Bài tổng quan
Thông Càn, lưu Khôn, độn Giáp: nghĩa mười can trong chín cung
Mọi con số đều phải có một chỗ bắt đầu, và với Thái Ất đó là cung Kiền, nơi số Một Cả đứng dậy để đi qua chín cung. Từ chỗ ấy, sao đi, can chi đi theo, và mười can mang theo mười nấc sinh diệt của vạn vật. Vì sao chín sao lại phải mượn mười can, và phải độn đi một chữ Giáp…
Mọi con số đều phải có một chỗ để bắt đầu, và với Thái Ất, chỗ ấy là cung Kiền, nơi số Một Cả đứng dậy để đi qua chín cung. Từ chỗ đứng đầu ấy, sao đi, can chi đi theo, và mười can của vòng sáu mươi mang theo từng nấc sinh diệt của vạn vật. Người xưa gọi đó là thông Càn, lưu Khôn, rồi độn Giáp.
Cung dương, cung âm và cung thuần
Con toán âm dương, ngũ hành của Thái Ất phối vào chín cung và mười sáu thần, cùng Thái Cực, ba thần và năm tinh, khiến nguyên khí chuyển thuận, thống hội ba nguyên và năm hành ở dưới, để Thái Ất lưu hành hai phần cương nhu. Bốn thời khí chia thành mười hai địa chi, rồi phối với chín cung mà thành mười sáu thần gián.
Khi Thái Ất, Văn Xương, Thủy Kích và các Đại Tướng, Tiểu Tướng chủ khách đứng ở cung một, tức Kiền, thì gọi là thuần dương, hay đơn dương. Khi đứng ở cung chín, tức Tốn, thì gọi là thuần âm, hay đơn âm. Trong chín cung của Thái Ất, các cung tám, ba, chín, bốn là cung dương. Các cung hai, bảy, sáu, một là cung âm. Chín cung Thái Ất lưu hành khác số với chín cung của Hà Đồ. Cung một mang tên Kiền, làm Âm Đức.
Cung Kiền: số Một Cả khởi hành
Từ chữ Thái là kinh, chữ Ất là số đầu hết, và hai chữ ấy ghép lại thành con số đứng trước mọi con số.
Cung Kiền thống lĩnh cả Trời, Đất, Người để dự đoán về tương lai. Vì từ gốc nguyên bản, chữ Thái là Kinh, chữ Ất là số đầu hết, tức số Một Cả. Kinh hành chín cung nên khởi từ Kiền. Số Một Cả dẫn đầu như để tạo phân trời đất và hóa muôn vật, theo luật Pháp, phi pháp, phi phi pháp, trong cụm Dẫn một cực ba. Lão Tử cũng phát tưởng như vậy khi nói rằng Đạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật. Trang Tử cũng diễn lại: Một với Nó, tức Đạo, là Một. Ý ấy tương đồng với phép toán nhị nguyên mà Leibniz phát minh ở thế kỷ mười tám, lấy hai ký hiệu không và một, trong đó không tương đồng với Đạo, với Nó, với vô vi nguyên, vô vi cực, và hợp thành cụm không cộng một. Nếu dùng ký hiệu âm dương thì vạch đứt ứng với số không, gọi là âm, vạch liền ứng với số một, gọi là dương. Cụm không cộng một chính là âm dương diệu hợp.
Kiền một là số đầu của Thái Ất, nó dùng để sinh hóa muôn vật, nên cần phải có ba số trong số khí: sinh, thành, tuyệt của âm dương diệu hợp. Ba khí số ấy cùng một gốc xuất thiên thổ địa, theo phép tượng số, số là tượng, tượng là số, trong Hà Đồ, Lạc Thư, qua hai câu:
Hà Đồ dĩ thông Càn xuất thiên; Lạc Thư dĩ lưu Khôn thổ địa.
Nghĩa là sao trời lấy cái thông Càn làm chỗ đầu để sinh ra số đầu. Sách Lạc ứng vào số sáu làm chốn sinh, thành, tuyệt ở một gốc, và đó là lý do Thái Ất chủ khách khởi ở Kiền, gọi là dẫn một cực ba. Theo bảng sao trời trong Hà Đồ thì số một ở Khảm, số sáu ở Kiền, dùng cho chín sao quý cùng khởi để hành làm Trực Sự, qua chín số: một ở Khảm, hai ở Khôn, ba ở Chấn, bốn ở Tốn, năm ở giữa, sáu ở Kiền, bảy ở Đoài, tám ở Cấn, chín ở Ly.
Theo đường âm sinh, cung Ngọ là chỗ âm bắt đầu sinh, gọi là một âm sinh. Đến Tuất thì là đơn âm, đến Hợi thì là thuần âm. Sức của khí âm đến Tuất, Hợi là tuyệt. Vậy âm tuyệt tại cung Kiền thuần dương, tức Kiền là chỗ âm tuyệt mà lại tuyệt trong dương. Vì Tuất và Hợi là thần gián và là chỗ âm tuyệt nên hai thần gián này cũng hợp số với cung Kiền. Người xưa còn gọi cung Kiền là Thiên Môn, chủ về công của Âm Đức khi Thiên Đạo, Địa Đạo, Nhân Đạo cùng thành tài, cũng là đức dẫn đầu, tức Càn đức. Thế gọi là thông Càn, nên Kiền còn mang tên Càn Đức, đức dẫn đầu.
Thông Càn rồi mới lưu Khôn
Nếu không có thông Càn, tức khi Văn Xương bị tù, bách, hiệp thì tượng làm đạo vua, đạo cha, tượng làm trời, tượng làm gốc sinh ra đầu số của dãy chín số, không thể dẫn lối cho Lý Thiên, Địa, Nhân, tức ba năm một cung của Thái Ất trong ba đạo Tam Tài. Từ đó pháp độ mất tính ưu việt, thành phi pháp, phi phi pháp, nghĩa là không phải pháp độ mà cũng không phải là không có pháp độ, với ý rốt ráo là pháp của Trời, phép phi thường. Đó là tính ưu việt của lý số.
Chỉ khi đã thông Càn thì mới hiểu đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng. Vì thông Càn rồi, tự nhiên biết Khôn, biết phép lưu Khôn, để xoay vần hai số sáu và chín. Vì đạo Khôn tiếp nối đạo Càn: Càn làm cha, Khôn làm mẹ. Số của Càn là một, thuộc số kỳ, số lẻ. Số của Khôn là sáu, thuộc số ngẫu, số chẵn. Cả hai là hai sức diệu hợp, như sức âm đức, sức tàng ẩn trong nguyên ủy là Đạo. Khi đem ra dùng, số sáu ứng làm Khôn, tức lưu Khôn, làm Địa Hộ. Có Địa Hộ hợp với Thiên Môn Càn thì mới có sinh thành.
Phép dùng sáu hào gọi là lục, dùng chín gọi là cửu. Quẻ âm Khôn dụng sáu, quẻ dương Càn dụng chín. Vì thế khi lĩnh hội đúng câu thông Càn xuất thiên thì tự nhiên trạng thái Bĩ Thái của trời đất truyền được tới con người, thành đạo phụ mẫu, đạo nam nữ giao thành vợ chồng. Đạo vợ chồng hoàn thành nhờ phép lưu Khôn, trong câu Bao Lạc dĩ lưu Khôn thổ địa. Thế là âm khôn sáu diệu giao hòa hợp với dương càn chín để thành một Bao Lạc, tức một bào thai, mà cụ Nguyễn Du dùng đạo văn chương để phát tưởng: Mai cốt cách, Tuyết tinh thần. Lý khí âm dương sinh hóa, thành trưởng, tuyệt tàn đều thuộc về Càn Đức, Âm tàng. Về số thì giản dị là một và sáu, tức sinh và thành, tàng ẩn số độ trời đất, nên sinh số dùng cho Thái Ất chủ khách khởi ở Càn để hành kinh.
Độn Giáp: vì sao chín sao phải mượn mười can
Có một then chốt nữa trong sự diệu hợp từ thông Càn đến lưu Khôn: khi nguyên khí Thái Ất dẫn một cực ba, chín sao quý đi vào can chi để tạo nên hệ thống bội số chung. Mỗi sao trong chuỗi chín sao quý làm nhiệm vụ ứng sử của cung tinh, tức Trực Phù. Trực Phù là sao phối hợp với Thái Ất để dùng việc. Mỗi vòng lớn của sao quý là chín trăm năm, vòng nhỏ là chín mươi. Số chín mươi là bội số của chín nhân với mười, mà Trang Tử xếp vào câu nói ngụ ngôn thập cửu. Số chín đơn là số biến cuối cùng, tượng của cái cong, cái khuất, nên gọi là cửu.
Nhưng vì mỗi sao quý đóng ở một trong chín cung mười năm rồi mới rời sang cung khác, trong khi nhiệm vụ của Trực Phù phải hành qua mười can, mười hai chi theo thứ tự để chuyển nguyên khí vào muôn vật tại Lưu Khôn sáu. Lưu Khôn sáu mang chín tên: Lục Mậu, Lục Kỷ, Lục Canh, Lục Tân, Lục Nhâm, Lục Quý, Lục Đinh, Lục Bính, Lục Ất, và không có Lục Giáp. Theo thứ tự vòng sao chưa dịch thì Lục Quý ứng vào sao Thiên Tâm. Khi biến sang số bảy thì thứ tự can chi cũng biến, chỉ dùng Lục Đinh, Lục Bính, Lục Ất mà độn Lục Giáp, độn ẩn, để ứng với chín sao quý. Vì can có mười số, sao quý có chín số, nên phải độn đi để có phối ứng.
Lý do phải độn Giáp là Giáp là đầu của Trực Phù, là sử tinh cung của Trực Phù, và vì Trực Phù phối chín cung nên phải dùng bội số chung chín mươi. Còn căn bản của con số về lý thuyết thì phải có hòa hợp. Con số sáu đóng vai trò thích hợp nhất vì bội số của nó là sáu mươi, ký hiệu bằng các bội số chung nhỏ nhất của hai cặp năm và mười, sáu và mười hai. Cặp bội số chung ấy dùng được cho các số theo luật âm dương, trong đó số âm là số chẵn, số dương là số lẻ. Lấy số dương năm nhân với số âm bội mười hai, tức mười cộng hai, thì được sáu mươi, để gọi can chi phối hợp thành vòng sáu Tuần Hoa Giáp. Sáu tuần Hoa Giáp bao gồm mười can và mười hai chi phối nhau cho hết vòng, cuối cùng Quý và Hợi phối nhau, đúng vào số sáu mươi.
Mười can, mười nấc của vạn vật
Mười chữ can đi qua như mười hơi thở của một mùa vụ, từ hạt nứt mầm cho đến hạt trở về lòng đất.
Chữ can chỉ ngày, chỉ dương khí. Mỗi can mang một nghĩa tượng trưng:
- Giáp: vạn vật sưng phù như hạt nứt mộng để chồi xanh ló ra.
- Ất: số bắt đầu diễn xuất độ sinh của vạn vật, tức thấy được sự xuất hiện, sự sinh, vì dương khí còn ẩn.
- Bính: sáng đẹp, đạo dương sáng sủa, vạn vật đã rõ ràng.
- Đinh: hỏa thịnh, vạn vật tươi tốt, khỏe mạnh, dương đã mạnh.
- Mậu: phong thịnh, vạn vật tới chỗ phong thịnh, tức đạt thành.
- Kỷ: đi vào nề nếp, nghĩa là không làm gì được riêng cho mình, tức vô vi.
- Canh: canh cải, biến đổi, vì vạn vật đã tới lúc quá sung mãn, dư thừa, thì phải đổi thay.
- Tân: vạn vật đến lúc phải ngừng lại thì mới còn sáng sủa, nếu không thì vì quá rậm rạp tốt tươi sẽ sinh ngưng đọng, vì lẽ âm cực sắp đổi mới.
- Nhâm: vạn vật nhờ âm khí nuôi dưỡng mà được nhàn rỗi, nay âm khí buộc phải lùi vào ẩn sâu trong đất để khí dương sinh ra, như người đàn bà mang thai, chữ nhâm thần.
- Quý: vạn vật ở mức cuối cùng trên đường trần phát, nay phải đi về đúng chỗ về của nó, tức sở quy, chỗ dứt điểm để có thời sắp phát sinh.
Vì thế Quý và Nhâm như tàng phục, tàng ẩn, tuyệt khí để phục sinh. Mười can cũng ứng với thân người: Giáp, Ất ứng đầu và cổ. Bính, Đinh ứng hai vai và ngực. Mậu, Kỷ ứng bụng. Canh, Tân ứng hông và mông. Nhâm, Quý ứng chân.
Đường vận hành của nguyên khí
Chín cung quý thần của Thái Ất phối biệt với mười hai chi thần gián, tạo thành bầu trời mười sáu thần Thái Ất. Đường vận hành của nguyên khí theo âm dương thành hai loại vòng: vòng dương đạo và vòng âm đạo, vòng trong và vòng ngoài, tạo ra một trật tự hiện tượng và số độ chạy ngang dọc như nét vẽ của hình sao chạy lên chạy xuống. Đường ấy được gọi là Thời. Thời của các cung trong, trợ chủ, đi từ Kiền tới Thìn, gồm các số một, tám, ba, bốn. Thời của các cung ngoài, trợ khách, đi từ Tốn tới Tuất, gồm các số chín, hai, bảy, sáu. Bốn cửa là bốn góc: Tuất, Kiền, Hợi là một cửa. Sửu, Cấn, Dần là một cửa. Thìn, Tốn, Tỵ là một cửa. Mùi, Khôn, Thân là một cửa.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
