Bài tổng quan
Lý Tàng Tượng Trong Lục Hào: Tượng Của Phục Ngâm
Một cụ ông tám mươi sáu tuổi nhờ xem vận trong năm. Quẻ nội phục ngâm, cái tượng động mà không sao biến nổi, lắc lư nửa ngày rồi trở về đúng chỗ cũ, nên người đoán nói ngay là năm nay có tai nạn, phải nằm liệt giường đau đớn: đùi sinh bệnh, dạ dày sinh bệnh, trong bụng bí bách kéo không ra, chính là táo bón. Nhưng hào Thế vẫn được ngày tháng nâng đỡ, nên tính mệnh không nguy, sống thêm mấy năm vẫn được. Quả nhiên tháng Tị cụ sưng chân, nằm một tháng liền. Cái động mà không đi tới đâu ấy, đặt vào công danh và thi cử thì thành ra chuyện gì?
Mục lục · 1 phần
Tượng của Phục ngâm
Cái gì gọi là phục ngâm? Một hào phát động, hóa xuất hào biến giống hào động, động mà không thấy biến hóa như là máy copy, gọi là phục ngâm. Tỷ như Tuất thổ phát động biến thành Tuất thổ, đây chính là phục ngâm. Phát động đơn giản là cầu cải biến, nhưng động lại không có hiệu quả biến hóa, lắc lư nửa ngày lại trở lại điểm xuất phát, uổng phí tâm cơ tốn công vô ích, vì vậy mà rên rỉ. Cho nên phục ngâm cũng không phải là tín hiệu cát tường, ám chỉ hiện thực chính là tượng rên rỉ, ai oán, kêu khổ, không yên. Hào chủ sự gặp phục ngâm, xem công danh thì hoạn lộ ai oán; mưu tài lợi thì tiến thối lưỡng nan; xem hôn nhân không yên; cầu y dược đồ cực khổ; hỏi người đi đường ở bên ngoài ưu sầu.
Phục ngâm cũng đa phần chủ không tốt. Biểu thị sự vật trì trệ không tiến, con người nội tâm thống khổ, việc làm tiến triển chậm chạp, cát hung lấy Dụng thần suy vượng làm chủ, phục ngâm chỉ là phụ họa Dụng thần để đoán.
Phục ngâm dùng cho xem bệnh, nhiều chủ bệnh nhân nằm trên giường thống khổ, trong bụng khó chịu, rên rỉ không ngừng, ổ bệnh chuyển di, nội bộ biến hóa, đau nhức, có nỗi khổ không nói được, chữa bệnh ở nhà, tâm lý ngột ngạt, sầu não uất ức.
Ngoài ra, phục ngâm còn chủ dậm chân tại chỗ, khó tiến lên, nội bộ biến động, nói một mình, mê sảng, nói chuyện hoang đường, dài dòng, cà lăm, khóc lóc nỉ non, bi thương, đau lòng, tự trách. Ở đây liệt kê đại khái còn cần căn cứ quẻ tượng để phán đoán chính xác.
Ví dụ 1
Ngày Kỷ Sửu tháng Dậu, một người phụ nữ đến xem vận được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu biến Thiên Lôi Vô Vọng.
Đầu tiên xem tài vận, bên trong quẻ Thê tài Dần mộc bị Nguyệt kiến khắc thương, hưu tù vô khí, tài vận không tốt. Hôn nhân xem Quan quỷ, Quan quỷ Tị hỏa hưu tù lâm Câu Trần, chồng lười biếng. Nguyên thần nhập mộ tại hào động Mùi thổ, không sinh Quan quỷ, quẻ nội phục ngâm, hôn nhân không tốt, vợ chồng bất hòa.
Sức khỏe nhìn hào Thế. Hào Thế lâm hào ba, hào ba là mộ khố của Tử tôn, hào ba lại là hào vị tử cung, bị hào hai Dần mộc khắc thương, phụ khoa có bệnh, lâm Huyền Vũ cũng chủ bệnh phụ khoa. Kị thần tại hào hai, là mộc chủ ruột, hào ba là thổ bị khắc, là dạ dày không tốt. Hào năm phát động, kị thần nhập mộ tại Mùi thổ, chính là bộ vị tương ứng Mùi thổ có bệnh. Tài là ăn uống, tại hào năm có thể nghĩa rộng là sữa, mộ khố của sữa tức là vú. Cho nên dễ viêm tuyến sữa.
Ứng nghiệm: Hết thảy đều đúng.
Ví dụ 2
Cái tượng nằm rên rỉ ấy, đặt vào một cụ ông tám mươi sáu tuổi, lập tức thành câu hỏi nặng hơn: còn sống được bao lâu nữa.
Ngày Quý Tị, tháng Bính Thìn, năm Mậu Dần, một ông già 86 tuổi đến xem niên vận được quẻ Địa Thiên Thái biến Thuỷ Lôi Truân.
An nguy bản thân: Lấy hào Thế làm Dụng thần. Năm nay Thái tuế là Dần mộc, Thái Tuế nhập quẻ phát động khắc Thế, năm này có tai nạn. Quẻ nội phục ngâm, là tượng đau đớn thống khổ.
Hào Thế tại hào ba, hào ba là giường, chính là tượng nằm liệt giường. Huynh đệ là tay chân, ở quẻ nội là chân, hào ba là đùi, hào hai Quan quỷ động khắc thương, hào hai là hào vị chân, trên đùi sẽ xảy ra bệnh. Hào ba là dạ dày, ruột, dạ dày cũng sẽ xuất hiện bệnh. Thê Tài là cứt đái, nhập mộ tại hào Thế, trong bụng có cứt nước tiểu, kéo không ra không tiểu được, chính là bị táo bón.
Nói đến tuổi thọ, từ hào Thế phán đoán. Hào Thế tỷ hòa với Nguyệt, Nhật thần sinh phù là vượng tướng, sẽ không nguy hiểm tính mệnh. Sống thêm mấy năm không có vấn đề.
Ứng nghiệm kết quả: Tháng Tị đột nhiên sưng chân, nằm trên giường một tháng. Bình thường bị táo bón, năm 1998 là nghiêm trọng nhất.
Ví dụ 3
Bệnh tật còn nằm yên một chỗ được, nhưng một kỳ thi thì dậm chân tại chỗ nghĩa là trượt.
Ngày Quý Mùi tháng Đinh Hợi năm Canh Dần (Tuần không Thân Dậu) một người xem lần này đơn vị sự nghiệp thi cử kết quả thế nào được quẻ Lôi Hỏa Phong biến Thiên Sơn Độn.
Quẻ ngoại phục ngâm, phục ngâm là tượng trì trệ bất động, thống khổ bất an, được tượng này tức là không cát. Nhưng tượng này cũng không thể quyết đoán cát hung, vẫn cần xem Dụng thần. Trong quẻ hào Thế lâm Phụ mẫu Thân kim, hưu tù không vượng, lại tuần không, lần này thi cử kết quả không tốt. Trong quẻ lại có hào Tử tôn Mão mộc động khắc hào Quan Tuất thổ. Hào Quan, hào Phụ mẫu đều tổn thương, thi cử khó mà thông qua. Hào Huynh đệ Hợi Thủy vượng tướng nghĩa là người khác thực lực mạnh hơn so với mình.
Nghiệm chứng: Thất bại, không thông qua thi viết.
Nguồn: Dịch Kinh Chân Tủy – Lục Hào Tượng Giải (An Hạ)
