Bài tổng quan
Vô thiên, vô địa, vô nhân: khi bàn Thái Ất thiếu hụt
Có những năm số của Trời hụt, số của Đất hụt, hoặc số của Người hụt, và mỗi chỗ hụt ấy báo một loại tai họa khác nhau. Một năm sao chổi kéo dài hơn bốn mươi ngày trên bầu trời, một năm con rắn dài mười trượng chui ra từ vết đất nứt. Người xưa còn đặt tên cho từng dáng sao chổi, từ cái đuôi nhọn cho đến cái đuôi cong đỏ như lá cờ…
Có những năm bàn Thái Ất không chỉ lộn xộn mà còn thiếu hụt: thiếu số của Trời, thiếu số của Đất, hoặc thiếu số của Người. Người xưa gọi đó là ba thế vô thiên, vô địa, vô nhân. Thế nào là hụt, hụt thì trời đất người báo hiệu ra sao, và những ngôi sao có đuôi lao qua bầu trời trong những năm ấy mang tên gì, là điều họ ghi chép rất kỹ.
Ba toán của Tam Tài
Trong phép toán Thái Ất có ba toán ứng với Tam Tài: không Trời, không Đất, không Người. Mỗi toán được nhận ra bằng con số mà toán chủ, toán khách hoặc toán định rơi vào.
- Toán vô thiên, tức không Trời: con toán chủ hoặc toán khách chưa tới mười, tức chỉ là số đơn từ một đến chín.
- Toán vô địa, tức không Đất: con toán của hai Đại Tướng chủ khách hoặc Kể Định không tới năm, như các số một đến bốn, mười một đến mười bốn, hai mươi mốt đến hai mươi bốn, ba mươi mốt đến ba mươi bốn.
- Toán vô nhân, tức không Người: con toán rơi đúng vào các số tròn chục như mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, chưa bước qua được số một của hàng đơn.
Con toán nào có từ hai chữ số trở lên thì chỉ lấy số đơn, bỏ hàng chục, để xét thế. Chẳng hạn toán ba mươi chín được đọc là chín, thuộc âm Giốc, và các toán hai mươi bốn, ba mươi mốt được xét theo hàng đơn bốn và một. Ba toán thiếu hụt này gắn liền với ba ngôi của Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân, mỗi ngôi một con số riêng để đo xem nó đủ hay hụt.
Mỗi toán thiếu hụt tự nó chưa phải là tai họa. Nó chỉ trở thành điềm báo khi năm ấy lại có các thế ếm, ép, giam, kích, chặn. Khi ấy phần nào hụt thì phần ấy lộ ra sự biến.
Vô thiên: khi trời đổi dạng
Năm tính Kể gặp toán vô thiên lại có thêm ếm, ép, giam, kích, chặn thì trời có biến lạ: sao chổi hiện, sấm sét, động đất, mưa đá, băng trôi, núi lở, khí hậu thất thường. Thiên tượng xảy ra nhiều biến cố khác thường, khiến lòng người bối rối lo lắng.
Năm Kỷ Sửu, 629, đời Đường Thái Tông, niên hiệu Trinh Quán thứ ba, Thái Ất đứng ở cung Kiền, số một. Đại Khách bị tù. Toán khách vô thiên lại vô địa, toán định là một, cũng vô thiên. Đại Chủ chặn Văn Xương ở cung Dậu, số sáu, toán chủ sáu, lại vô thiên. Năm ấy sao chổi xuất hiện từ phương Tây Bắc, kéo dài hơn bốn mươi ngày. Ngày mười bảy tháng tư, đuôi sao dài hơn mười trượng, bắt đầu từ các sao Thượng Thai, Trung Thai, Đông Môn, đi vào tòa Thái Vi Viên, quét qua Thái Thông rồi tới tòa Thiên Thị Viên, kéo dài qua ba mươi bảy trạm sao thì gặp mây âm trầm mới tan.
Gần thời nay, năm Ất Sửu 1985 bàn Thái Ất cũng đặt Thái Ất ở cung Kiền, vô thiên, vô địa. Sao chổi Halley kéo vào gần Trái Đất, cả thế giới đều trông thấy. Lúc nó gần nhất là gần cuối năm âm lịch Ất Sửu, sang năm Bính Dần 1986 mới tan dần.
Sao chổi là đuốc lửa của trời
Sao chổi đến vội, đi gấp, nhưng mỗi ngôi mang một dáng, một màu, một hướng, và người xưa đặt cho mỗi dáng một cái tên.
Sao chổi chính là cây đuốc của Trời, một chiếc lồng lửa luôn lao thẳng về phía mặt trời, tới gần là tan. Vì thế nó biến hóa vô cùng: có loại to, có loại nhỏ, loại dài, loại ngắn, loại sáng, loại mờ, và màu sắc cũng khác nhau. Tên của nó còn thay đổi theo hướng và theo ngũ hành. Sao chổi thấy ở phương Đông thì gọi là Tuế tinh, hiệu Nhân Đức. Cũng ở phương Đông mà thấy vào mùa xuân thì gọi là Nhiếp Đề, mùa hạ gọi là Trùng Hoa, mùa thu gọi là Ứng tinh, mùa đông gọi là Kỷ tinh.
Người ta còn phân loại sao chổi theo cái đuôi và xếp vào loại sao yêu quái, tùy ngũ hành và phương hướng:
- Đuôi hình nhọn, gọi là Thiên Ngô, Thiên Cách hay Giác tinh.
- Đuôi cong, sắc đỏ, gọi là Xi Vưu kỳ, cũng gọi là Oanh Cảm, Đảm Kỳ tinh, Mao Đầu tinh.
- Màu đỏ, đuôi như bó đuốc, mọc gần mặt đất, gọi là Nguyệt Hoa.
- Lớn, dài, đuôi dài mà không có sừng nhọn, có đèo, thêm ba sao ở đầu, khi ở cao khi xuống thấp, gọi là Chiêu Minh, tức Chiêu Dao.
- Giống sao Thái Bạch, đuôi như hai mũi nhọn, sắc trắng, mọc gần mặt đất ở hướng tây, gọi là Tư Nguy.
- Giống một thanh kiếm dài mọc ở hướng tây, gọi là Thiên Sàm. Có khi giống cánh cung giương thì gọi là Trương Cung tinh, Thương Ngân tinh hay Thần Xoa tinh.
- Mọc ở phương Đông, cách mặt đất chừng bảy thước, hình như mũi thương chĩa ra như cái tàn, mũi nhọn dài lòi ra, gọi là Năm Tần, nghĩa là chia ra năm phần. Màu đỏ như lửa, đôi khi xanh.
- Như tấm vải dính vào da trời, gọi là Trường Canh. Có khi như sợi chỉ dài, hoặc hai, ba sợi ngang thì gọi là Đới tinh.
- Màu đỏ, dao động, chiếu sáng, mọc cách đất chừng sáu thước về phía nam, gọi là Thiên Tặc.
- Giống sao băng hình mũi tên, màu xanh đen, xẹt ngang như con rắn có sừng, dài, thường xẹt xuống, gọi là Cuồng Thi.
- Ngắn, bên cạnh có hình như con chó chạy, trên nhọn dưới tròn, xẹt xuống như ánh lửa, đỏ hoặc trắng, có khi phát ra tiếng kêu, gọi chung là Lưu tinh, Phi tinh, Bôn tinh. Thái Ất gọi chung là Phi Phù hay Phi Điểu, sách binh pháp gọi là Thiên Cẩu hoặc Phao Giáng tinh.
Những tên gọi này được ghi trong bộ Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, chỗ nói về các sao yêu quái, và người xưa giữ kín cách xem. Sao yêu quái cũng hay lẫn với sao Thái Bạch, tức Kim tinh, quen gọi là sao Hôm. Còn sao Mai cũng chính là Thái Bạch, mọc vào lúc rạng sáng nên mang tên Thần tinh. Xi Vưu, người đặt tên cho lá cờ đỏ cong, là thủ lĩnh Cửu Lê thời Bách Việt, đánh nhau với Hoàng Đế, vị vua đầu tiên của nước Trung Hoa.
Loại sao rơi từ trời xuống gọi là Lưu tinh, loại chạy từ dưới lên gọi là Phi tinh, loại lớn gọi là Bôn tinh. Tất cả cùng chung một tên là Bội tinh và đều thuộc họ sao chổi.
Có năm bàn Thái Ất mang hai toán hụt cùng lúc. Năm Kỷ Sửu 629, toán khách vừa vô thiên vừa vô địa, toán chủ và toán định cũng vô thiên, và sao chổi dài xuất hiện hơn bốn mươi ngày. Năm Ất Sửu 1985 cũng vô thiên, vô địa, và sao chổi Halley hiện ra rõ nhất cho toàn thế giới nhìn thấy. Hai năm cách nhau hơn một nghìn ba trăm năm mà cùng một khuôn bàn, cùng một loại điềm trên trời.
Vô địa: khi đất không còn vững
Năm tính Kể gặp toán vô địa mà Thái Ất lại có tù, chặn, ép, kích, ếm thì mặt đất xảy ra nhiều biến đổi lạ: núi lở, đất động, sông cạn, nước lụt, nước dâng, sóng thần, sâu bọ, dân đói.
Năm Giáp Ngọ, 634, đời Đường Thái Tông, niên hiệu Trinh Quán thứ tám, Thái Ất đứng ở cung Cấn, số ba, giam Đại Chủ cùng ở cung ba và giam luôn Tham Khách cùng cung. Đại Khách ép ngoài ở cung Kiền. Tham Chủ giam Văn Xương ở cung Tốn, số chín. Toán chủ là ba mươi ba, thuần dương, vô địa. Toán khách là mười, cô dương, vô nhân. Toán định là ba mươi bốn, vô địa, không hòa. Năm ấy xuất hiện một con rắn cực lớn dài mười trượng, đất lở, vùng Hoài Nam bị lụt.
Năm Bính Dần 1986, ở châu Phi, khí độc từ hồ Nios phun lên trong đêm ngày hai mươi mốt tháng tám dương lịch, tràn xuống ba làng ven hồ và làm hơn một nghìn người chết. Người ở làng cách đó mười dặm mới phát hiện vào sáng hôm sau, còn chính quyền biết tin muộn hơn nữa. Làng thì gần như không còn ai sống sót, có làng chỉ còn một con gà. Bàn Thái Ất năm ấy có toán chủ ba mươi mốt vô địa, toán định hai mươi bốn cũng vô địa. Thái Ất cùng Đại Chủ đứng ở Kiền, số một, nên là giam, khách bị cắp. Văn Xương ở Cấn bị Đại Khách ở cung tám chặn nên chủ bị cắp. Thủy Kích ở Mão cùng Tham Khách là kích, là ếm. Cùng năm ấy, sông Hồng dâng, bão lụt gây thiệt hại lớn ở Thái Bình, Nam Định.
Năm Đinh Sửu 1997, toán chủ và toán định đều là ba mươi mốt, vô địa, Thái Ất lại có cách, ép trong, giam, kích, ếm. Chiều ngày mùng hai tháng mười một dương lịch, ngày Mậu Thân, trận bão lớn mang tên quốc tế Linda đánh vào vùng ven biển phía Nam Việt Nam và vịnh Thái Lan, sóng cao nhiều mét, tàu thuyền dạt lên bờ. Khi lập bàn riêng cho ngày ấy cũng thấy toán chủ hai mươi bốn vô địa, toán khách ba vô thiên, đủ cách, cắp, ép, chặn, giam, ếm, kích.
Năm Mậu Dần 1998 cũng mang toán vô địa cùng các thế kích, ếm, giam, chặn, cắp. Cuối tháng hai dương lịch năm ấy, gió lốc quét qua bang Florida và California, làm hàng chục người chết, hàng trăm người bị thương, nhà cửa đổ nát hoặc bị cuốn đi. Khoa học ngày nay gọi những biến cố thời tiết như nước biển nóng lên, cháy rừng, lốc xoáy là hiện tượng El Niño. Cái hụt của Đất cộng với những thế xấu chồng nhau thì mặt đất chịu thiệt đầu tiên, và sấm sét, nước lớn, gió dữ thường là những dấu vết cho thấy điều đó.
Vô nhân: khi lòng người đổi thay
Khi toán rơi đúng vào các số mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi mà năm ấy lại có ếm, giam, các thế xấu khác thì con người có biến đổi lạ thường: tranh chấp, lật lọng, dối trá, trộm cắp, loạn lạc, tật dịch, phiêu bạt, mất mùa, chết đói, lưu vong, giết hại lẫn nhau. Nhưng nếu gặp đúng kỳ Lý Nhân của Thái Ất thì cũng có thể có bậc kỳ tài, vĩ nhân, thiên tử hay thánh nhân xuất hiện để cứu đời.
Ở nước Việt, những năm bàn Thái Ất có toán vô nhân được ghi lại gồm:
- Năm Quý Tỵ 1413: Trương Phụ đánh vào Nghệ An, dân chết nhiều; các tướng Trần Quý Khoách, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy lần lượt tử trận hoặc bỏ mình.
- Năm Tân Sửu 1421: Lê Lợi đánh phá quân Trần Trí và quân Ai Lao.
- Năm Bính Tý 1456, đời Lê Nhân Tông: triều chính lộn xộn, đổ máu trong cung đình.
Ở Trung Hoa, năm Kỷ Sửu 809, đời Đường Hiến Tông, bàn Thái Ất cũng gặp toán vô nhân, kèm cả ép trong lẫn ép ngoài. Năm ấy xảy ra những cuộc giết chóc lớn, máu đổ thành sông ngay trong cung, dân đói khổ chết vô kể.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
