Bài tổng quan
Quầng trăng, gió bão và tai ương Thái Ất báo trước
Một vầng trăng quầng, một ngọn gió lạ lúc đầu mùa, một đợt mưa dầm vô cớ: người xưa không ngắm mà đối chiếu từng thứ với vị trí các sao. Bài ca nhặt hạt châu ngoài biển ghi những điều ấy bằng thơ, từ mưa nắng sang tai ương, từ tai ương sang vận của vua…
Mục lục · 8 phần
- 01Thiên Hoàng và Thái Ất: gió, quầng và hướng mưa
- 02Thiên Thời, Thiên Tôn, Đế Phù, Phi Điểu
- 03Bát phong, ngũ phong, tam phong
- 04Thái Tuế và Thái Ất: vua và tướng của một năm
- 05Đại Du, Bốn Thần, Thiên Ất, Địa Ất, Trực Phù
- 06Mới Kích đi qua hai mươi tám vì tú
- 07Ba lá cờ: đỏ, đen, xanh
- 08Chín sao Trực Phù và vận của chín cung
Người xưa nhìn trời không phải để ngắm. Một vầng trăng quầng, một ngọn gió lạ lúc đầu mùa, một đợt mưa dầm vô cớ đều được đem ra so với vị trí các sao trong Thái Ất. Bài ca nhặt hạt châu ngoài biển ghi những điều ấy bằng thơ, kèm lời chú, từ thời tiết sang thiên tai, từ thiên tai sang vận nước và vận vua.
Thiên Hoàng và Thái Ất: gió, quầng và hướng mưa
Khi Thiên Hoàng hợp với Thái Ất ở cung vượng tướng thì gió thổi khắp bầu trời trong thiên hạ. Hợp ở cung dương thì mặt trời có quầng, hợp ở cung âm thì mặt trăng có quầng. Trời quầng thì gió lớn nổi ở phương Đông. Trăng quầng thì gió khởi ở cửa phương Tây, nơi Thái Ất hợp Thiên Hoàng. Phương Nam thì mưa lớn, phương Bắc thì mù mây. Khi Thiên Hoàng và Thiên Tôn hợp lại, mưa mù biến khắp, mặt trời mặt trăng đều có biến. Khi Thiên Hoàng hội với năm gió thì gió tơi bời. Khi Thiên Hoàng hợp với chim bay, tức Phi Điểu, thì mưa âm. Khi hợp với Thiên Thời thì trời u ám.
Thiên Thời, Thiên Tôn, Đế Phù, Phi Điểu
Mỗi vị sao nhỏ đứng cạnh Thái Ất lại chọn một kiểu thời tiết riêng.
Thiên Thời hợp Thái Ất ở cửa vượng thì hoặc có mây gió, hoặc còn âm u. Hợp ở đất vượng tướng thì mưa âm u. Thiên Tôn hợp với Thái Ất, gặp phương vượng tướng và âm thì mưa rét nhiều. Ở cung bốn và cung tám, trời quầng. Ở cung sáu thì âm u. Ở cung hai thì rét đều, tức dương hàn. Khi Thiên Tôn hợp Phi Điểu thì hoặc mưa nhỏ mà ấm, hợp Đế Phù thì gió mạnh mưa nhỏ.
Đế Phù ví như cùng về cung với Thái Nhất, lại được phương vượng thì gió dập mây mù, báo hiệu mưa bụi bay. Gặp Văn Xương thì trời biến, gió luồng mù mịt âm u. Khi Thái Ất và Đế Phù cùng lâm cung dương thì tạnh ráo, trời hạn khô. Khi vào cung âm thì mờ ám và mưa.
Phi Điểu hợp với Thái Nhất ở cung một, nếu được ngôi vượng tướng thì khí đất hôn mông. Phi Điểu hợp với Thiên Hoàng thì gió tung. Phi Điểu cùng Thiên Tôn thì tạnh ráo. Phi Điểu cùng Thiên Thời thì chủ âm. Nếu vào cung chín và sáu thì trời quầng. Thiên Hoàng đi với gió ấm quá chừng, xưa nay vẫn thế. Năm hành hợp nhất ở phương vượng thì gió cuồng, khí tối, mưa phùn, đại hàn, trời trăng biến đổi. Ngũ phong, Thiên Tôn, Thiên Mục cùng ban với năm hành. Gió âm nhẹ hợp với Phù Tinh, gió hiu hiu, mưa bụi thì do Ngũ Hành và Bát Phong.
Bát phong, ngũ phong, tam phong
Tám gió hợp với năm gió thì gió lớn. Hợp với Thiên Tôn thì mưa lũ. Hợp với Đế Phù thì mưa dầm. Thiên Hoàng và Thiên Thời thay nhau biến thì âm trầm, trời trăng có biến. Gió nhiều thì dương hợp, mưa nhiều thì ở cung âm. Điều ấy áp dụng khi tám gió hợp với Thái Nhất.
Năm gió hợp với Thái Nhất, gặp phương vượng tướng thì trời trăng đổi sang sắc hồng, báo có biến. Phù thì gió lớn, Điểu thì gió độc. Gió hiu, mưa bụi theo cùng, Thiên Tôn thì mịt mù, gió nhỏ bon bon. Năm gió cùng Thiên Mục, tức Văn Xương, thì đồng cửa chung.
Ba gió, khi Thái Nhất lâm đất vượng, thì mặt trời mặt trăng bị khuất, bốn phương tối sầm. Khi Thiên Tôn hay Đế Phù hợp với ba thần gió thì Tôn cho mưa gió tối, Phù cho râm tối mờ. Thiên Mục thì hơi tối lại có mưa. Khi ba gió tụ cùng năm gió và Thiên Hoàng thì thấy âm u chuyển vần.
Thái Tuế và Thái Ất: vua và tướng của một năm
Từ chuyện mưa gió, mạch thơ đổi sang chuyện nhà vua, vì với người xưa, hai thứ này nằm chung một sợi dây.
Thái Tuế là tượng khí của vua trên. Gặp xung thì vua chẳng được yên bao giờ. Khi Thái Tuế đứng trước Thái Nhất, năm dương thì tai nạn nặng, năm âm thì qua loa. Khi Thái Tuế đứng sau Thái Nhất một cung, năm dương nạn nhẹ, năm âm thêm nặng. Miền Tuế Xung kéo từ Ngọ đến Hợi. Trong năm ấy sát khí lồng bên trong, nước dâng, giặc, bệnh, lưu vong, hoang tàn. Còn những năm khác, khí sống an, dù xung cũng chẳng gặp cơn gì. Thái Ất lâm vào thì tai nạn không giữ được. Ngoài việc suy ba lẽ trời, đất, người, còn phải suy cung thần.
Thái Nhất là tượng vua, lúc chiến thì là tướng giỏi. Tới đâu đấy có nắng, giặc giã, bệnh tật, nên rõ lý Trời, Đất, Người mà quyết. Đói, khô, nước, lửa chồng chất gặp nhau. Khi cùng Kim thì có binh cách. Khi cùng Đất thì gần tai ương. Cùng Phúc, Quân thì vua ít nạn. Khi dùng binh nên tránh những thế thường mà không sai. Thái Ất cùng Thiên Ất, Địa Ất, Đại Du hợp lại thì dân Di chết hại.
Nếu Thái Ất cùng Nền Dân thì đói nặng. Cùng Nền Thần thì dân chẳng lợi ở phương này. Cùng Bốn Thần thì nước, hạn, đói. Cùng Phù thì binh cách. Thiên Ất cùng Thái Ất thì tai trời. Địa Ất cùng Thái Nhất thì khô hạn, cỏ cây xơ xác. Thái Ất mà gặp thế tính, bách, yếm thì quyền thần mưu tiếm ngôi, phép cầu đảo phải chí thành, vua phải thân hành cầu kêu. Nếu Thái Nhất tám năm gặp thế bách cách thì rất ngặt nghèo, thế tuyệt, thế dịch, thế kích, thế yếm đeo neo chập chùng. Nếu chín dương và một trăm lẻ sáu gặp nhau, hạ nguyên và trung nguyên hợp, nạn sẽ trùng trùng, thậm chí công phạt soán giết.
Đại Du, Bốn Thần, Thiên Ất, Địa Ất, Trực Phù
Đại Du là thần Kim, khi tới thì đất tan hoang. Nếu cùng Năm Phúc thì nạn chuyển sang đối xung. Nếu có Cơ đồng xung thì giảm nửa đao mâu. Nếu Tiểu Du đồng cung thì binh có hiện tượng lạ, nước, sầu, nỏ, tang. Nếu Phù đồng thì lửa hạn binh đao. Nếu Thần đồng thì nắng hạn, người rủ nhau bỏ làng. Nếu Địa đồng thì trộm cướp, lúa sâu, cây không mọc. Nếu Trời đồng thì binh cách và rầu rĩ. Đại Du ở các cung một, tám, ba, bốn là phần dương: ngoài yên nhưng trong nước loạn hoang. Ở các cung chín, hai, bảy, sáu là phần âm: nước ngoài loạn lạc mà trong yên hàn.
Bốn Thần chủ bệnh tật gian nan, phải xét sinh vượng mà bàn khắc hình. Bốn Thần gom với Thiên Ất, Địa Ất, Trực Phù đều là thần Nước. Nếu gặp đất kích khắc thì vua không có đạo phải chết, nếu không thì nạn nước, hạn, binh cách, hung hoang, trộm cướp làm hại. Nếu gặp đất sinh vượng có khí, có đạo thì được tốt lành, tai ương giảm hết. Như Thái Tuế gặp đất Thìn, Tuất mà Bốn Thần lâm cung năm, hoặc Thái Tuế gặp Sửu, Mùi mà Bốn Thần đến cung ba hoặc bảy, thì gặp khắc kích. Thái Tuế ở Tỵ hoặc Ngọ thì Bốn Thần tới cung chín là gặp khắc kích. Cao thấp lấn nhau, trên dưới đảo ngôi, mất thứ tự thì tai nạn nảy sinh.
Nếu Bốn Thần cùng Tiểu Du thì dịch, nước, đói thảm. Cùng Đại Du thì loạn lạc, dân đổ xô sang phương xa. Cùng Địa Ất thì nước nổi quá cao. Cùng Thiên Ất thì mưa lắm. Cùng Trực Phù là hạn binh. Cùng Năm Phúc thì nạn lánh, phúc sinh. Cùng Nền Quân thì lúa bốn mặt thành kém thu. Cùng Nền Thần thì nước hạn đói bu. Cùng Nền Dân thì khốn khổ, cơ đồ tan hoang.
Thiên Ất là thần Kim giữ việc binh cách. Tới đâu thì cướp trộm, binh tang, trời thu xơ xác, tuyết sương lạnh lùng. Nếu cùng Đại Du thì đói loạn tàn. Nếu cùng Tiểu Du thì kẻ dưới lấn người trên, lộn sòng. Nếu cùng Thần thì binh giặc kết nên, đò xe nghẽn lối, sương chèn tuyết pha. Nếu cùng Phù thì đói hạn giặc phá. Nếu Địa Ất cùng Thổ, Mộc thì người bỏ phế việc nông tang, binh giao, thù kết, hại hung dân sầu.
Địa Ất thì bệnh chuyển tạng đau, dân hoang, lúa gặp dịch sâu, trộm cắp, nước hạn, thổ công, người tai, lúa hại. Nếu cùng Trực Phù thì nước hạn lao đao, người thì tật khốn, đất đào quái yêu. Cùng Tiểu Du thì bạo ngược. Cùng Thổ, Mộc thì trộm cướp sinh sôi nhiều. Cùng Đại Du thì dân lưu đào, binh tang, trộm cắp xôn xao xóm làng.
Trực Phù thuộc lửa, mang hạn lụt, sâu, dịch lây, lửa phá, giặc mang tai về. Nếu sinh vượng gặp Thái Ất thì có khi gió lửa, giặc giã, dân chẳng an. Cùng Đại Du thì chẳng yên lành, dân phiêu bạt vì giặc, lúa hại, lửa tràn. Cùng Thần thì trật tự khôn coi, dịch lây, nước, hạn, đói dài, binh qua.
Mới Kích đi qua hai mươi tám vì tú
Hai mươi tám vì tinh tú như hai mươi tám cánh cửa, mỗi lần Mới Kích đến một cánh thì một điều lạ xảy ra.
Giác và Cang: khí không đều, lúa sâu, mưa đá, binh kéo, hạn, nung. Đê: biến khởi từ ngoài vào trong, xa thì phòng tôi tớ, gần thì phòng lửa lan. Phòng: động đến quân quyền, vua với tướng, tướng lòng lo âu. Tâm: trong có âm mưu, thân vương và thái tử gặp nạn lưu lạc. Vĩ và Cơ: chuyện của hậu chúa và quân soái, hoặc miệng tiếng, hoặc đành lưu vong. Đẩu: cầu và quan ải không thông, đại thần hết lộc hết quyền. Ngưu: hy sinh chết không toàn, thóc cao gạo kém, dân đen đói. Nữ: vóc lụa gieo neo, thích thân hoàng hậu có chiều đổi thay. Hư: tội được tha, chính sách cải đổi, lệnh bị rẩy, chư hầu có loạn. Nguy: nhiều than thở, âm u, nhiều bệnh liên quan đến mồ mả. Thất: tổn lúa, người gian lo. Bích: lửa văn chương, giặc kiêu, binh tàn. Khuê: trong phòng khuê có người chết nghiệt. Lâu: nhiều trộm cướp, tuyến đường không thông. Vị: lúa không chín.
Mão: lửa hồng sáng soi. Tất: săn bắn nơi cõi Di ngoài. Chủy: coi chuyện tôi phần, toi loài ngựa trâu. Sâm: cung thất lo âu, lúa phải phòng mưa đá, âm dương không hòa. Tỉnh: đao thương, nước làm hại lúa. Quỷ: dân lưu tán, bệnh, tiêu cháy, hậu phi thế đổ quyền khuynh, vải bông đắt đỏ che mình khó khăn. Liễu: dân đói khổ điêu tàn. Tinh: lo lửa cháy, trời gây tai. Trương: lễ nghĩa biến. Dực: không hợp, trời lắm mưa. Chẩn: Ngụy lập ngôi vua, gây điều chết chóc rồi thở than.
Ba lá cờ: đỏ, đen, xanh
Xích Kỳ, cờ đỏ, mang khí hại, khởi từ Hợi và Thân, sau về Dần, chuyển ngược qua bốn cung mạnh Hợi, Thân, Tỵ, Dần. Qua Hợi thì nước, địch. Qua Dần thì mộc công. Qua Thân thì nóng lạnh, binh nhung. Qua Tỵ thì nắng nỏ, vật hung, người tàn. Xem chi còn phải xét thêm can, năm hành sở thuộc, gian nan như thế.
Hắc Kỳ, cờ đen, khởi từ Hợi, mỗi bước ba tuần, một tuần là mười năm, nhân ba. Đi ngược qua cả mười hai chi, ba mươi sáu kỳ đủ một chu thiên. Khảo nhỏ ba năm, khảo lớn chín năm, nhỏ đói ít, lớn đói nhiều. Lẽ trời gió thổi mây vần, lẽ người bệnh thận, lẽ đất nước to. Đến Dần, Mão thì đêm tối mò, quyết âm làm bệnh, trời trăng mất sáng. Gặp Tỵ, Ngọ, Bính, Đinh thì nắng, sâu, mưa gió, đắng cay tơ vừng. Canh, Tân thì băng tuyết lạnh lùng, trong dân cướp bóc. Hợi, Tý thì nước phun rào, đói cào. Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì đất bồi, nông trở tối tăm.
Thanh Kỳ, cờ xanh, mỗi năm rời một bước, từ Hợi qua Tý thuận chiều. Lạ thường thì hại lúa, nước to. Mười hai năm là một chung. Bốn chung, tức bốn mươi tám năm, đổi mới bỏ xưa. Chín chung, một trăm lẻ tám năm, dân tàn. Mười hai chung, một trăm bốn mươi bốn năm, binh đao tràn ngập. Giáp, Ất, Dần, Mão thì lụt nối, mưa đá, lúa khó ngóc. Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ thì lửa nung, dân nhiễm bệnh, tin lửa bùng cháy. Mậu, Kỷ, Sửu, Mùi, Tuất, Thìn thì việc thổ công hưng thịnh, vườn bồi, trong trọng thơ phú, ngoài điểm trung lương. Canh, Tân, Thân, Dậu thuộc Kim thì tuyết sương, trộm cắp, dịch xâm nhập dân. Hợi, Tý, Quý, Nhâm thì núi sông, nước nổi, mưa dầm.
Đỏ và xanh cùng hội thì tai khinh khiến chu tuyển nạn. Khi ba cờ họp lại càng nặng. Bốn năm mạnh, tức Dần, Thân, Tỵ, Hợi, cứ ba năm đổi tiết một lần, tai nạn thành từ đầu năm. Khi ba cờ hợp Giáp, Ất thì xuân nước lên, hè hạn, thu sấm, đông miền tuyết sương. Lúa khô, cỏ héo, cây tổn, người dịch lệ, thú toi bệnh. Hợp Bính, Đinh thì nước hạn trái thời, lửa thiêu, trộm cắp, tằm còi, ruộng khô. Hợp Mậu, Kỷ thì đất thô, lúa vừng hiếm, người chờ đói. Hợp Canh, Tân thì nước hạn, sương gần, thiếu ăn, lúa tổn, cây cần, giặc phá. Hợp Nhâm, Quý thì nước lụt, muối thiếu, gạo kém, cá khan. Mọi thứ đều theo can chi của Thái Tuế. Đến kỳ đổi chung phải xét năm hội họp. Nếu can chi ở dưới Tuế Hình thì năm bị ương, hoặc thái quá, hoặc bất cập, ở số chung trước sau một hai năm.
Chín sao Trực Phù và vận của chín cung
Chín sao lành dữ cần được tư lường, mỗi cung ảnh hưởng trong một trường mười năm. Khi tới phận dã thì xem tai nạn, lấy sự suy vượng của năm hành mà quyết. Giáp đứng đầu, chín sao đứng trên, sao nào thuộc cung nào thì hỏi can niên.
Thiên Bồng, lục Mậu, cung Kiền: khuấy động, nên có đổi dời. Thiên Nhuế, lục Kỷ, cung Ly: trộm cướp nổi lên, giáp binh rối bời. Thiên Xung, lục Canh, cung Cấn: can qua sát phạt, nhiều phương. Thiên Phụ, lục Tân, cung Chấn: giữ gìn năm thứ lúa, lẫm thương chất đầy. Thiên Cầm, lục Nhâm, ở giữa: giết chóc dữ. Thiên Tâm, lục Quý, cung Đoài: tay phạt người, đạo hiệu lệnh trong cung thường soi sáng. Thiên Trụ, lục Đinh, ở trong cung Khôn: cột trời. Thiên Nhậm, lục Bính, cung Khảm: phần âm lại mang hình nữ lưu. Thiên Ương, lục Ất, cung Tốn: đức dương gọi chúa, lời chiều quân vương.
Trong chín sao ấy, nếu có Thái Nhất nương theo, rồi bách, tù, cách, kích, ếm nhường chỗ cho đề, hiệp, tính, thì tai biến nằm trong khoảng chuyển vần, sao nào việc nấy theo tuần không sai. Ví dụ Thiên Ương là đức dương, tượng vua, nếu gặp ép, ếm các biến thì vua phát tai nạn. Thiên Tâm giữ việc đánh phạt kẻ không đạo, nếu gặp ếm, ép các biến thì dấy quân đánh phạt nước khác.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
