Bài tổng quan
Hợp xung đồng thời, hào Cừu động và bảng tra Lục hào
Hào Sửu bị Tý hợp chặt, nằm im cho đến khi Ngọ xung Tý mới thoát được. Một hào có thể vừa hợp, vừa Mộ, vừa Tuyệt, còn Cừu thần thì chặn nguồn nước như một cái đập. Hỏi khi nào quẻ ứng nghiệm thì…
Khi hợp, xung, Mộ, Tuyệt cùng xuất hiện một lúc
Trong nhiều quẻ, quan hệ giữa các hào không chỉ là sinh hay khắc đơn giản. Hào có thể vừa hợp, vừa xung, vừa Mộ, vừa Tuyệt với nhau trong cùng một lúc. Những tình huống chồng chéo như vậy phải tính thế nào?
Lấy trường hợp Sửu và Tý hợp nhau. Hào Sửu động hóa Tý thì Sửu bị Tý hợp chặt mà không động được. Tình huống này gợi tượng người ấy tự cường trong nghịch cảnh, như câu "quân tử tự cường bất tức". Chuyện này sẽ được thoát vào chi Ngọ, vì Ngọ xung Tý làm mất hợp. Vì sao lại như vậy? Vì Thổ đang vượng tại Tý, Sửu bị Tý hợp chặt không động nổi, đến khi Ngọ xung Tý thì Sửu mới thoát sức mà vùng vẫy.
Với hào động bị hợp nói chung, cần phân vượng suy của hào động. Nếu hào động vượng thì chỉ cần chờ ngày, tháng xung chi hợp ấy là thành. Nếu hào động suy thì tính theo hóa khắc. Nhưng nếu việc hỏi gấp mà hào động vượng, chưa tới thời điểm xung, thì kết quả chỉ được một nửa, nên lưu ý.
Thìn hóa Thân là trường hợp vừa Tiết vừa Trường sinh, vì Thổ Trường sinh ở Thân. Nếu Thổ suy cũng không sao, chỉ là ban đầu mọi thứ đi từ tay trắng mà lên, và sẽ ổn vào lúc Tý. Trường sinh báo sự khởi đầu, cái mới. Vì vậy trong một số quẻ có thể biết được thời điểm xảy ra một sự kiện trong quá khứ bằng hai cách: một là tính xung, hai là tính Trường sinh của Dụng thần. Có điều Tiết vẫn là Tiết, nên đây là việc phải bỏ công nhờ người mà thành, và người này mang đặc điểm của chi Thân.
Thân hóa Tỵ là trường hợp hóa Trường sinh, phổ biến hơn cả Kim Trường sinh. Kim Trường sinh tại Tỵ, nhưng Tỵ là hành Hỏa mà Hỏa khắc Kim, nên báo sự nhiệt tình ào ạt lúc đầu, về sau lại hại. Nếu Kim suy thì trường hợp này xem như hóa khắc, nhưng trước khi gục xuống sẽ rất hoành tráng. Những trường hợp "sáng rực trước khi tắt" thế này cần để ý.
Còn khi Tỵ động mà Tuất cũng động thì Tỵ sinh Tuất hay Tỵ nhập Mộ ở Tuất? Cả hai xảy ra đồng thời. Nhưng trước khi Thìn xung Tuất để Tỵ thoát Mộ, thì Tỵ vẫn nằm trong Mộ. Nếu Tuất là Dụng thần thì việc hỏi hỏng vì lực bất tòng tâm. Vì sao? Vì Nguyên thần nhập Mộ không sinh được cho Dụng thần, dù Dụng vượng cũng chỉ giữ được vài canh giờ.
Động hóa Không, động hóa Phá, Phá động, Không động đều ứng khi trực, xung hoặc hợp. Còn Phá hóa Không hay Không hóa Phá thì sao? Lúc này chạy theo vòng địa chi, điểm nào đứng trước thì lấy trước. Chẳng hạn ngày Nhâm Tý, tháng Tuất, quẻ Gia Nhân hóa Tiệm, thì ứng vào thời Mão, vì Mão đứng trước Thìn trong vòng địa chi. Nhưng cần lưu ý nếu Phá hóa Tuyệt rồi lại Không, thì ứng vào lúc Không mà việc hỏng, vì Phá hóa Tuyệt thì dù vượng cũng hỏng, trừ khi có Nguyên thần động mới cứu được. Lúc ấy vẫn theo nguyên tắc điểm nào đứng trước thì lấy trước. Phá hóa hợp thì không còn là Phá nữa, nhưng hào động hợp với hào biến mà hào biến bị Phá thì vẫn phải chờ lúc trực hợp của hào mới ứng. Nói gọn lại, khi có hai mốc cùng tranh làm điểm ứng kỳ thì nhìn vòng địa chi, mốc nào đến trước trong vòng xoay thì làm mốc ứng.
Với Không, nếu hỏi việc cố định thì vượng là không phải không, suy thì chắc chắn là không. Nhưng nếu hào động thì Không không còn là không, dù vượng hay suy. Tuy nhiên nếu hỏi việc cố định mà trước thời điểm diễn ra sự việc vẫn Không thì là hỏng. Với việc nhân sự, Không tính theo việc hỏi mà quy ra kẻ trộm, kẻ nói dối, hay người vắng mặt. Trong tình huống này nếu hào động, vẫn tính là Không, ứng kỳ như thông thường. Riêng bệnh tật là ngoại lệ. Vì vậy trước khi kết luận một hào Không, phải hỏi xem việc hỏi thuộc loại cố định hay loại nhân sự, vì cùng một hào Không mà hai loại việc cho hai kết luận khác nhau.
Phá gặp ngày hợp thì không tính Phá. Không gặp ngày xung mà vượng thì không tính Không mà tính âm động. Phá xét ngày đứng trước thì không tính Phá, nhưng Không xét tháng đứng trước vẫn tính Không.
Với Mộ mà Sinh thì tính Mộ trước. Với Sinh và Tuyệt thì tính Tuyệt trước, Sinh sau, thành ra xuống rồi lại lên, phổ biến với những trường hợp Thổ nhập Tuyệt.
Cừu thần: đường xa mới biết sức ngựa
Cừu thần là hào khắc Nguyên thần, và bị Dụng thần khắc. Cây cần nước để sống, Cừu thần như cái đập chặn nguồn nước ấy. Trong nhiều trường hợp đủ nghiêm trọng, Cừu động đồng nghĩa với nguy hiểm đến tính mạng.
Ví dụ ngày Canh Dần, tháng Tỵ, có người cháu hỏi người cô đang bệnh có ổn không, quẻ là Hằng hóa Thăng. Nếu xem theo cách thông thường, Phụ Mẫu lâm Nguyệt lại được Nhật hợp, ắt trong ngày sẽ đỡ. Nhưng cuối cùng người cô vẫn mất vào ngày Tỵ, chỉ vì Cừu động nên sức người kiệt dần mà mất, chứ không mất ngay. Ứng vào ngày Tỵ vì Tỵ xung Phụ ở Hợi.
Tương tự, có một học trò đi bảo vệ luận án cũng ra quẻ Cừu động, Phụ vượng, Thế vượng. Nhưng rốt cuộc việc hỏng, vì người giám khảo có tính cách và dáng vẻ giống hào Cừu ấy.
Ngoài chuyện giấy tờ thì Cừu thần hay báo chuyện sức khỏe, còn các việc khác thường báo sự vượng không lâu dài, hoặc gặp cản trở gián tiếp. Với bệnh tật, Cừu động là dấu hiệu cần cảnh giác ngay cả khi các yếu tố khác đều tốt.
Với kinh doanh, Cừu động báo sẽ bị mất vốn: có thể mất vào người làm chung, cũng có thể mất vào hàng hóa hỏng. Thời điểm ứng kỳ nằm ở chi của Cừu thần. Nếu Cừu sinh Thế, hợp Thế hay được Thế sinh, thì đó là người làm chung hoặc người phụ, và cứ xét theo đặc điểm hình dáng, thời gian mà đề phòng. Nếu Cừu trì Thế thì mình vừa không giữ được tiền, vừa bị tiền hành hạ.
Với công danh, Cừu động báo việc không lâu bền. Cừu ở hào dưới là cấp dưới của mình. Nếu Cừu sinh hay hợp Thế mà cả Thế lẫn Cừu đều vượng thì là người tâm phúc, hoặc là kiểu "trong nụ cười giấu dao". Cừu khắc Thế thì là đối thủ của mình. Cứ theo Cừu thần mà xét thời gian để đề phòng.
Với hôn nhân, Cừu động báo cảnh đồng sàn dị mộng. Lúc này xét thêm Cừu thuộc về Thế hay về Dụng, có sinh Thế hay sinh Dụng không, để biết có "người thứ ba" hay không, và xem nội quái, ngoại quái ra sao để biết nguyên nhân đến từ trong nhà hay ngoài ngõ.
Vậy trong các trường hợp ấy nên làm gì nếu dựa vào quẻ? Nếu Dụng trì Thế mà Cừu động, thì bản thân mình cố gắng chủ động mà tính, đừng đợi nước lên thuyền lên, vì nước lên chắc gì thuyền đã lên kịp. Nếu Cừu trì Thế thì bản thân mình đã sai hẳn rồi, tự xét lại mà thay đổi may ra thoát, còn đâm đầu vào đá thì đành chịu. Nếu Cừu sinh Thế thì xem lại người làm chung, hoặc người đang ngọt ngào với mình, có thể là vô tình mà cũng có thể là hữu ý. Nhưng trước khi chắc chắn, cứ xem đó là vô tình. Lúc này phải tự xét mình cũng là người đang sai hướng, vì Thế đang lâm Kỵ. Cừu khắc Thế thì lo cho chính mình trước, vì Dịch ưu tiên báo chuyện gần, mà chuyện gần nhất là chính mình. Thế sinh Cừu thì là tin nhầm người.
Cừu thần, cũng như Tiết thần, hay bị bỏ quên vì tác động của nó không đến ngay. Nhưng về lâu dài, nếu xem thường thì khác nào mua sẵn quan tài cho mình, nên phải phòng.
Bảng tra nhanh: địa chi, hợp xung và những tên gọi hay dùng
Địa chi được nạp vào bàn tay trái như sau: vạch cuối cùng của ngón áp út là Tý, tính thuận sang trái, mỗi vạch một chi, Sửu, Dần, Mão, và cứ thế mà tính. Cách tính tuần không không dùng đến lòng bàn tay: lấy thiên can đặt vào vị trí của địa chi. Ví dụ ngày Canh Dần thì đặt Canh vào vị trí Dần, tính thuận đến Quý, hai chi sau Quý là Ngọ, Mùi sẽ là tuần không. Nếu tính nghịch về Giáp thì hai chi đứng trước Giáp là tuần không.
Nhị hợp là hai chi đối xứng qua trục dọc, như Tuất với Mão, Dậu với Thìn. Lục xung là hai chi đối xứng nhau qua tâm, như Dần với Thân, Mão với Dậu. Lục hại là hai chi đối xứng qua trục ngang, như Dần với Tỵ, Ngọ với Sửu. Tam hợp là khởi từ một góc, theo hình tam giác cân, các vị trí cách nhau bốn chi: Dần Ngọ Tuất, Thân Tý Thìn.
Trong một cục tam hợp, chi sau của một cặp luôn là chi Đế vượng. Ví dụ Dần Mão thì Mão là chi vượng, Mão thuộc Mộc nên Hợi Mão Mùi là cục Mộc. Chi trước của một cặp là Trường sinh của hành của cục, và chi Thổ còn lại là Mộ của cục. Ví dụ Dần Ngọ Tuất: Dần là chi trước trong cục Hỏa vì Ngọ là chi sau, nên Dần là Trường sinh của Hỏa, Ngọ là Đế vượng, Tuất là Mộ của Hỏa. Tuyệt là chi tiếp theo chi Mộ, chẳng hạn Hợi đứng sau Tuất nên Hỏa tuyệt tại Hợi.
Quẻ Lục xung là quẻ có các cặp hào 1-4, 2-5, 3-6 xung nhau; quẻ Lục hợp là quẻ có các cặp ấy hợp nhau. Nguyệt phá là khi Nguyệt xung hào. Ám động là hào vượng được Nhật xung, có chức năng như một hào động thông thường nhưng không có hào biến. Nhật phá là Nhật xung hào suy. Hào động suy mà bị Nhật xung thì gọi là Tán; trường hợp Nhật hay Nguyệt xung cũng là Tán, nhưng Tán này khác với Tán kia.
Quẻ Du hồn là quẻ có cặp hào 1-4 nghịch, 2-5 trùng, 3-6 nghịch. Quẻ Quy hồn là quẻ có cặp hào 1-4 trùng, 2-5 nghịch, 3-6 trùng. Phục ngâm là hào biến trùng với hào động. Phản ngâm là hào biến xung với hào động. Về Lục thú, thứ tự là Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ, trong đó ngày Giáp, Ất khởi Thanh Long; ngày Bính, Đinh khởi Chu Tước; ngày Mậu khởi Câu Trần; ngày Kỷ khởi Đằng Xà; ngày Canh, Tân khởi Bạch Hổ; ngày Nhâm, Quý khởi Huyền Vũ.
Những dòng trên không thay thế cho việc hiểu từng khái niệm, nhưng đủ để tra nhanh mỗi khi đứng trước một quẻ.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
