Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Phản ngâm, phục ngâm và cách tìm ngày ứng nghiệm của hào

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Phản ngâm, phục ngâm và cách tìm ngày ứng nghiệm của hào

Có những quẻ chẳng có quá trình để kể, chỉ có một ngày để biết. Ngày ấy nằm ở chi nào còn tùy hào đang tĩnh, đang động, đang Không hay đang nhập mộ. Và có hai lối hóa khiến quẻ lặp lại chính mình mà nhiều người đọc nhầm…


Hai lối hóa đặc biệt khiến quẻ lặp lại chính mình

Thông thường hào động biến thành một hào khác, mang một chi khác, một hành khác. Nhưng có hai trường hợp mà hào biến lại quay về đúng chỗ cũ hoặc đối xung ngay với hào động: đó là phản ngâm và phục ngâm. Cả hai đều là dấu hiệu của sự lặp lại, nhưng lặp lại theo hai cách khác nhau.

Phản ngâm là khi hào biến xung với hào động. Hai quái tạo ra tình huống này là Tốn hóa Khôn và Khôn hóa Tốn. Hãy xét quẻ Địa Thiên Thái hóa Phong Thiên Tiểu Súc. Hào sáu là Tử tôn Dậu kim động hóa Quan quỷ Mão mộc, hào năm là Thê tài Hợi thủy động hóa Phụ mẫu Tỵ hỏa. Dậu xung Mão, Hợi xung Tỵ: hào biến của hào năm xung hào năm, hào biến của hào sáu xung hào sáu. Hiện tượng này xảy ra ở ngoại quái nên gọi là ngoại phản ngâm. Tương tự, nếu nó xảy ra ở nội quái thì gọi là nội phản ngâm.

Phục ngâm là khi hào biến trùng với hào động, gồm Chấn hóa Cấn và Cấn hóa Chấn. Xét quẻ Địa Thiên Thái hóa Địa Lôi Phục. Hào biến của hào hai trùng với hào hai, hào biến của hào ba trùng với hào ba. Vì hiện tượng này xảy ra ở nội quái nên gọi là nội phục ngâm. Nó cũng giống như trường hợp ở ngoại quái.

Phản ngâm là vòng lặp, phục ngâm là sự rối ren

Hai lối hóa này nghe giống nhau, nhưng điều chúng thì thầm với người xem quẻ lại khác hẳn.

Phản ngâm báo sự lặp lại của một sự kiện. Khi nó nằm ở nội quái, đó là vòng lặp bên trong: chuyện tâm lý, hoặc những việc sửa đi sửa lại nhiều lần. Khi nó nằm ở ngoại quái, đó là vòng lặp của môi trường chung quanh, như thị trường tiền số giảm rồi tăng, tăng rồi lại giảm.

Phục ngâm báo sự rối ren mệt mỏi. Ở nội quái, đó là mệt từ nội tâm, hay những chuyện trong nhà, trong các mối quan hệ gần gũi. Ở ngoại quái, đó là chuyện bên ngoài.

Về ứng kỳ, phục ngâm ứng vào chi xung với hào động, còn phản ngâm ứng vào chi hợp với hào động. Chọn xung hay hợp phụ thuộc việc ấy gắn với dụng thần hay với Thế mà nhắm vào.

Ứng kỳ là nơi nhiều quẻ nói điều quan trọng nhất

Có những quẻ chẳng có quá trình để kể, chỉ có một ngày để biết.

Cuộc chơi Lục hào, phần cốt lõi nằm ở ứng kỳ. Ứng kỳ giúp ta chuẩn bị tư thế khi phải đối mặt hoặc tiếp nhận một vấn đề, và đó là lúc ta có sự lựa chọn tuyệt đối giữa đối mặt hay lánh nặng tìm nhẹ. Ngoài ra, một số quẻ quan trọng chỉ có ứng kỳ mà không có quá trình. Ví dụ về đầu tư: nếu hào Thê tài vượng thì ứng kỳ của hào Thê tài là lúc bán mà có lãi, chứ không phải toàn bộ quá trình đều lãi. Hay chuyện biết ngày mai có nạn, ngày mai sẽ bị lừa, thì ta căn cứ vào đặc điểm của người đến hoặc loại tai nạn mà tránh. Nhưng cốt lõi vẫn là biết được ngày mai.

Dưới đây là các tình huống thường gặp, lấy hào Mão mộc làm ví dụ cho dễ theo dõi.

Hào tĩnh, hào động và hào hưu

Bắt đầu từ ba trạng thái đơn giản nhất, trước khi đụng đến những trạng thái đặc biệt.

Hào tĩnh ứng vào chi xung và chi trực, bất kể vượng hay suy. Hào Mão mộc tĩnh thì ứng kỳ ở các chi Dần, Mão, Dậu. Hào động ứng vào chi trực và chi hợp, cũng bất kể vượng suy. Hào Mão mộc động thì ứng kỳ ở các chi Dần, Mão, Tuất.

Hào hưu thì phải xét việc gần hay việc xa. Việc gần thì ứng kỳ như tĩnh hoặc động rồi hỏng. Việc xa thì ứng ở trường sinh hay đế vượng rồi thành. Hào Mão mộc hưu, nếu việc gần thì tĩnh ứng Dần, Mão, Dậu, động ứng Dần, Mão, Tuất rồi hỏng. Nếu việc xa thì ứng Hợi, Mão rồi thành.

Hào vô căn ứng vào chi xung hào. Mão mộc vô căn thì ứng kỳ ở Dậu. Hào quá vượng có ứng kỳ xa chứ không ứng kỳ gần: hỏi việc trong ngày sẽ ứng vào ngày nhập mộ, và việc thành vào ngày mộ đó. Mão mộc quá vượng, hỏi việc trong ngày thì phải đến ngày Mùi việc mới thành.

Tuần không, Nguyệt phá và hào động hóa hợp

Khi một hào bị trói buộc hoặc bị cắt đứt, thời điểm nó lên tiếng không còn là chi của chính nó.

Hào Tuần không ứng vào lúc trực xung. Hào Mão mộc Tuần không, tính theo tháng hoặc năm thì ứng Mão, Dậu; tính theo ngày thì ứng Dần, Mão, Dậu. Với việc về nhân sự, hào Tuần không cũng ứng lúc trực xung mà phán. Khi hỏi nhân sự, dụng thần Mão mộc Tuần không, tháng hoặc năm ứng lúc Mão, Dậu, còn ngày ứng Dần, Mão, Dậu.

Hào Nguyệt phá, dù động hay hóa Phá, ứng vào trực, hợp hoặc tĩnh, rồi chuyển gần sang ứng xung. Ví dụ tháng Dậu, Mão mộc Nguyệt phá: nếu động thì ứng Mão, Tuất; nếu tĩnh thì ứng Dậu mà hỏng.

Hào động hóa hợp thì ứng lúc xung mất hợp. Tý hóa Sửu thì ứng ở Mùi. Hào Phá hóa Tuyệt ứng lúc xung Phá: Mão mộc Nguyệt phá động hóa Thân thì ứng Dậu. Hào Không hóa Mộ ứng lúc xung Không: Mão mộc Tuần không động hóa Mùi, hoặc xem vào ngày Mùi, hoặc hào Mùi động, thì ứng Dậu.

Khi hào Phá hóa Tuyệt mà có hào động sinh, ứng kỳ lại thành ở lúc trực, hợp hoặc phá. Ví dụ hào Kim Nguyệt phá hóa Dần, Thổ ở hào Mùi động, ứng kỳ thành vào Thìn hoặc Dậu. Tương tự khi hào Không hóa Mộ mà có hào động sinh, ứng kỳ lúc trực hoặc xung Tuần không.

Nhập mộ, hóa khắc và sức ép từ hào khác

Có hào tự mình đã đủ chi tiết, nhưng cũng có hào chờ người khác đánh thức.

Hào nhập mộ thì tuỳ vượng suy. Hào suy ứng kỳ xung mộ rồi hỏng. Hào vượng ứng kỳ xung mộ rồi thành. Hào hưu ứng kỳ xung hào rồi hỏng. Ví dụ Mão mộc nhập mộ tại Mùi thì ứng lúc Sửu, thành hay bại tùy hào vượng hay suy. Còn Mão mộc hưu thì ứng lúc Dậu mà bại.

Hào hóa khắc mà không bị Không hay Phá thì ứng vào chi Kỵ của hào đó. Mão mộc hóa Thân kim thì ứng Thân mà hỏng. Nếu hào hóa khắc mà hào ấy, hào biến hay Kỵ thần lại Không hoặc Phá, thì ứng vào lúc Không hoặc Phá. Mão mộc Không hay Phá động hóa Thân thì ứng Mão, Dậu với Không và Mão, Tuất với Phá, tương tự với hào biến.

Hào Tiết thần động ứng lúc trực xung dụng thần. Nếu Mão mộc là dụng thần, Tỵ hỏa động thì tĩnh ứng Dần, Mão, Dậu, động ứng Dần, Mão, Tuất. Hào Cừu thần động cũng ứng lúc trực xung dụng. Ví dụ Mão mộc làm dụng thần mà Thìn thổ động, ứng Dần, Mão, Dậu với tĩnh, Dần, Mão, Tuất với động. Nguyên thần động cũng theo cách đó. Nếu Nguyên thần động mà Không hay Phá thì ứng lúc thực Không hay Phá.

Kỵ thần động ứng vào chính Kỵ thần. Mão mộc là dụng thần, Thân kim động thì ứng Tỵ, Thân, Dậu. Nếu Kỵ thần động yếu hơn dụng thần thì ứng lúc xung Kỵ thần. Ví dụ ngày Mão tháng Dần, dụng thần Ngọ hỏa, hào Hợi động, ứng lúc Tỵ xung Hợi mà việc thành.

Những trường hợp khó nhớ nhất

Một vài trạng thái hiếm gặp nhưng khi gặp thì quyết định cả quẻ.

Khi hào Thế Tuần không, ứng kỳ vào lúc xung hoặc trực Thế. Hỏi việc mà Kỵ thần trì Thế, ứng kỳ như tĩnh hay động đối với hào Thế mà biết lúc hỏng. Hỏi về tiền mà Huynh đệ trì Thế, ứng vào Huynh đệ mà biết lúc mất tiền. Hỏi việc con cái, Tử tôn biến thành Quan quỷ thì lấy ứng kỳ ở Quan quỷ mà biết con nguy hiểm. Tử tôn Mão mộc hóa Quan quỷ Thìn thổ thì nguy hiểm vào Thìn thổ.

Hào ám động thì ứng kỳ ngay trong ngày với việc gần, còn việc xa thì ứng lúc trực hợp. Ngày Thìn, hào Tuất thổ ám động, việc gần ứng trong ngày, việc xa ứng Mão, Tuất. Hỏi trộm cắp: ứng kỳ Mộ, Tuyệt với hào hưu hoặc suy thì bắt được; ứng kỳ như tĩnh hay động với hào vượng thì bắt được. Hào Mão mộc hưu hoặc suy, bắt được vào lúc Mùi hay Thân; nếu vượng thì ứng kỳ với tĩnh là Dần, Mão, Dậu, với động là Dần, Mão, Tuất.

Hào động vượng mà hào biến quay lại khắc, làm hào ấy suy, thì ứng kỳ xa rơi vào hào biến. Ngày Dần, hào Dần mộc hóa Dậu kim, ứng kỳ vào tháng Dậu mà hỏng. Quẻ Lục xung hóa Lục hợp, hoặc ngược lại, lấy ứng kỳ lúc tĩnh hay động của dụng thần: hào Mão mộc là dụng thần thì ứng kỳ của Mão mộc là lúc thành hay bại.

Cuối cùng, với phục ngâm ứng lúc xung hào phục, với phản ngâm ứng lúc hợp hào phản. Hào Không hay Phá thì ứng như hào Không. Khi Kỵ thần động yếu hơn dụng thần, ứng lúc xung Kỵ thần. Những bước ấy giúp người đọc quẻ không chỉ nói được việc có thành hay không mà còn chỉ ra được ngày giờ cần chuẩn bị, để người hỏi biết lúc nào cần giữ mình, lúc nào có thể buông tay.

Quy luật chung ẩn sau các ví dụ

Mỗi ví dụ nhìn rời rạc, nhưng đặt cạnh nhau chúng chạy theo vài đường quen thuộc.

Nhìn lại những trường hợp trên, ta thấy ứng kỳ thường rơi vào bốn loại mốc. Loại thứ nhất là mốc trực, tức chi của chính hào. Loại thứ hai là mốc xung, tức chi xung với hào ấy. Loại thứ ba là mốc hợp. Loại thứ tư là mốc mộ hay mốc của hào đang cản trở. Hào tĩnh cần được đánh thức nên ứng ở trực và xung. Hào động đã tự chạy nên ứng ở trực và hợp. Hào bị trói buộc như Tuần không, Nguyệt phá, hóa hợp thì cần có thứ xung vào mới cựa mình. Hào nhập mộ cần ngày xung mộ để mở cửa. Hào hóa khắc thì mốc nằm ở chi kỵ của hào ấy, tức nơi nó bị cắt.

Điều thứ hai đáng để ý là khoảng cách của việc. Việc gần thì ứng kỳ nằm ở những chi sát chi của hào. Việc xa thì ứng kỳ trượt về phía trường sinh hay đế vượng, hoặc đi xa tới mốc mộ của hào quá vượng. Cùng một hào Mão mộc nhưng hỏi việc trong ngày và hỏi việc theo năm cho ra những mốc khác nhau, vì thước đo thời gian đã đổi.

Điều thứ ba là mốc thành và mốc hỏng. Cùng là một chi nhưng ý nghĩa tùy vào chuyện hào ấy đang được sinh hay đang bị khắc. Khi hào hưu, ứng kỳ gần thường báo hỏng, còn ứng kỳ xa thường báo thành. Khi hào vượng thì mốc xung mộ hay mốc trực hợp đều báo thành. Biết trước cả hai khả năng để chuẩn bị cho đúng việc, và để không hoảng khi ngày ấy đến, là điều mà ứng kỳ đem lại cho người xem quẻ.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán