Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Việc gần, việc xa: hào Hưu, Phi Phục và cách tránh nạn

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202613 phút đọc1 lượt đọc
Việc gần, việc xa: hào Hưu, Phi Phục và cách tránh nạn

Có người biết trước chuyến đi sắp gặp nạn mà vẫn buộc phải đi. Quẻ không bảo họ ở nhà, nó chỉ cho biết nạn đến lúc nào, từ hướng nào và mang gương mặt ra sao…


Việc gần và việc xa: bốn tầng thời gian của một sự việc

Việc xa gần là cách gom chung tất cả những trạng thái phụ thuộc vào quy chiếu thời gian, vì bản chất của việc gần khác với việc xa.

Về nguyên tắc có bốn quy chiếu thời gian: Giờ, Ngày, Tháng, Năm. Việc gần được mặc định là những sự kiện tính trong hai quy chiếu Giờ và Ngày; việc xa tính theo hai quy chiếu Tháng và Năm. Sự khác nhau ấy hiện ra trong một số trường hợp: hào Hưu; Tiến thần với hào động suy; Thoái thần với hào động vượng; hào biến Hưu khắc hào động vượng; và sự việc không xác định thời gian mà Dụng thần vượng bị Nguyệt khắc.

Những trường hợp trên có điểm chung là trạng thái của hào sẽ thay đổi theo quy mô sự việc. Cách quy chiếu xa gần khác hẳn với nguyên tắc điểm bắt, dù cả hai đều phân biệt bản chất khác nhau của hào động trên cùng một trạng thái. Nguyên tắc điểm bắt chia một hệ quy chiếu thành hai giai đoạn, còn quy chiếu xa gần phân biệt từng quy chiếu thời gian riêng để quyết định bản chất của hào. Về cơ bản chúng giống nhau, nhưng ở từng tính chất của trạng thái lại có những khác biệt.

Hào Hưu: tuy không vượng không suy nhưng gần thì hỏng

Một hào yếu hơn Dụng thần không đủ sức khắc, nhưng vẫn đủ sức cản đường cho tới lúc nó biến mất.

Với hào Hưu, những việc mang tính sự kiện được chia làm hai mảng xa và gần: xa thì tính như Vượng, gần thì tính như Suy. Nhưng với trường hợp Hưu mà động, sự tác động đến các trường hợp Tiết, Sinh, Cừu thì tương tự các hào vượng khác. Riêng tình huống hào Kỵ thần là Hưu mà Dụng thần vượng, tức bản chất hào Kỵ thần động yếu hơn Dụng, thì ta xem hào Kỵ này không đủ sức khắc Dụng. Khi đó bỏ qua tính chất xa gần này, chỉ tính rằng trước thời điểm ứng kỳ của việc hỏi, việc phá hoại luôn xảy ra; nếu hào ấy khắc hào Thế thì bất lợi cho bản thân.

Lúc đó, thời điểm thành công của sự việc không nằm ở ứng kỳ của Dụng thần mà nằm ở thời điểm xung hào Hưu này. Bất kể nằm ở Giờ, Ngày, Tháng hay Năm, đều tính hào Hưu ấy mất đi, và sự việc thành công. Diễn giải ra thì sự kiện này trước khi thành công luôn gặp những trở ngại, bất lợi, mang đặc điểm của hào Hưu ấy. Muốn biết đó là ai thì tra các đặc điểm của hào theo Ngũ hành và Lục thân. Từ đó nếu muốn tránh, ta cứ tránh trước.

Lưu ý trong trường hợp này dù có tránh trước hay không, kết quả vẫn sẽ thành công. Nếu có thể dập tắt trở ngại ngay từ đầu thì tốt; nếu không, ta quy chiếu theo Nội và Ngoại rồi làm ngược lại, sẽ tránh được.

Can thiệp trước khi nạn đến: không gian, thời gian và con người

Biết một chuyến đi nguy hiểm thì dễ nhất là không đi, nhưng có những chuyến đi buộc phải đi.

Sự can thiệp ở đây được hiểu là việc thay đổi, hoặc sẽ thay đổi, hoặc giải quyết một mối nguy cơ xuất hiện, để kết quả cuối cùng của sự kiện không còn bất lợi so với điều ta mong cầu. Ví dụ ta biết chuyến đi này nguy hiểm, thì dễ nhất là không đi. Còn bắt buộc phải đi thì cần biết nạn đến lúc nào và từ đâu. Khi đến thời điểm ấy, ta tránh các vị trí, con người và các yếu tố có thể gây ra điều bất lợi, từ đó thoát nạn.

Câu hỏi đặt ra là điều ta biết có thật là tương lai không? Trong một môi trường tương tự, hoặc với người giống người, cái ta tránh có thật là điều gây hại không? Quy chiếu Nội và Ngoại đủ rộng để thoát khỏi câu hỏi này. Nội là khoảng không gian gần, Ngoại là khoảng không gian xa. Từ đó ta cứ quy chiếu theo tính chất việc hỏi: ví dụ đi xa thì khoảng không gian sinh hoạt cố định tính là gần, khoảng ngoài tính là xa, rồi từ đó xét các việc khác.

Một quẻ làm ăn: kẻ gây hại xuất hiện vào tháng Hợi

Tên của người ấy không hiện trong quẻ, nhưng dáng vẻ, tính nết và nơi chốn của họ thì có.

Ngày Đinh Tị, tháng Mão, có người hỏi việc kinh doanh. Quẻ là Thiên Sơn Độn hóa Hỏa Sơn Lữ. Việc đầu tiên là liệt kê rõ những gì có trong quẻ.

Lấy Nguyệt Mão làm Dụng thần sinh Thổ, thì về bản chất thị trường đang tốt, làm được. Nhưng Kỵ thần động khắc Dụng thần. Kỵ thần suy nhưng được hào biến sinh nên đủ sức khắc Dụng, tuy hiện đang bị Nhật hợp. Thời điểm xung hợp là thời điểm xung mất mối hợp, tức xung Tị, nghĩa là Hợi. Vào thời điểm Hợi sẽ xảy ra việc mất tiền, nguồn mất tiền đến từ yếu tố Huynh đệ Thân Kim hóa Phụ mẫu Mùi Thổ, lâm Huyền Vũ ở ngoại quái.

Ta liệt kê các đặc tính của hào Kỵ này.

Đặc tính một: Thân Kim là người da trắng, mắt sáng, tính bảo thủ nhưng biết giữ chữ tín. Vì chi Thân lại liên quan đến chuyện tiền, ta đoán người này bề ngoài thể hiện không phải người lớn, tức không phải người kinh doanh to, đại gia.

Đặc tính hai: bị hợp, tức bản thân người này hiện đang vướng vào một việc nào đó.

Đặc tính ba: lâm Huyền Vũ là người tham. Kết hợp với việc khắc Dụng thần, đó là người vì tham mà lừa mình trong chuyện kinh doanh. Thêm nữa Thế khắc hào động này; tuy hào không động nên không làm thay đổi bản chất, nhưng bản chất hào vẫn khắc Thế. Nghĩa là bản thân người hỏi đối với đối tượng này cảm thấy không vui, không thiện cảm ngay từ cảm giác ban đầu. Việc này rất quan trọng để xét người: cảm giác là thứ để nhận biết.

Đặc tính bốn: được Phụ mẫu Mùi Thổ sinh cho. Điều này ứng với việc đây không chỉ là cá nhân mà sau lưng còn có người khác với hình thái Mùi Thổ, cũng là người tham, chậm rãi, dày dặn, có xu hướng giúp người bên ngoài. Nhưng người này chỉ là nhân tố gián tiếp tác động qua hào động là Huynh đệ Thân Kim. Từ đó kết luận không phải một mà là hai người cùng tác động.

Đặc tính năm: ngoại quái, tức những mối quan hệ bên ngoài, hoặc ở xa.

Kết hợp ba yếu tố không gian, thời gian và con người, kết luận là: đến thời điểm tháng Hợi Thủy thì không đi xa làm ăn, cẩn thận với các mối quan hệ không có thiện cảm mang đặc điểm của Thân Kim được Mùi Thổ sinh, không cho ai mượn tiền hay nghe theo lời rủ làm ăn, không nhập hàng mới, những mặt hàng cũ thì kiểm tra kỹ lưỡng, cẩn thận khi giao tiếp với khách hàng, vì Ứng khắc Dụng. Làm được như vậy thì có thể thoát.

Những lời khuyên kiểu này, nhiều người đã làm theo và thoát nạn. Không có quá nhiều thông tin, cũng không cần điều huyền bí: chỉ cần đúng lúc và đúng không gian hợp lý là thoát.

Phi thần và Phục thần: ba điều khi một hào ẩn dưới hào khác

Ứng kỳ của hào ẩn nằm ở chỗ hào che nó biến mất, bất kể sự kiện tốt hay xấu.

Giả sử trong quẻ trên không lấy Mão làm Dụng thần thì sao? Ứng kỳ của Phi thần và Phục thần đều nằm ở thời điểm xung Phi nếu Phi cần, bất kể sự kiện ấy tốt hay xấu. Với ứng kỳ ở trạng thái đơn nhất, ta ưu tiên các trường hợp Không, Phá, Hợp trước, rồi mới đến Phi và Phục.

Phi Phục là trạng thái đơn nhất giống quẻ thông thường, chỉ khác ở chỗ ứng kỳ và tác động của Phi thần đối với hào Phục.

Thứ nhất, về ứng kỳ. Nếu Phi thần không có vấn đề gì, như không bị Phá, Mộ, Tuyệt, không bị Nhật Nguyệt xung, không bị khắc hay hóa khắc, không Hưu mà Tuyệt, thì ứng kỳ của Phục thần luôn nằm ở điểm xung Phi. Kể cả khi Phi sinh Phục, ứng kỳ vẫn nằm tại thời điểm xung Phi. Nguyên tắc tính ở đây là bản chất của chuỗi tác động giữa Phi và Phục được tách bạch khỏi ứng kỳ. Nếu Phi tạo ra trạng thái đặc biệt cho Phục, như là Mộ của Phục thần, thì lấy ứng kỳ là thời điểm xung Mộ. Nếu là Hình trong Tam hình thì lấy điểm xung Phục làm điểm hỏng.

Thứ hai, về tác động giữa Phục và Phi thần. Phi thần có tác dụng làm tăng bản chất hào Phục trong trường hợp sinh; làm hỏng Phục trong trường hợp Phục thần Hưu bị Tiết hoặc bị Phi thần khắc; Cừu thần không tính. Trong trường hợp Phục vượng, Phi không tạo tác động rõ rệt ngoài việc cung cấp thông tin. Nếu Phục được cả Nhật Nguyệt sinh, rồi Phi sinh thêm làm tăng bản chất Phục thành quá vượng, thì ứng kỳ nằm tại thời điểm nhập Mộ, chứ không phải xung Phi. Ngoài ra Phi thần còn làm điểm quy chiếu trạng thái cho Phục thần, bao gồm vòng Trường sinh và Tam hình; cách xem tương tự cách xem trạng thái Trường sinh, Tam hình khác.

Thứ ba, có một tình huống đáng lưu tâm về tác động của Phi lên Phục: Phi thần Hưu tự sinh cho Phục thần cũng Hưu tử. Khi đó nếu có hào động khắc Phi thần thì việc cũng hỏng, bất kể xa hay gần.

Về nhân sự, hào Hưu báo việc hỏng ngay, không cần xét xa hay gần. Trong thực tế, mọi tình huống Dụng thần Hưu tử mà hỏi tình duyên đều hỏng, nhân duyên cũng tàn. Đó là vấn đề của hào Hưu. Hào Hưu dễ tạo cảm giác sự kiện không xấu đến mức ấy. Thật ra không phải vậy: câu hỏi đã được đặt ra thì buộc phải có câu trả lời, ít nhất trong từng đoạn thời gian. Không có câu trả lời cũng được, nhưng nắm bắt tạm ổn thì lại rất nguy hiểm nếu đưa ra kết quả làm điểm tựa cho một quyết định nào đó.

Hưu có một trường hợp duy nhất về việc gần mà thành: hào Hưu mà Phục, khi đó nếu vì lý do nào đó Phi mất, thì dù Hưu vẫn tính là thành (ngoài việc nhân sự). Đó là trường hợp duy nhất.

Tiến thần, Thoái thần và hào biến Hưu: xa gần khác nhau thế nào

Cùng một hào động nhưng quy mô thời gian khác nhau thì kết luận khác nhau.

Tiến thần với hào động suy: quy tắc xác định xa gần chỉ đúng khi hào đi từ Vô căn đến Suy. Nếu hào Hưu tử thì xác định nhanh hơn một chút, tức là theo Ngày, Tháng, Năm. Với hào hóa Tiến mà Hưu, ta xác định dựa trên ba quy chiếu Ngày, Tháng, Năm; tại ba quy chiếu này mặc định hào động ấy vượng. Còn những sự việc cấp tập xảy ra theo Giờ thì không tính vượng được. Với Suy và Vô căn thì tính chung theo nguyên tắc: gần thì không tính vượng với Giờ và Ngày, xa thì tính vượng với Tháng và Năm.

Thoái thần với hào động vượng: trường hợp này chuyển ngược lại: gần thì tính vượng, xa thì tính suy. Nhưng có điểm khác biệt về ứng kỳ ở điểm gần và điểm xa: gần thì tính hợp và trực với hào động này, còn xa thì tính ứng kỳ vào chi sau, tức hào biến và thời điểm xung hào động. Mốc nào gần hơn thì lấy.

Hào biến Hưu khắc hào động vượng: thời gian gần thì tính theo hào động, còn ứng xa tính theo hào biến khắc. Điều này cần lưu ý kỹ vì thường dùng với quẻ đa động. Nếu bị Nguyệt khắc, ta vẫn tính đủ các tính chất của hào vượng đối với những sự việc xác định được quy mô, và ứng kỳ cũng như hào vượng thông thường. Chỉ với những sự kiện không xác định được quy mô mới xét theo nguyên tắc xa gần.

Những tình huống trên được xét với giả định các điểm ấy không rơi vào trạng thái có điểm ứng đặc biệt như Không hay Phá. Còn với các tình huống ứng kỳ đặc biệt, ta đều lấy điểm rơi vào các điểm đặc biệt ấy.

Bệnh tật: Tuần không và Lục xung chia bệnh gần và bệnh xa

Khi nói đến mạng người, xa gần không còn là chuyện lý thuyết.

Chuyện xa gần có liên quan đến một vấn đề đặc biệt là mạng sống con người. Khi bệnh, chẳng ai thích bệnh. Với những quẻ thông thường vẫn xem xa gần như trên, các trạng thái chỉ cung cấp thêm thông tin về tình trạng bệnh, còn khả năng chống chọi vẫn nằm ở bản chất vượng suy của Dụng thần. Ngoại lệ nằm ở hai trường hợp Tuần không và Lục xung.

Với Tuần không, dù động hay tĩnh, hay Dụng thần hóa Tuần không, hay Lục xung, hay hóa Lục xung, khi hỏi về bệnh thì bệnh gần sẽ khỏi mà bệnh xa sẽ mất. Thế nào là bệnh gần? Là bệnh trong vòng một tháng thì gọi là gần, còn lại là xa. Với trường hợp Lục xung hóa Lục hợp thì sao? Chỉ cần quẻ chính là Lục xung, hoặc quẻ biến là Lục xung, đều tính như vậy, bất kể là Xung hóa Hợp hay Hợp hóa Xung.

Việc xác định được phạm trù xa gần trong quẻ rất quan trọng, cộng thêm việc xác định được ứng kỳ trong trường hợp chưa đến phạm vi của trạng thái có tác dụng. Ví dụ trong tình huống gần, với hào Tiến thần suy khắc Dụng vượng, ta có thể mở đến thời điểm ứng kỳ của Dụng và hào động trước khi ứng kỳ vào phạm vi xa của hào Kỵ thần hóa Tiến, để thu lợi.

Nhưng điều quan trọng nhất khi kiểm soát với Dịch là phải vượt qua chính bản thân mình: không thấy lợi mà ham, và phải chuẩn bị tất cả các phương án có thể để rút lui trước khi điều không hay xảy ra. Vì tương lai, ai cũng như ai, chỉ biết chính xác khi nó đã xảy ra. Lúc đó, đã quá muộn.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán