Bài tổng quan
Nguyên, cục và cách đặt Thái Ất vào mười sáu cung của bầu trời
Thái Ất không bao giờ bước vào cung giữa, và mỗi cung nó ở lại đúng ba năm. Chỉ cần chia, trừ và đếm là đặt được nó vào đúng chỗ, nhưng đằng sau những con số khô khan ấy là cả một cách nhìn về trời, đất và người…
Mục lục · 9 phần
- 01Một khối, năm nguyên, bảy mươi hai cục
- 02Tuế Kể: Thái Ất đóng ở cung nào
- 03Chín cung chính và tám cung gián
- 04Mười sáu cung khí
- 05Tam Pháp thành Tam Tài
- 06Mười sáu cung nhân đức và đạo ba ngôi
- 07Dẫn một cực ba: vì sao mỗi cung ba số
- 08Cửu cung thường đạo và hình con rùa thiêng
- 09Bầu trời Thái Ất với mười sáu thần
Khi đã có vòng kỷ dư trong tay, việc còn lại chỉ là chia, trừ và đếm: chia để biết năm ấy nằm ở nguyên nào, cục nào, trừ để biết Thái Ất đã đi hết mấy vòng, rồi đếm cung để đặt Thái Ất vào đúng chỗ. Chỉ có một điều phải nhớ suốt quãng đường: Thái Ất không bao giờ bước vào cung giữa, và mỗi cung nó ở lại đúng ba năm. Nhưng đằng sau những con số khô khan ấy là cả một cách nhìn về trời, đất và người.
Một khối, năm nguyên, bảy mươi hai cục
Muốn tính Kể Năm thì phải đi tuần tự từng bước. Bước đầu là tính vòng kỷ dư của năm cần xem. Một khối Thái Ất gồm ba trăm sáu mươi năm. Mỗi khối có năm nguyên là Giáp Tý nguyên một, Bính Tý nguyên hai, Mậu Tý nguyên ba, Canh Tý nguyên bốn và Nhâm Tý nguyên năm. Mỗi nguyên có bảy mươi hai cục, tức bảy mươi hai năm, và mỗi cục là một khối nhỏ.
Cách vào nguyên và cục như sau: lấy vòng kỷ dư chia cho bảy mươi hai. Số thương là số nguyên đã qua, còn số dư là số cục. Lấy năm Đinh Mão 1987 làm ví dụ, vòng kỷ dư là 304. Chia cho bảy mươi hai được bốn, dư mười sáu. Vậy năm đã qua bốn nguyên và đang ở cục mười sáu của nguyên thứ năm. Lấy ví dụ thứ hai là năm Nhâm Tý 1972, vòng kỷ dư là 289. Chia cho bảy mươi hai cũng được bốn, dư một, nên năm ấy vào cục một của nguyên thứ năm. Nếu số chia vừa vặn mà không dư thì đó là cục cuối cùng của nguyên liền trước.
Tuế Kể: Thái Ất đóng ở cung nào
Có hai bàn cờ cùng đặt song song, một cho dương và một cho âm, và Thái Ất đi trên cả hai bằng hai hướng ngược nhau.
Để tìm Tuế Kể, tức cung Thái Ất đóng trong năm, người ta chia ra hai khối là khối dương và khối âm. Cần nhớ rằng chỉ riêng Kể Giờ mới thật sự dùng đến khối âm. Cách làm gồm ba bước.
Bước một: lấy vòng kỷ dư chia cho hai mươi bốn, vì mỗi vòng Thái Ất đi qua tám cung, mỗi cung ba số, tức hai mươi bốn số. Bước hai: nếu phép chia không hết thì lấy số dư mà chia cho ba, hay còn gọi là lấy ba mà rút, vì Thái Ất ở mỗi cung đúng ba năm, ba tháng, ba ngày hay ba giờ. Bước ba: an Thái Ất. Khối dương thì khởi từ cung Kiền một và đi thuận theo các cung một, hai, ba, bốn, sáu, bảy, tám, chín, không vào cung giữa. Khối âm thì khởi từ cung Tốn chín và đi nghịch qua chín, tám, bảy, sáu, bốn, ba, hai, một, cũng không vào cung giữa. Một vòng là tám cung nhân ba, tức hai mươi bốn năm, hay hai mươi bốn tháng, hai mươi bốn ngày, hai mươi bốn giờ.
Thử với năm Nhâm Tý 1972: vòng kỷ dư 289 chia cho hai mươi bốn được mười hai vòng, dư một. Số một ấy nghĩa là năm đầu của vòng thứ mười ba. Vì vậy Thái Ất ở khối dương đóng tại cung Kiền một, còn ở khối âm đóng tại cung Tốn chín.
Thử với năm Đinh Mão 1987: vòng kỷ dư 304 chia cho hai mươi bốn được mười hai, dư mười sáu. Số dư lớn hơn ba nên lấy ba mà rút, mười sáu chia ba được năm, dư một. Thái Ất đã ở năm cung, nay đang ở năm thứ nhất của cung thứ sáu, và còn hai năm nữa mới sang cung thứ bảy. Nhưng vì Thái Ất không vào cung giữa nên cung thứ sáu của khối dương không phải cung sáu mà là cung Khôn bảy: Kiền một, Ly hai, Cấn ba, Mão bốn, Dậu sáu, Khôn bảy, Khảm tám, Tốn chín, và cung Khôn nằm đúng thứ sáu trong dãy ấy. Ở khối âm đếm ngược từ chín: Tốn chín, Khảm tám, Khôn bảy, Dậu sáu, Mão bốn, Cấn ba, thì cung thứ sáu rơi vào cung Cấn ba.
Chín cung chính và tám cung gián
Bầu Trời Thái Ất được định ước có chín cung chính, trong đó cung năm gọi là trung cung, tức trung ương, nơi Thái Ất không vào và không có toán. Tám cung chính còn lại mỗi cung mang một biệt số và gọi chung là cung chính thần. Cung Kiền mang biệt số một, trú tại Kiền. Cung Ly mang biệt số hai, trú tại Ngọ. Cung Cấn mang biệt số ba, trú tại Cấn. Cung Mão mang biệt số bốn, trú tại Mão. Cung Dậu mang biệt số sáu, trú tại Dậu. Cung Khôn mang biệt số bảy, trú tại Khôn. Cung Khảm mang biệt số tám, trú tại Tý. Cung Tốn mang biệt số chín, trú tại Tốn.
Ngoài chín cung chính còn có cung gián hay cung thứ. Các cung gián luôn chỉ có một số, và đó là tám cung thứ: Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi.
Mười sáu cung khí
Thái Ất làm bàn tướng, định thần vị, bao trùm và thông lưu tam pháp, tam tài, ngũ đức, thất tinh, bát quái, cửu cung, cùng sự biến hóa của trời đất, của người và sự thuận nghịch của thời. Nghĩa là trời có mười hai thứ sao, đất có mười hai thần, trời có bốn thời, đất có bốn duy. Cho nên Thái Ất gồm thâu cả mười sáu định thần vị, bao trùm toàn thể cõi vũ trụ. Vì vậy bầu trời Thái Ất vẽ ra mười sáu kinh cung, tức mười sáu nơi hành cung, và mười sáu ấy gồm cả mười sáu cung khí lẫn mười sáu cung đức.
Mười sáu cung khí xếp theo vòng kim đồng hồ, trên mười hai địa chi cùng bốn duy. Cung Tý là khí dương tạp, hành Thủy. Cung Sửu là khí dương tạp. Cung Cấn là khí dương thuần, hành Thổ. Cung Dần là khí dương thuần, hành Mộc. Cung Mão là khí tạp dương, ngôi quẻ Chấn, hành Mộc. Cung Thìn là khí dương thuần, hành Thổ. Cung Tốn là khí dương tuyệt, hành Mộc. Cung Tỵ là khí tạp dương, hành Hỏa. Cung Ngọ là khí thuần dương, hành Hỏa. Cung Mùi là khí thuần âm, hành Thổ. Cung Khôn là khí tạp âm, hành Thổ. Cung Thân là khí tạp âm, hành Kim. Cung Dậu là khí thuần âm, ngôi quẻ Đoài, hành Kim. Cung Tuất là khí tạp âm, hành Thổ. Cung Kiền là khí âm tuyệt, hành Kim. Cung Hợi là khí âm thuần, hành Thủy.
Tam Pháp thành Tam Tài
Ba cái tên cổ nhất của Thái Ất nằm ở ba tầng: tầng trên, tầng dưới và tầng giữa.
Tam Pháp của Thái Ất gồm Thanh Pháp thuộc Trời, tầng trên; Hoàng Pháp thuộc Đất, tầng dưới; và Xích Tượng Nhân thuộc trung ương. Người xưa nói bậc thánh nhân thông được thần nên thông được Đức của Thần Minh và Tình của vạn vật, nghĩa là không còn điều gì ẩn giấu được. Vì vậy lời xưa chép rằng Toại Nhân ngửa nhìn Đẩu Cực mà định phương danh, tức đặt tên cho bốn phương. Về sau Phục Hy, Thần Nông nhân đó diễn vạch thành bát quái. Đến đời Hoàng Đế, bậc đứng đầu tam đế gồm Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Phong Hậu tạo thức Thái Ất, và phép Thái Ất ra đời từ đó.
Ngũ Đức cũng là ngũ tình mà Thái Ất dùng làm ngũ tướng. Vì năm tướng vận hành theo bàn tướng Thái Ất nên được gọi là ngũ hành, nghĩa là ngũ tình vận hành, gọi tắt là ngũ hành. Bát quái, cửu cung là sự vận hành khí của trời đất, từ Đẩu Cực xuống trung ương, điểm cực ở số năm, rồi phân phối ra các phương theo một hướng riêng. Từ đó tạo nên khoa thiên văn, địa văn, nhân văn, quen gọi là phong thủy, nay gọi là môn môi trường. Người ta lại quen lấy Tam Dịch, nhất là Dịch Liên Sơn và Quy Tàng, để giảng cứu, gọi chung là Dịch học. Từ đó sinh ra các môn học tượng và học số, dùng trước hết trong binh pháp rồi đem phụng sự xã hội để theo cát, tránh hung, giúp sinh mệnh của vũ trụ, trước hết là con người, sau đó là muôn loài muôn vật.
Nhưng phần lớn các môn học tượng, học số lại đánh mất cái huyền diệu của Xích Tượng Nhân, tức Khí Xung Hòa nằm ở cực trung ương, ẩn như vô hình trong cõi biến hóa vô cùng của trời đất và vạn vật. Từ đó phát sinh nhiều thuật ngữ mới, làm lạc mất con số trung hòa, tức số ba hay số năm trung ương, nên mới thành ra âm dương đối lập. Chính cái diệu hợp của âm dương, vừa vô thường vừa thường hằng, thường hằng là con số trung ương đại trung ấn, mới là điều nên giữ. Khi mất nó thì chỉ còn các con số biến hóa, thuận nghịch, tiêu trưởng, tức là biết hiện mà không biết hóa, không hiểu vì sao lại biến tới bảy và làm sao biến tới chín để làm nên mười sáu nhân đức của đời người.
Mười sáu cung nhân đức và đạo ba ngôi
Mười sáu cung nhân đức, tức mười sáu số theo luật dẫn một cực ba, trước hết nói về nhân đức: đức gốc, tức Khí Xung Hòa làm ra người và vật. Nhìn từ trên cao xuống, lấy trời làm cao, làm sang, làm dương, người xưa thấy còn một dòng sinh mệnh lưu chảy là khí. Nhìn từ mặt đất ngẩng lên Bắc Thần thì không chỉ thấy cái gì không âm thì dương, mà phải thấy cái Không, là khí đang thăng, đang giáng, đang tiêu, đang trưởng, quen gọi là thanh dương và trọc âm. Chính thanh và trọc trộn lẫn bao bọc nhau đó là điều tiền nhân nói: thanh thì làm trời, đục và nặng thì làm đất. Còn cái đang hiện ra như mây trắng đẹp ở nơi cao xanh, là cái vẻ, cái lý, cái tượng chưa thành độ số, thì gọi là khí xung hòa, làm nên cõi Xích Tượng Nhân, tức cõi trung ương.
Theo lẽ Tam Tài, toán có ba vạch, tượng cho ba lý: xét văn lý, diễn quái, xem tượng. Vì thế gạch ra Tam Tài phải dùng số ba, ứng với Lý Thiên, Lý Địa, Lý Nhân trong Thái Ất. Ba vạch xếp theo ý chỉ quẻ Kiền: vạch trên là đạo Trời che, vạch dưới là đạo Đất chở và đội Trời, còn vạch giữa là Người và Vật, phải tuân theo trên dưới, nên thành đạo Người.
Ý của nhân đức nằm trong một lời dặn: trời chẳng vì cao lớn mà thắng được đất, đất chẳng vì rộng dày mà thắng được người, người chẳng vì nhỏ hèn mà hóa nhỏ trong trời đất. Ba bên hợp hòa để củng cố nhau. Và để củng cố nhau, họ dùng phương pháp hữu hiệu nhất, gọi là thuật hay pháp, nghĩa là phép bắt chước theo độ số của trời đất mà đem ra dùng. Số làm nên lịch pháp, lại căn cứ vào độ quay, độ chuyển của trời trăng để tính ra thập can và thập nhị chi, rồi phối hợp với nhau theo các cặp bội số chung từ nhỏ nhất đến lớn nhất, trong đó bội số chung dễ tính nhất là năm với mười và sáu với mười hai. Nguồn gốc của tất cả vẫn là học thuyết âm dương.
Dẫn một cực ba: vì sao mỗi cung ba số
Học thuyết Thái Ất tôn trọng con số ba củng cố lẫn nhau. Nói cách khác, Thái Ất phát triển con số Tam Tài, con số hòa hợp. Đó là dụng mười sáu số theo luật dẫn một cực ba để vẽ ra Bầu Trời Thái Ất dẫn một cực ba. Gọi là dẫn một cực ba vì ý nghĩa Tam Tài, trong con số hòa hợp, gốc lấy cả ở số sinh lẫn số thành.
Dẫn đầu hệ thống số sinh thành là số một và số sáu, qua câu: trời lấy số một để sinh ra nước, đất lấy số sáu để hoàn thành công việc ấy. Theo số Hà Đồ thì số một thuộc cung Khảm còn số sáu thuộc cung Kiền. Trong Thái Ất có Cửu Cung Quý Thần lấy gốc tại sao Đẩu Cực, bắt đầu khởi từ cung Khảm mà đi; đó là lấy khí để xét, nên số sinh được trọng dụng. Còn bàn tướng Thái Ất tác dụng đến mười sáu cung gồm cả chủ lẫn khách, xét biết tai ương, cai trị mặt đất, thuận hành tám cung, mỗi cung lưu lại ba số, năm, tháng, ngày, giờ đều lấy số ba, để ứng với lý thiên, lý địa, lý nhân, tức ba cực. Đầu của mỗi cực là số một. Số một là chỗ Thái Cực mới bắt đầu chia ra, đồng thể với cung Kiền làm đầu mối cho trời che, đất chở, che chở con người. Vì thế Thái Ất khởi mệnh từ Kiền mà đi, dùng số thành làm mệnh của thiên môn tại Kiền, hay là đạo Trời của Thái Ất hành dẫn số một. Và số ba không có cùng cực, đồng thể với con số pi.
Cửu cung thường đạo và hình con rùa thiêng
Các phép độn đều dùng Cửu Cung Bát Quái làm tôn chỉ, tức xét theo nghĩa của Cửu Cung, nói cách khác là không có biến dịch trong phép độn. Lại có thuật phối Linh Quy vào Hà Đồ mà đặt ra cửu cung thường đạo: đem số năm vào trung cung, rồi đặt các số khác theo hình con rùa thiêng, hai và bốn ở vai, sáu và tám ở chân, ba bên trái, bảy bên phải, đạp một, đội chín. Cụ thể: nhất Khảm, nhì Khôn, tam Chấn, tứ Tốn, ngũ Trung, lục Kiền, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly. Hàng trên là Tốn bốn, Ly chín, Khôn hai. Hàng giữa là Chấn ba, Trung năm, Đoài bảy. Hàng dưới là Cấn tám, Khảm một, Kiền sáu.
Hình ấy là thường đạo, lúc chưa biến dịch âm dương. Vì vậy cần biến dịch thì mới thành chín cung biến và mới đem dùng việc được trong cõi vô thường. Nghĩa là phải vẽ được Bầu Trời Thái Ất dẫn cực ba với mười sáu cung thứ, hội tụ cả lý, cả tượng, cả số, do âm dương biến hóa, gọi gọn là thông thần biến hóa.
Bầu trời Thái Ất với mười sáu thần
Trong bầu trời ấy, những cung gián bên trong có bốn mục chữ ăn một toán. Những cung chính bên trong mang năm mục chữ, ăn toán trong vòng và có theo khí rời, tuyệt. Mười sáu cung thứ của Bầu Trời Thái Ất có lý luận như sau: trời có mười hai thứ, đất có mười hai thần, trời có bốn thời, đất có bốn duy; biến thông tất cả trời đất thành mười sáu định thần vị bao trùm tất cả. Đó là sự biến hóa của trời đất và sự thuận nghịch của thời với người, tức Xích Tượng Nhân.
Chính cung là Kiền một, Ly hai, Cấn ba, Mão bốn, không vào giữa năm, Dậu sáu, Khôn bảy, Khảm tám, Tốn chín. Mỗi cung ấy có một vị thần giữ. Tại cung Tốn, hành Mộc, là Sáng Lớn, khí dương tuyệt. Tại cung Tỵ, hành Hỏa, là Thần Lớn, khí dương tạp. Tại cung Ngọ, hành Hỏa, là Oai Lớn, khí dương thuần. Tại cung Mùi, hành Thổ, là Đạo Trời, khí âm thuần. Tại cung Khôn, hành Thổ, là Vũ Lớn, khí âm tạp. Tại cung Thìn, hành Thổ, là Dương Cả, khí dương thuần. Tại cung Thân, hành Kim, là Đức Võ. Tại cung Mão, hành Mộc, là Cao Tùng, khí dương tạp. Tại cung Dậu, hành Kim, là Nhóm Cả, khí âm thuần. Tại cung Dần, hành Mộc, là Lã Thân, khí dương thuần. Tại cung Tuất là Chủ Âm. Tại cung Cấn, hành Thổ, là Đức Hòa. Tại cung Sửu, hành Thổ, là Đức Dương. Tại cung Tý, hành Thủy, là Chủ Đất. Tại cung Hợi, hành Thủy, là Nghĩa Lớn, khí âm thuần. Tại cung Kiền, hành Kim, là Đức Âm, khí âm tuyệt.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
