Bài tổng quan
Bày trận, trương cờ và bảy thuật đoán thắng bại
Trước khi cất quân, Đại Tướng đứng giữa quân bộ và quân xe, dâng thịt trâu khô, hai chén rượu, trải một tấm lụa màu lên đất. Mỗi con số có một phương hướng, một màu cờ và một lời khấn riêng. Còn bảy lối đoán thắng bại, nghe nói là món quà một vị tiên trao tận tay Hoàng Đế…
Mục lục · 8 phần
- 01Hướng ra quân: ra theo toán, chiến dựa vào toán
- 02Lời khấn trước khi cất quân theo từng toán
- 03Trận hình và màu cờ ứng với toán
- 04Quân kỳ, quân phục và nơi đóng trại
- 05Xem khí mây để biết thắng bại
- 06Bài phú Kính sáng: gom hết điều cốt yếu
- 07Bảy thuật phá địch Huyền Nữ trao cho Hoàng Đế
- 08Đọc động tĩnh của nước địch
Một viên tướng muốn ra quân phải biết cất bước theo hướng nào, mặc lụa màu gì, dựng trận hình ra sao. Nhưng điều khó hơn là biết ngày nào nên đánh, ngày nào nên giữ, và quân địch đang ở trước mặt hay đang núp sau lưng. Thái Ất trả lời tất cả bằng những con số và một vị Đại Thần chạy quanh các cung.
Hướng ra quân: ra theo toán, chiến dựa vào toán
Muốn bày binh thì phải có hướng ra. Hướng ấy do toán quyết định. Toán một thì dàn quân ra từ cung Kiền, toán hai thì ra từ cung Ly, và các toán còn lại cũng theo thứ tự cung của mình. Khi ra phải hướng mặt về phía toán, khi đánh phải lấy chính phía toán làm chỗ tựa lưng.
Điều kiện để ra quân đã được đặt sẵn: Mắt chủ không bị tù hay ép, Mắt khách không bị ếm hay kích, cửa đủ và tướng phát. Chỉ khi ấy tiến đánh mới lợi. Trong ngày, người xưa dùng cách đếm thế này: sau tiết Đông chí thì xem theo dương cục, sau tiết Hạ chí thì xem theo âm cục. Nếu hai Mắt không dính các thế hung như tù, ép, kích, cách, ếm, đối, mà cửa đủ và tướng phát, thì ngày ấy có lợi cho việc ra quân, dấy chúng, mọi việc đều tốt. Kể giờ cũng xét theo cùng lệ.
Lời khấn trước khi cất quân theo từng toán
Mỗi toán một phương, một màu lụa, một lời nguyện, như những cánh cửa khác nhau cùng mở ra một sân trận.
Với mỗi toán từ một đến chín, người xưa chép một nghi thức ra quân riêng. Quân bộ đi trước, quân xe và quân cưỡi theo sau, Đại Tướng đứng giữa. Đại Tướng bày lễ ở một phương, dâng thịt trâu khô, hai chén rượu, trải lụa làm chiếu, hướng về cung của toán mà lạy và khấn. Lời khấn mở đầu bằng tên cung và danh xưng Thái Ất Thần Tôn, xin hộ ba quân, rồi mỗi toán khác nhau ở điều mong cho quân địch.
Toán một: bày lễ ở phương Tây Bắc, trải lụa đen, hướng về cung Kiền lạy, xin cho địch không dám chống. Khấn xong, trỏ về phương Tốn mà tiến đánh. Toán hai: bày lễ ở chính Nam, trải lụa vàng, hướng về cung Ly, xin cho địch tự kinh sợ. Khấn xong, trỏ về phương Bắc mà tiến đánh. Toán ba: bày lễ ở Đông Bắc, trải lụa xanh, hướng về cung Cấn, xin cho địch tự phục. Khấn xong, trỏ về phương Khôn mà tiến đánh. Toán bốn: trải lụa màu lục, hướng về phương Đông, xin cho địch tự phá. Khấn xong, trỏ về phương Tây mà tiến đánh.
Toán năm thì khác hẳn. Không được cất binh, chỉ nên tựa lưng vào núi, nương nơi hiểm, giữ vững trận để chờ thời lành. Lý do là năm là ngôi rất tôn, làm chủ cho toàn thể, theo sách Hoàng Cực là lấy một thống trị tám, có làm mà thành chẳng cần làm.
Toán sáu: ra cửa thì khua trống, phóng nhanh, quay về hướng Tây, trải lụa trắng, xin cho địch bị giết. Khấn xong, trỏ về phương Đông mà tiến đánh. Toán bảy: bày lễ ở chính Khôn, trải lụa đỏ, xin cho địch tự diệt, rồi trỏ về phương Cấn mà tiến đánh. Toán tám: bày lễ ở chính Bắc, trải lụa đen, hướng Bắc lạy và xin cho địch tự diệt, rồi trỏ về phương Nam tiến đánh. Toán chín: bày lễ ở phương Tốn, trải lụa đỏ, xin cho địch tự vỡ, rồi trỏ về phương Tây Bắc mà tiến đánh.
Trận hình và màu cờ ứng với toán
Trận hình và màu cờ cũng chọn theo toán. Toán một hoặc tám dùng trận khúc, tức không thẳng, trương cờ đen. Toán hai hoặc năm dùng trận tròn, trương cờ vàng. Toán ba dùng trận thẳng, trương cờ xanh. Các toán còn lại phỏng theo năm hành mà suy. Bài phú ghi đủ hơn: sáu bảy cờ trắng trận vuông, bốn chín cờ hồng trận nhọn, ba là cờ xanh trận thẳng ứng với tượng Mộc. Điều kiện vẫn như cũ: Mắt chủ không tù hay ép, Mắt khách không ếm hay kích, cửa đủ, tướng phát. Khi ấy tiến đánh lúc nào cũng lợi.
Hai năm cờ vàng, trận tròn bày. Một tám cờ đen, trận gẫy khúc. Sáu bảy cờ trắng, trận vuông. Bốn chín cờ hồng, trận nhọn.
Quân kỳ, quân phục và nơi đóng trại
Có trận phải bày ra cho địch thấy, có trận phải giấu đi cho địch không đoán nổi.
Nghĩa của binh kỳ là dùng phép số ba. Trăm người thì chọn lấy ba mươi, nghìn người thì chọn lấy ba trăm, đó là binh kỳ. Quân phục nên dùng khi Thái Ất rơi vào thế ếm hoặc ép. Binh kỳ nên xuất ra ở nơi sát khí lớn của hai bên chủ khách, tức là nơi có Văn Xương và Thủy Kích, và ở chỗ địch tiện qua lại. Câu ngạn ngữ của nghề nói rằng biết rõ kỳ phục thì chuyển được họa thành phúc. Người muốn ẩn mình giấu vết thì chọn đúng chỗ toán ra mười, mười một, hai mươi mốt, ba mươi mốt, hoặc nấp trong rừng núi khe ngòi thì cũng không ai thấy.
Việc đóng trại cũng có phép riêng. Thái Ất đứng bên phải, hai Mắt đứng bên trái là thế âm dương thuận hòa. Mắt khách không bị ếm và cách, mắt chủ không bị tù, ép, đối. Thái Ất và hai Mắt không ở đất rời hay tuyệt mà cửa đủ, tướng phát. Ngày giờ ấy đặt doanh yên trại là tốt.
Xem khí mây để biết thắng bại
Hai quân giao nhọn mà muốn biết khí mây bay thuận hay nghịch thì căn cứ toán của chủ và khách. Khí mây bay theo hướng của toán là thuận, đánh thì thắng. Bay ngược thì bại. Cũng có người nói nên xem khí mây và chim bay cùng với hai Mắt và cung Thái Ất: đi theo phương Thái Ất thì lành, từ phương hình hoặc phương xung mà tới thì hung. Bên chủ theo chủ, bên khách theo khách, bốn Tướng đều nghiệm cả.
Thí dụ nêu ra: ngày Bính Tý, nguyên một, Giáp Tý, cục mười ba, hai quân giao chiến. Toán chủ được mười tám, Đại Tướng chủ ở cung tám và đang phát, Tiểu Tướng chủ ở cung bốn và bị cách. Thủy Kích ở cung Thái Dương, toán khách được mười chín, gặp hòa, Đại Tướng khách ở cung chín gặp phát. Cục này chủ khách đều có lợi. Nếu toán chủ được mười tám mà khí mây theo phương ấy thì chủ thắng. Nếu mây lại từ phương Chấn là phương hình, phương Ngọ là phương xung, phương Khôn là phương khắc thì chủ bất lợi. Toán khách được mười chín mà mây theo phương Tốn đến thì khách thắng. Mây theo phương Kiền xung hay phương Cấn hình đến thì khách không lợi.
Bài phú Kính sáng: gom hết điều cốt yếu
Bài phú ngắn của bảy mươi hai cục gói gọn mọi điều trên. Chủ khách rõ thua được, trong ngoài xét sâu nông. Thái Ất giúp khách ở các ngôi chín, hai, bảy, sáu, giúp chủ ở các ngôi một, tám, ba, bốn. Hiểu rõ môn đường, tướng sẽ hưng long. Biết rõ trước sau của chủ khách, ra quân hướng theo toán, khi chiến thì tựa vào toán. Toán định ra trận hình và màu cờ. Trước cất, sau động, phải xem tám hướng mây theo. Nơi nào có giặc đến thì dưới hai Mắt phải phòng. Kỳ binh ra thì nhìn dưới Mắt chủ khách, phục binh thì nhìn Thái Ất bị ếm trong tuần. Xét rõ nơi tinh vi, xem nguyên cục mà đoán. Suy kỹ lặng và động, rõ lời dạy sẽ thông. Ai mang danh làm tướng thì xem đó mà lập công.
Bảy thuật phá địch Huyền Nữ trao cho Hoàng Đế
Người đời kể rằng bảy lối đoán này vốn là món quà của một bậc tiên, trao tận tay cho vị vua đang cần thắng một trận quyết định.
Kinh chép rằng thuật Thái Ất do Huyền Nữ truyền cho Hoàng Đế, Phong Hậu đem diễn ra để đánh Xi Vưu. Thuật đã dựng rồi thì khuyên người làm tướng hành binh không nên bỏ qua, phải xét hỏi tới chỗ thực mới làm. Có bảy thuật, mỗi thuật mang một cái tên như một bài thơ.
Thuật một, đến bến hỏi đạo. Đặt Lã Thân trên địa chi của năm địch khởi binh, xem Đại Thần rơi vào cung nào thì đó là năm phá địch. Muốn biết tháng, đặt Lã Thân trên năm phá địch, xem Đại Thần tới đâu thì đó là tháng. Ngày và giờ cũng làm như thế. Nếu năm phá địch mà Thái Ất bị chặn ở cửa Đổ cung Kiền thì năm nay phá địch. Khi đặt Lã Thân trên cung Thái Ất, nếu Đại Thần rơi vào cung Đại Tướng thì Đại Tướng vong, rơi vào cung Tham Tướng thì Tham Tướng vong, rồi xét thêm mạnh khá, sinh khắc để suy. Ví dụ ngày Giáp Tý, nước địch khởi binh, đặt Lã Thân trên Tý, thấy Đại Thần tới Mão thì Mão là năm phá địch, tháng, ngày, giờ cũng tính như thế.
Thuật hai, sư tử ném lại. Cũng đặt Lã Thân trên địa chi của năm địch khởi binh, xem Đại Thần tới đâu. Nếu rơi vào bốn góc thì mười tám năm sau mới phá được. Nếu rơi vào nơi vượng tướng thì thành khó phá. Nếu rơi vào đất tù, tử, mộ thì địch tự bại. Ví dụ năm Giáp Tuất nước địch dấy binh, đặt Lã Thân trên Tuất, Đại Thần tới Sửu. Sửu thuộc Cấn, góc Đông Bắc, nên đến năm Tân Mão, mười tám năm sau, mới phá được.
Thuật ba, mây trắng ếm trời. Đặt Lã Thân trên cung của Đại Tướng chủ khách. Nếu Đại Thần tới nơi Trường Sinh, Đế Vượng thì trăm trận trăm thắng. Nếu tới đất không có khí thì thua. Ví dụ Đại Tướng chủ ở cung bảy, đặt Lã Thân trên Khôn, Đại Thần tới Kiền, Kiền thuộc Kim. Kinh nói khắc ta là tù, Lửa tới phương Kiền là đất mộ, ra trận không lợi cho chủ. Nếu Đại Tướng chủ ở cung ba, Đại Thần tới Tốn, Tốn thuộc gỗ mà Đại Thần thuộc Lửa. Kinh nói sinh ta thì khá, Lửa vào quẻ Mộc được trợ, ra trận lúc ấy lợi cho khách. Xem trận nên dùng các thuật khác cùng xem để chia thắng phụ.
Thuật bốn, hổ mạnh cự nhau. Lấy ngày địch cắm doanh trại, đặt Lã Thân trên Thái Ất của Kể ngày, xem Đại Thần tới đâu. Nếu tới nơi vượng tướng thì doanh trại không thể công. Nếu tới nơi không có khí thì đừng tiến làm gì. Ví dụ địch dựng doanh trại ngày Canh Ngọ, Thái Ất ở cung ba, đặt Lã Thân trên Cấn, Đại Thần tới Tốn là đất tướng, doanh này chưa thể công.
Thuật năm, thần sấm vào nước. Đặt Lã Thân trên cung Thái Ất, xem Đại Thần tới nơi nào. Nếu nơi ấy khắc vị tướng nào thì tướng ấy gặp hung lớn, hoặc sĩ tốt bị mất. Ví dụ nguyên năm Nhâm Tý, cục mười ba, Thái Ất ở cung sáu, đặt Lã Thân trên Đoài, Đại Thần tới Khảm. Bốn Tướng đều không bị nước Khảm khắc thì đều có thể dùng được.
Thuật sáu, rồng trắng gặp mây. Đặt Lã Thân trên cung Thái Ất của ngày, xem Đại Thần tới đâu. Nếu các tướng chủ khách đều gặp khí vượng tướng thì nên động quân ngay. Nếu gặp đất không có khí thì phải cẩn thận. Nếu nơi Đại Thần tới mà khắc chủ thì không lợi cho chủ, khắc khách thì không lợi cho khách. Trong bốn Tướng, tướng nào bị khắc phải kiêng.
Thuật bảy, lui quân không nói. Lấy ngày quân kia mới tới, đặt Lã Thân trên cung Thái Ất, xem Đại Thần tới đâu. Nếu quân kia đứng ở đất vượng tướng thì chắc chắn có phục binh. Nếu quân kia tới đất không có khí thì địch tự bại mà không có phục. Nếu ta ở đất vượng tướng thì nên mai phục mà đợi. Ví dụ cục hai mươi tám ngày Tân Mão, Thái Ất ở cung hai, Đại Thần rơi vào cung sáu thuộc Kim, Kim hay khắc Mộc. Hai Mắt cùng hai Đại Tướng chịu chế, Tiểu Tướng chủ bị tù, Tiểu Tướng khách bị hưu, đều không lợi.
Đọc động tĩnh của nước địch
Khi đã bày trận xong, điều còn lại là nhìn sang bên kia sông xem địch đang nghĩ gì.
Muốn biết địch động hay tĩnh, người xưa dùng Kể giờ. Nếu toán khách ít, cửa đóng thì giặc không tới. Nếu toán dài, hòa, cửa đủ, tướng phát thì chắc chắn giặc tới. Nếu chủ khách cùng hội trước Thái Ất mà mọi điều nghe thấy đều hay thì giặc sẽ hàng, trái thế thì giặc nghịch mà tới. Có thuyết nói Mắt khách đi về Nam thì địch tới, đi về Bắc thì địch không tới. Thí dụ dùng độn Âm, cục năm mươi hai, giờ Ất Mão, Thái Ất ở cung tám, Văn Xương ở Dương Đức, Đại Tướng khách ở cung bảy, Tiểu Tướng ở cung một: chủ khách đều hội trước cung Thái Ất, khách toán hòa, tướng phát, ắt giặc tới hàng.
Sứ giả của địch nói thật hay nói dối cũng xem Kể giờ. Nếu Thái Ất khắc cung Mắt chủ và cung Đại Tướng thì lời sứ nói đều thực. Nếu Mắt khách và hai Đại Tướng khắc ngược cung Thái Ất thì tình ấy là hư. Dùng độn dương, cục hai mươi lăm, giờ Mậu Tý, thấy sứ địch đến thì chắc là thực.
Nước địch có gián điệp hay không thì xem Thái Ất, Mắt khách và Đại Tướng khách. Lấy cung Thái Ất cùng cung đối làm ranh, chia trong ngoài sâu nông. Nếu Mắt khách tới đất ngoài, chắc chắn địch từ ngoài sai sứ vào đất ta dò thám hư thực. Nếu Mắt chủ ở đất ngoài mà Đại Tướng khách tới cung ấy thì có gian vào cảnh ta. Nếu Mắt chủ và các Tướng khách đều ở đất ngoài thì địch đem cả tướng lẫn quân vào cảnh. Nếu Thái Ất ở cung một thì các cung một, sáu, bảy, hai là đất ngoài, cung sáu là gần, hướng ra xa là xa. Các cung tám, ba, bốn, chín là đất trong, cung tám là gần bên.
Địch tới nhiều hay ít, từ phương nào, cũng xem Kể giờ và toán khách. Ở dương là có địch, ở âm là không có giặc, theo lẽ dương lẻ âm chẵn. Nếu toán từ mười sáu trở lên là âm dương hòa, giặc có tướng soái, quân đông. Nếu từ mười lăm trở xuống thì giặc như chuột trộm, binh ít mà tướng không tài. Muốn biết phương nào đến thì xem Mắt khách: ở bên tả Thái Ất thì từ Đông tới, bên hữu thì từ Tây tới, ở trước thì từ Nam, ở sau thì từ Bắc. Ở bốn góc hoặc ở cửa đóng thì không có giặc tới.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
