Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Phi thần và Phục thần: Dụng thần ẩn dưới một hào khác

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Phi thần và Phục thần: Dụng thần ẩn dưới một hào khác

Hỏi chuyện tiền bạc mà tìm mãi trong quẻ không thấy một hào Thê tài nào, chẳng lẽ việc ấy đành bỏ? Hóa ra hào cần tìm vẫn đang nằm im dưới một hào khác, và hào đứng trên nó có thể che chở, cũng có thể đè nén. Điều đáng hỏi là nó sẽ trồi lên vào lúc nào…


Khi dụng thần không có mặt trong quẻ

Có những quẻ hỏi về tiền mà nhìn từ hào đầu đến hào cuối không thấy một hào Thê tài nào. Có quẻ hỏi về cha mẹ mà hào Phụ mẫu vắng bóng. Trong Lục hào, hào cần dùng để đoán việc ấy gọi là dụng thần, và dụng thần có thể không hiện ra ở quẻ gốc. Khi đó người xem không bỏ cuộc mà đi tìm nó ở một nơi khác: quẻ thuần của chính cung quẻ ấy.

Mỗi quẻ thuộc về một trong tám cung, và đứng đầu mỗi cung là quẻ thuần, quẻ có đủ sáu hào cùng mang một nguyên khí. Muốn biết dụng thần đang trốn ở đâu, ta mở quẻ thuần của cung, tìm hào mang đúng lục thân cần dùng, rồi đối chiếu vị trí. Hào ấy ở vị trí nào thì hào cùng vị trí trong quẻ đang xem chính là chỗ nó nấp. Hào nằm trên, lộ ra ngoài, gọi là Phi thần. Hào nằm khuất bên dưới, chưa hiện, gọi là Phục thần.

Lấy quẻ Thiên Phong Cấu làm ví dụ. Quẻ này là quẻ thứ hai của cung Càn, từ trên xuống gồm Phụ mẫu Tuất thổ, Huynh đệ Thân kim, Quan quỷ Ngọ hỏa ở hào ứng, Huynh đệ Dậu kim, Tử tôn Hợi thủy và Phụ mẫu Sửu thổ ở hào thế. Nếu việc hỏi cần hào Thê tài, ta nhìn khắp quẻ mà không thấy. Sang quẻ Càn thuần, Thê tài nằm ở hào hai và mang chi Dần mộc. Hào hai của quẻ Cấu đang là Tử tôn Hợi thủy. Vậy Hợi thủy là Phi thần, còn Thê tài Dần mộc là Phục thần ẩn bên dưới nó, và ta ghi thêm vào quẻ như một hào nằm sát cạnh hào hai.

Cách ghi hào ẩn khi nhật nguyệt cùng hành

Trước khi lục tìm trong quẻ thuần, có một cửa dễ đi hơn mà nhiều người bỏ qua: nhìn thẳng vào ngày và tháng đang hỏi.

Nếu ngày hoặc tháng xem quẻ có cùng ngũ hành với dụng thần đang thiếu, thì ta lấy luôn ngày hoặc tháng ấy làm dụng thần, không cần đi tìm Phục thần nữa. Cũng ví dụ quẻ Cấu hỏi về tiền, nhưng xem vào ngày Mão. Mão thuộc mộc, đúng hành của Thê tài Dần mộc. Khi ấy Mão mộc của ngày chính là dụng thần, ta ghi Thê tài Mão mộc bên cạnh hào hai, giữ nguyên hành và chi của ngày. Nếu muốn đặt dụng thần dưới hào Sửu thổ ở hào thế thì cũng ghi theo cách đó: Thê tài mang chi và hành của ngày.

Điều cần nhớ ở đây rất quan trọng: dụng thần lấy từ nhật nguyệt như vậy không có lục thân riêng theo vị trí nó đang đứng. Ta không mang hào Tử tôn Hợi thủy bên dưới ra làm phép so sánh để gán cho nó thân phận khác. Nó chỉ là Thê tài mang hành của ngày, và từ đó trở đi nó chịu mọi tác động của nhật, nguyệt còn lại cùng các hào động như một hào bình thường. Nó có thể rơi vào Tuần không, có thể bị Nguyệt xung, có thể bị hợp trói lại. Cái khác duy nhất là nó chưa có lục thân của ngôi vị mà nó trú ngụ.

Từ đó rút ra thứ tự ưu tiên khi dụng thần không hiện. Bước đầu là xem nhật nguyệt có cùng hành với dụng thần hay không. Nếu có, dùng ngay nhật nguyệt. Nếu không thành, mới xét đến cặp Phi thần – Phục thần trong quẻ thuần của cung.

Phi thần chỉ kìm chế, không khắc hẳn được Phục thần

Chuyện đáng bàn nhất của hào ẩn là nó chịu sức ép của hào phía trên theo một kiểu rất riêng.

Giữa hai hào cùng đứng trong quẻ, khi một hào động tác động lên hào khác thì đó là sự tác động tuyệt đối: hai hào ngang hàng nhau, khắc là khắc, sinh là sinh, và hào bị khắc phải đủ sức ngang cấp mới thoát được. Với cặp Phi – Phục thì khác. Phục thần chỉ ở trong trạng thái chờ, nên sức ép của Phi thần lên nó mềm hơn nhiều. Nếu Phi thần khắc dụng thần, và cả hai đều vượng, Phi chỉ có thể kìm giữ dụng thần lại chứ không thể diệt nó. Đến lúc có thứ xung phá Phi thần, dụng thần được thả ra và sẽ lên mặt. Đó là điểm khác nhau giữa chuyện Phục thần bị Phi thần ghìm lại và chuyện dụng thần bị hào động khắc hẳn.

Điều này cho ta một cách nhìn thời gian rất tự nhiên. Việc đang hỏi không hỏng ngay cả khi Phi khắc Phục, miễn Phục đủ vượng, mà phải chờ tới ngày xung mất Phi thần thì mới thành. Trước lúc ấy, sự việc đi kèm vướng víu, cản trở, và mức vướng víu cũng giống tính chất của chính hào ngăn đó.

Năm kiểu quan hệ giữa hào trên và hào ẩn

Hai hào chồng lên nhau chỉ có thể sinh, khắc hoặc tiết lẫn nhau. Mỗi cách cho ra một câu chuyện khác.

Kiểu thứ nhất, Phục gặp Tuần không. Dụng thần đã ẩn mà còn Tuần không thì hầu như chắc chắn hỏng. Chỉ có một ngoại lệ là khi Phục vượng mà Phi thần bị xung hoặc rơi vào mộ tuyệt. Lúc đó Phục tuy Không nhưng không bị ai chặn nên trồi lên, xem như một hào thường trong quẻ. Còn nếu Phi sinh thêm cho Phục đang Không, sự giúp ấy chẳng có tác dụng gì.

Kiểu thứ hai, Phi khắc Phục. Phục suy thì coi như bị gạt đi, mất hẳn. Phục vượng thì chờ lúc xung mất Phi để thành, nhưng trước khi thành, sự việc luôn bị cản trở. Đặc điểm của điều cản ấy chính là hành của hào Phi.

Kiểu thứ ba, Phi sinh Phục. Nếu Phục không vô căn thì rất tốt, được hào trên nuôi dưỡng. Nhưng phải xem Phục có vướng quan hệ nào khác không. Ví dụ Phục ở hành Kim mà vô tình lại nhập mộ ngay tại hào Phi, thì sự nuôi dưỡng ấy lại thành bẫy.

Kiểu thứ tư, Phục sinh Phi. Đây là trường hợp dụng thần bị tiết khí cho hào trên. Nếu Phục đang vượng thì chưa sao, chờ tới lúc xung Phi. Nhưng nếu Phi không bị tổn thương, sự việc dù thành thì cũng đi kèm hao hụt, mất mát nào đó.

Kiểu thứ năm, Phục khắc Phi. Giống như quan hệ giữa hào biến và hào động, ở đây chỉ có Phi tác động xuống Phục, không có chiều ngược lại. Cho nên Phục khắc Phi vẫn cứ phải chờ lúc xung Phi, miễn Phi chưa bị tổn thương.

Những lúc hào trên bị vô hiệu, hào ẩn thoát ra

Hào Phi chỉ ghìm được hào ẩn khi chính nó còn đứng vững. Một khi nó mất sức, dụng thần dưới nó tự do.

Phi thần đang có mặt nhưng vẫn không còn khả năng cản hoặc kìm chế Phục thần trong các hoàn cảnh sau:

  • Phi đang ở trạng thái hưu tù và bị khắc;
  • Phi nhập mộ;
  • Phi suy lại gặp tuyệt;
  • Phi rơi vào Tuần không;
  • Phi bị Nguyệt phá;
  • Phi bị ngày xung, tức đã âm động mà mất đi vai trò hào Phi, lúc này quẻ chỉ còn xem như có thêm một hào âm động, còn Phục thần đã hiện;
  • hào biến xung Phi.

Ngược lại, dụng thần ẩn dưới cũng có những tình huống tự nó hết dùng được: Phục gặp Tuần không; Phục nhập mộ hai lần, một lần tại ngày và một lần tại Phi thần; Phục suy lại bị tiết khí, hoặc rơi vào mộ hay tuyệt tại Phi; Phục cùng Phi thần với ngày tháng hay hào động tạo thành tam hình; Phục suy lại còn bị Phi thần làm tổn thương.

Gom tất cả thành một câu cho dễ nhớ: muốn Phi thần ảnh hưởng được đến Phục thần thì bản thân Phi thần phải còn tồn tại. Về bản chất, Phi thần phải ở mức từ Hưu trở lên. Về trạng thái, nó không được Không, hóa Không, Nguyệt phá hay hóa Nguyệt phá, không được hưu mà hóa Tuyệt hay nhập Mộ, không hóa khắc và không bị tam hình làm hại.

Còn chuyện hào Phục chịu tác động từ Phi thì chỉ ở các mặt cụ thể: bản chất, như được sinh, bị khắc hay bị tiết; và trạng thái, như trường sinh, mộ, tuyệt, hợp, hình do Phi thần mang lại. Trong mọi trường hợp, chừng nào Phi thần còn nguyên đó, Phục thần dù Tuần không mà không được ngày xung thì cũng đồng nghĩa với việc hỏng.

Khi hào Phi động ngầm, Phục thần lộ diện

Có những quẻ trong đó hào đứng phía trên đã bị ngày đánh bật khỏi chỗ đứng, và cái nó từng che phủ hiện nguyên hình.

Nếu Phi thần ở trạng thái âm động, Phục thần lập tức hiện ra, vì Phi thần đã bị ngày xung. Tuy vậy, hào Phi âm động ấy vẫn tác động lên Phục thần theo cách của một hào động bình thường, chứ không còn theo tính chất của một Phi thần nữa.

Xét một quẻ xem vào ngày Thân, tháng Mão: Trạch Thiên Quải. Lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Trong quẻ này Phụ mẫu Tỵ hỏa nằm ẩn dưới hào Quan quỷ Dần mộc. Hào Phi Quan quỷ bị ngày Thân xung nên Phục thần hiện ra. Lúc đó Phục thần không còn phải quy chiếu trạng thái với Phi thần theo quan hệ Hình, thế nhưng hào Phi Quan quỷ này không mất đi mà chỉ âm động, và vẫn còn đủ cả ba chi Dần, Tỵ, Thân hợp thành tam hình cùng ngày. Hào Phụ mẫu Tỵ hỏa tuy được hào động và tháng sinh, ngày hợp, độ vượng rất cao, nhưng vẫn bị tam hình đánh hỏng.

Ta cũng chú ý một điều khác: khi dụng thần là hào Phục đã hiện ra, ta vẫn cứ xét hào Phục ấy âm động và tác động sang các hào còn lại như một hào âm động bình thường. Đó là trường hợp duy nhất mà ta đi tìm Phục thần chỉ để lấy quy chiếu, và chỉ trong trường hợp ấy mới tính như vậy.

Điều cần giữ khi đọc quẻ có hào ẩn

Một quẻ có hào ẩn thường là quẻ của việc chưa lộ mặt, nên chuyện thời điểm lên tiếng quan trọng hơn hết.

Hãy hình dung hào ẩn như một người đang đứng sau cánh cửa, và Phi thần chính là người gác cửa. Người ấy có thật, nhưng ra khỏi cửa được hay không còn tùy cánh cửa đang đóng, mở hay đang bị ai đập vỡ. Cho nên với hào ẩn, thời điểm ứng nghiệm thường nằm ở ngày xung Phi thần, chứ không ở bản thân hào ẩn. Việc Phục thần mạnh hay yếu chỉ cho biết khi ra khỏi cửa nó có đủ sức làm nên chuyện hay không.

Từ các điểm trên, thứ tự đọc một quẻ có hào ẩn có thể gói vào bốn bước. Một, xác định dụng thần và kiểm tra xem nhật nguyệt có cùng hành với nó không. Hai, nếu không, tìm Phục thần qua quẻ thuần của cung và xác định hào Phi thần đang đứng trên đầu nó. Ba, xét Phi thần còn đủ sức ghìm không, và xét Phục thần còn dùng được không. Bốn, xác định ngày xung Phi thần để biết lúc việc mở ra.

Ghi nhớ thêm rằng hào ẩn không tham gia tạo cục. Phục thần vẫn chỉ được tính là hào tĩnh, và hào tĩnh thì không dự phần vào sự tương tác để cấu thành cục. Vì vậy, khi nhìn thấy Phi thần hợp thành tam hợp với những hào khác, ta không vội nói rằng Phục thần cũng nằm trong cuộc. Hào ẩn chỉ chịu tác động, chứ không làm tác nhân.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán