Bài tổng quan
Quẻ chứng khoán: hào Tài, hào Thế và các mốc ứng kỳ
Hai người cùng nhìn một mã cổ phiếu, một người đã vào lệnh, một người đứng ngoài, và quẻ cho họ hai câu trả lời hoàn toàn khác. Vì sao hào Thế lúc cần xem, lúc lại phải bỏ qua…
Mục lục · 6 phần
Chơi với chứng khoán thực chất là chơi với hào Tài
Cuộc chơi của Dịch với thị trường chứng khoán, về bản chất, không ngoài chuyện chơi với hào Tài. Đây là chơi với tiền, không đùa được: nếu sẩy chân có thể mất tất cả, nên mọi thứ phải hết sức cẩn trọng. Tài vượng hay suy biểu thị cách kiếm tiền trong thị trường này.
Chứng khoán chia làm hai loại: chứng khoán cơ sở và chứng khoán phái sinh.
Với chứng khoán cơ sở, tức các mã giao dịch trong thị trường chứng khoán, chỉ có xu hướng tăng mới sinh lời tại thời điểm hiện tại. Dễ hiểu là nếu hiện nay mã A có giá x trên mỗi cổ phiếu, ta mua mã A ở thời điểm hiện tại, đến thời điểm B trong tương lai, nếu x tăng thì lời, tiền vào; nếu x giảm thì lỗ. Chứng khoán cơ sở không tính tăng giảm theo giờ, vì phải sau hai ngày làm việc mới được bán. Ví dụ mua vào thứ Hai thì thứ Năm mới bán được, không có chuyện mua bán trong ngày.
Với chứng khoán phái sinh, người chơi đều có thể sinh lời nếu dự đoán đúng xu hướng thị trường. Chẳng hạn với chỉ số VN-Index, nếu ta đặt lệnh bán ở thời điểm hiện tại, tương lai giảm thì ta thu lợi theo số lượng đã vào lệnh, còn nếu tăng thì ta mất tiền. Tăng nhiều hay ít, giảm nhiều hay ít, đều mất hoặc có một số tiền tương đương. Phái sinh có nhiều thị trường ngoài VN-Index; Mỹ chẳng hạn có NASDAQ. Có thể bán ngay khi muốn, kể cả sau khi vào lệnh. Lưu ý thị trường chứng khoán mỗi ngày chỉ chạy trong ba khung giờ Tị, Ngọ, Mùi.
Hào Tài luôn bám theo mong muốn của người hỏi
Cùng một mã cổ phiếu, người đã vào lệnh và người chưa vào lệnh hỏi hai câu hoàn toàn khác nhau.
Hào Tài luôn đi theo một nguyên lý: mong muốn của người hỏi. Biên độ, không gian hay quy mô thời gian đều nằm ở đây, chứ không đơn giản là Vượng Suy mà biết lời hay lỗ. Nếu mong muốn là sinh lời 10 đồng, mà giá tăng 9 đồng rồi giảm, thì thời điểm tăng 9 đồng vẫn tính là lỗ. Vì vậy cách đặt câu hỏi cực kỳ quan trọng: nếu đặt câu hỏi sai và xem sai thì đừng mong gì.
Trước khi xem phải hiểu rõ mình đang làm gì. Có ba kiểu người hỏi.
Người đã vào lệnh với chứng khoán cơ sở
Khi tiền đã nằm trong thị trường, người hỏi không còn đứng ngoài câu chuyện.
Với người đã chơi, câu hỏi xoay quanh mã đã vào: có lợi không, tức có tăng không, và nếu tăng thì tăng vào thời điểm nào. Lúc này xem cả hào Tài và hào Thế. Tài vượng tức là sẽ tăng, và thời điểm ứng kỳ của hào Tài là thời điểm chốt lời tốt nhất. Hào Thế biểu thị bản thân người hỏi trong suốt quá trình tăng giảm.
Nếu Thế vượng mà được Tài sinh, đó là thế chờ tiền về. Nếu Thế vượng mà sinh Tài, là chờ đợi từng giây từng phút. Nếu Thế bị Tài khắc, thì số tiền ấy có lẽ không phải tiền nhàn rỗi, nên lúc nào cũng áp lực, lo canh cánh. Các trường hợp khác cứ thế suy ra. Nếu Tài động khắc Thế, thì tuy lời nhưng bản thân gặp họa liên quan. Không nhất thiết họa ấy trực tiếp đến từ tiền; đơn giản có thể thấy lời nhiều quá, vui quá mà lên máu rồi chết. Trường hợp này phải chuẩn bị trước, hoặc rút ra luôn để giữ mạng; từ đó các trường hợp khác có thể tự suy.
Cần nhớ rằng ứng kỳ của Tài chính là thời điểm chốt lời tốt nhất, nhưng bản thân người hỏi cũng phải có sự đánh giá riêng: mình đang tính theo ngày hay theo tháng, theo năm. Đó là điểm cốt lõi.
Với Tài Hưu, lấy thời điểm Trường sinh làm thời điểm chốt. Tất nhiên tính theo tháng là ít nhất. Nguyên tắc là Hưu thì chờ Trường sinh, gần thì suy, xa thì vượng.
Với Tài Suy, Vô căn, rút ngay thì sống. Nhưng nếu bản thân đã bị giảm sâu, thì phải gieo lại một quẻ mới để hỏi rằng rút khi nào thì có lợi nhất, tức ít lỗ nhất. Lúc đó chỉ cần xem ứng kỳ của hào Tài, chứ không xét vượng suy. Với quẻ mới này, ngay cả khi Tài Vô căn vẫn lấy ứng kỳ của Tài.
Người đã vào cuộc thì thành bị động, và vì thế khó hơn. Bởi Dịch nên dùng trước khi lựa chọn. Lựa chọn rồi thì chỉ còn sửa, không còn được chọn vô tư.
Người chưa chơi và người chỉ muốn biết lên xuống
Nếu chưa bỏ tiền ra thì mọi thứ còn rộng đường.
Với người chưa chơi thì dễ hơn nhiều. Cứ gieo từng quẻ cho từng mã. Mã nào có Tài vượng thì là mã vào được tiền, rồi lấy ứng kỳ để chọn thời điểm chốt lời, đừng lo.
Còn trường hợp Tài vượng mà Thế khắc Tài thì sao? Việc ấy không ngoài chuyện cổ phiếu tăng nhưng đến lúc tăng ta không đợi được. Ví dụ vay tiền để chơi, đến lúc tăng thì bản thân đã chết trong tiền lãi. Hoặc đơn giản trước thời điểm tăng, đã rút hết toàn bộ tiền cho việc khác cần kíp hơn. Đó là bi kịch: biết có lợi nhưng không chờ nổi.
Với người chỉ đơn giản muốn biết thị trường lên xuống thì không xem Thế, chỉ xem Tài mà biết. Tài vượng thì lên, Tài suy thì xuống. Thời điểm đỉnh lên hay xuống chính là thời điểm ứng kỳ của Tài.
Chứng khoán phái sinh: cũng chia theo từng kiểu người hỏi
Ở thị trường này, Tài vượng không còn đồng nghĩa với giá tăng.
Với người đã vào lệnh phái sinh, lời hay lỗ phụ thuộc vào hào Tài, chứ không phải Tài vượng thì giá tăng. Giả sử đã vào lệnh bán thì Tài vượng chính là dự đoán đúng, tức thị trường được nhắm tới sẽ giảm và người hỏi chốt lời. Phần còn lại giống như trên. Về ứng kỳ, nếu ứng kỳ của câu hỏi rơi vào ba mốc Tị, Ngọ, Mùi thì chính khung giờ đó là thời điểm chốt lời; nếu ngoài ba khung ấy thì sẽ tính theo ngày, tháng hoặc năm.
Với người chưa vào lệnh, chia làm hai dạng. Dạng một: đã có phân tích từ trước, khi đó Tài vượng suy đại diện cho việc dự đoán của mình đúng hay sai; Vượng là đúng, Suy là sai. Ứng kỳ như trên. Dạng hai: chưa phân tích, khi đó Tài vượng là tăng, suy là giảm, ứng kỳ như trên. Lưu ý với hai dạng này vẫn cần xem hào Thế.
Với người không chơi, khi đó Tài vượng suy của từng mã báo hiệu lên hay xuống với ứng kỳ như trên, nhưng lưu ý không xem hào Thế.
Bảng mốc ứng kỳ theo trạng thái hào
Với Dụng thần đặt ở Mão Mộc, mỗi trạng thái của hào chỉ ra một nhóm mốc khác nhau.
Mọi trường hợp về chứng khoán đều căn cứ vào các mốc ứng kỳ sau. Lưu ý rằng Tuần không được tính là đổi chu kỳ, và Tài hình cũng vậy. Các ví dụ dưới đây lấy Dụng thần là hào Mão Mộc.
Hào tĩnh: ứng kỳ tại xung và trực, bất kể vượng suy. Mão Mộc tĩnh thì ứng kỳ lúc Dần, Mão, Dậu.
Hào động: ứng kỳ tại trực và hợp, bất kể vượng suy. Mão Mộc động thì ứng kỳ lúc Dần, Mão, Tuất.
Hào Hưu: với việc gần, ứng kỳ giống như tĩnh hoặc động mà hỏng; với việc xa, ứng kỳ vào Trường sinh, Đế vượng mà thành. Ví dụ hào Mão Mộc hưu, việc gần: nếu tĩnh thì ứng kỳ Dần, Mão, Dậu; nếu động thì ứng kỳ Dần, Mão, Tuất mà hỏng. Việc xa thì ứng kỳ Hợi, Mão mà thành.
Hào Tuần không: ứng kỳ lúc trực xung. Mão Tuần không thì với việc tính theo tháng hoặc năm ứng kỳ Mão, Dậu; với việc tính theo ngày ứng kỳ Dần, Mão, Dậu. Với nhân sự, Dụng thần Mão Mộc Tuần không thì ứng lúc trực xung mà việc đảo ngược.
Hỏi trộm: hào Hưu hay Suy thì bắt được ở Mộ, Tuyệt; hào vượng thì bắt được ở các mốc như hào tĩnh hay động. Ví dụ hào Mão Mộc Hưu hay Suy thì bắt được lúc Mùi, Thân; nếu vượng thì tĩnh ứng Dần, Mão, Dậu, động ứng Dần, Mão, Tuất.
Hỏi việc con cái, Tử biến thành Quan: lấy ứng kỳ tại Quan quỷ để biết con nguy hiểm. Ví dụ Tử tôn Mão Mộc hóa Quan quỷ Thìn Thổ thì thời điểm nguy hiểm là Thìn Thổ.
Hào Không hóa Mộ: ứng kỳ lúc xung Không. Ví dụ Mão Mộc Tuần không động hóa Mùi, hoặc xem vào ngày Mùi, hay hào Mùi động, thì ứng kỳ Dậu.
Hào Phá hóa Tuyệt, hào động sinh: ứng kỳ thành lúc trực và hợp với hào Phá. Ví dụ Dậu Kim Nguyệt phá hóa Dần, Mùi Thổ động, ứng kỳ thành lúc Thìn, Dậu.
Hào hóa khắc mà không bị Không hay Phá: ứng kỳ lúc Kỵ của hào. Ví dụ Mão Mộc hóa Thân Kim, ứng kỳ Thân Kim mà hỏng.
Hào hóa khắc mà hào hóa hay Kỵ bị Không hay Phá: ứng kỳ lúc Không hay Phá ấy. Ví dụ Mão Mộc Không động hóa Thân thì ứng kỳ Mão, Dậu với Không, Mão, Tuất với Phá; hào biến cũng tương tự.
Tiết thần động: ứng kỳ lúc trực xung Dụng thần. Ví dụ Mão Mộc là Dụng thần, Tị Hỏa động, ứng kỳ Dần, Mão, Dậu nếu tĩnh, Dần, Mão, Tuất nếu động.
Cừu thần động: ứng kỳ lúc trực xung Dụng thần. Ví dụ Mão Mộc là Dụng thần, Thìn Thổ động, ứng kỳ Dần, Mão, Dậu khi tĩnh, Dần, Mão, Tuất khi động.
Nguyên thần động: ứng kỳ lúc trực xung Dụng thần. Nếu Nguyên thần động lại Không hay Phá thì ứng kỳ lúc thực Không hay Phá.
Kỵ thần động: ứng kỳ tại Kỵ thần. Ví dụ Mão Mộc là Dụng thần, Thân Kim động, ứng kỳ lúc Tị, Thân, Dậu.
Thế Tuần không: ứng kỳ lúc xung và trực Thế. Ví dụ Mão Mộc là Thế Tuần không, Dụng thần là Hỏa, ứng kỳ Mão, Dậu với năm, tháng; Dần, Mão, Dậu với ngày.
Hào âm động: ứng kỳ trong ngày; hỏi việc xa thì ứng kỳ lúc trực và hợp. Ví dụ ngày Thìn, hào Tuất Thổ âm động, ứng kỳ trong ngày với việc gần, Mão, Tuất với việc xa.
Hào động vượng, hào biến khắc mà suy: ứng kỳ xa, đến tận hào biến. Ví dụ ngày Dần, hào Dần Mộc hóa Dậu Kim, ứng kỳ tháng Dậu mà hỏng.
Quẻ Xung hóa Xung, Hợp hóa Hợp: ứng kỳ lúc tĩnh hay động của Dụng thần. Ví dụ quẻ Lục xung hóa Lục hợp hay ngược lại, hào Mão Mộc là Dụng thần, ứng kỳ của Mão Mộc là lúc Thành và Hợi.
Phục ngâm: ứng kỳ xung hào Phục. Ví dụ quẻ Phục ngâm, Dần động, Thìn động, ứng kỳ Thân và Thìn bị khắc.
Phản ngâm: ứng kỳ hợp hào Phản. Ví dụ quẻ Phản ngâm, Dậu hóa Mão, ứng kỳ Thìn, Dậu.
Hào Không-Phá: ứng kỳ như hào Không.
Kỵ thần động mà yếu hơn Dụng thần: ứng kỳ lúc xung Kỵ thần. Ví dụ ngày Mão tháng Dần, Dụng thần Ngọ Hỏa, hào Hợi động, ứng kỳ lúc Tị xung Hợi mà việc thành.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
