ất Tỵ: Hỏa, chín. Bính Ngọ, Đinh Mùi: Thủy, bảy.
- Mậu Thân, Kỷ Dậu: Thổ, mười lăm. Canh Tuất, Tân Hợi: Kim, mười ba.
- Nhâm Tý, Quý Sửu: Mộc, mười một. Giáp Dần, Ất Mão: Thủy, bảy.
- Bính Thìn, Đinh Tỵ: Thổ, mười lăm. Mậu Ngọ, Kỷ Mùi: Hỏa, chín.
- Canh Thân, Tân Dậu: Mộc, mười một. Nhâm Tuất, Quý Hợi: Thủy, bảy.
Tổng số của một năm, một tháng, một ngày, một giờ
Mỗi đơn vị năm, tháng, ngày, giờ đều phải tính ra số riêng ba lần rồi cộng lại thành số chung: số của chữ can, số của chữ chi theo bảng nạp giáp, và số của cặp can chi theo bảng nạp âm. Thí dụ năm Giáp Tý: chữ Giáp được mười một, chữ Tý được bảy, cả cặp Giáp Tý thuộc Kim được mười ba. Cộng lại được ba mươi mốt.
Thử với một người sinh năm Giáp Tuất, tháng Tân Mùi, ngày Giáp Tý, giờ Bính Dần. Năm Giáp Tuất: Giáp mười một, Tuất mười lăm, nạp âm Giáp Tuất thuộc Hỏa chín, cộng được ba mươi lăm. Tháng Tân Mùi: Tân mười ba, Mùi mười lăm, nạp âm Tân Mùi thuộc Thổ mười lăm, cộng được bốn mươi ba. Ngày Giáp Tý: được ba mươi mốt như vừa tính. Giờ Bính Dần: Bính chín, Dần mười một, nạp âm Bính Dần thuộc Hỏa chín, cộng được hai mươi chín. Số ngày và giờ là ba mươi mốt cộng hai mươi chín, được sáu mươi. Tổng số bốn trụ là ba mươi lăm, bốn mươi ba, ba mươi mốt, hai mươi chín, cộng lại một trăm ba mươi tám. Những con số ấy được ghi ngay đầu lá số Thái Ất của người ấy. Sáu mươi năm, sáu mươi ngày, mười hai tháng, sáu mươi giờ đều cứ dựa vào hai bảng nạp giáp và nạp âm mà tìm ra số riêng.
Tổng số bốn trụ dùng vào việc gì
Con số một trăm ba mươi tám vừa tính chưa phải là điểm dừng. Người xưa cộng thêm số năm mươi lăm của Trời Đất, được một trăm chín mươi ba, rồi đem trừ dần theo vòng sáu mươi bốn quẻ. Số dư một cho biết người ấy vào quẻ thứ nhất là Kiền, quẻ dựng nghiệp của đời người. Cũng bằng con số ngày và giờ, ba mươi mốt cộng hai mươi chín bằng sáu mươi, thêm năm mươi lăm rồi trừ sáu mươi, người ta còn tìm ra số hạn chịu khí để tìm ngày chịu khí và khởi hạn một trăm lẻ sáu. Vì thế, bốn con số riêng lẻ của năm, tháng, ngày, giờ không phải con số chết: chúng là nguyên liệu cho cả quẻ lẫn hạn.
Bốn trụ và vị trí của can ngày
Năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh đều mang can và chi, gọi là tứ trụ: can tuế và chi tuế, can lệnh và chi lệnh, can nhật và chi nhật, can thần và chi thần. Điều này rất cần khi đoán vận số của khoa Thái Ất. Với phép Thái Ất kể ngày thì can của ngày đứng hàng đầu, là chủ chốt.
Số ngày tích: đếm từ Giáp Tý sau Đông chí
Thái Ất kể ngày không dùng khối âm. Số ngày tích được tính từ ngày Giáp Tý đầu tiên sau tiết Đông chí của năm trước cho đến ngày sinh, đếm cả ngày Giáp Tý là một. Số ngày tích ấy coi như số kỷ dư của vòng Thái Ất, và từ đó tính ra cục. Số tích này còn dùng để tính các sao chính.
Cách đếm là lấy chính ngày Giáp Tý làm ngày số một, ngày Ất Sửu kế tiếp là số hai, cứ thế đi tới ngày sinh. Mỗi ngày sinh vì vậy khớp với một số thứ tự trong vòng sáu mươi hoa giáp: ngày Đinh Mùi là số bốn mươi bốn, ngày Quý Tỵ là số ba mươi, ngày Tân Hợi là số bốn mươi tám. Nhờ khớp như thế mà người tính có chỗ để tự kiểm tra, vì số ngày tích đem chia cho sáu mươi phải dư đúng số thứ tự của can chi ngày sinh.
Trường hợp thứ nhất, một người sinh ngày hai mươi bốn tháng chạp năm Canh Thân, tức ngày Đinh Mùi tháng Kỷ Sửu. Đông chí năm trước rơi vào ngày Quý Hợi, hai mươi hai tháng mười hai năm 1979. Ngày Giáp Tý đầu tiên sau đó là ngày hai mươi ba tháng mười hai năm 1979 dương lịch, tức năm Kỷ Mùi. Từ ngày ấy đếm đến ngày sinh, hai mươi chín tháng giêng năm 1981, được bốn trăm lẻ bốn số ngày tích.
Trường hợp thứ hai, người sinh ngày mồng ba tháng tư năm Nhâm Dần, tức ngày Quý Tỵ, ngày mười tháng năm năm 1902 dương lịch. Ngày Giáp Tý đầu tiên sau Đông chí là mồng ba tháng giêng năm ấy, ngày mười tháng hai năm 1902. Từ ngày ấy đến ngày sinh được chín mươi số ngày tích.
Trường hợp thứ ba, người sinh ngày hai mươi hai tháng tư năm 1966, ngày Tân Hợi, tháng Nhâm Thìn, năm Bính Ngọ, năm nhuận tháng ba. Ngày Giáp Tý đầu tiên sau Đông chí là ngày năm tháng giêng năm 1966. Từ đó đến ngày sinh được một trăm lẻ tám số ngày tích. Các trường hợp khác cứ dựa theo lịch mà toán ra số ngày tích. Phải hết sức cẩn thận vì rất dễ sai lạc, và nếu số tính sai thì vào cục cũng sẽ sai.
Chỉ cần lệch một ngày là cục đổi sang ngày kề bên. Ở trường hợp thứ nhất, nếu đếm thiếu một ngày thì số tích là bốn trăm lẻ ba, dư bốn mươi ba, rơi vào cục Bính Ngọ. Nếu đếm thừa một ngày thì số tích là bốn trăm lẻ năm, dư bốn mươi lăm, rơi vào cục Mậu Thân. Cả hai đều không khớp với ngày Đinh Mùi trong lá số, và đó chính là tín hiệu để người tính quay lại đếm lại từng ngày.
Vào cục và vào nguyên
Lấy số ngày tích đã tính, từ ngày Giáp Tý đầu tiên sau Đông chí năm trước đến ngày sinh, đem chia cho bảy mươi hai. Thương số cho biết số nguyên một, hai, ba, bốn, năm đã đi qua. Số dư chính là số cục.
- Trường hợp thứ nhất có bốn trăm lẻ bốn ngày tích. Chia cho bảy mươi hai được năm, dư bốn mươi bốn. Số năm cho biết đã qua trọn năm nguyên, tức một vòng ba trăm sáu mươi. Số dư bốn mươi bốn là vào cục bốn mươi bốn, ngày Đinh Mùi, ở nguyên đầu của vòng mới. Khi mở bảng lập thành bảy mươi hai khối dương ra đối chiếu, cục bốn mươi bốn đúng là Đinh Mùi. Nếu không thấy khít thì phải coi lại phép đếm ngày tích hoặc phép giải, xem lỗi nằm ở chỗ nào.
- Trường hợp thứ hai có chín mươi ngày tích. Chia cho bảy mươi hai được một, dư mười tám. Số một là đã qua một nguyên, số dư mười tám là cục mười tám. Vậy Thái Ất vào cục mười tám, ở nguyên thứ hai, ngày Quý Tỵ cục chín mươi. Khi đối chiếu bảng lập thành, cục mười tám của nguyên đầu thuộc năm Tân Tỵ, và nguyên hai, cục chín mươi, thuộc năm Quý Tỵ. Như thế là ăn khít.
- Trường hợp thứ ba có một trăm lẻ tám ngày tích. Chia cho bảy mươi hai được một, dư ba mươi sáu. Vậy vào cục ba mươi sáu, Kỷ Hợi, ở nguyên hai. Còn vào cục một trăm lẻ tám thì ứng Tân Hợi.
Khác với phép Kể năm, nơi vòng ba trăm sáu mươi gồm năm nguyên, mỗi nguyên bảy mươi hai cục, được dùng để bỏ dần các vòng đã quay xong, phép Kể ngày lấy thẳng số ngày tích làm số kỷ dư rồi chia cho bảy mươi hai. Vì vậy một số ngày tích lớn hơn ba trăm sáu mươi sẽ mang theo một hoặc nhiều vòng trọn, và chỉ phần dư mới quyết định cục.
Bảng lập thành lấy năm làm đơn vị, nên khi mượn nó để so với Thái Ất kể ngày, số ngày quá dư của vòng ba trăm sáu mươi phải được xếp vào nguyên đầu cho hợp lý.
Tóm lại, việc đưa một con người vào bàn Thái Ất gồm ba nấc nối tiếp nhau. Nấc thứ nhất là đổi bốn mốc sinh thành bốn con số bằng hai bảng nạp giáp và nạp âm. Nấc thứ hai là đếm đúng số ngày từ Giáp Tý sau Đông chí đến ngày sinh. Nấc thứ ba là chia số ngày ấy cho bảy mươi hai để biết nguyên và cục. Nấc nào cũng phải khớp với bảng lập thành bảy mươi hai khối thì mới được coi là đúng.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
