Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Mười sáu vị thần Thái Ất và nghề ứng với từng bậc

Bói Dịch - Nhập môn03/10/202614 phút đọc1 lượt đọc
Mười sáu vị thần Thái Ất và nghề ứng với từng bậc

Cùng một vị thần, đứng ở cung này thì làm quan to, ở cung kia làm nghề thợ, rơi xuống cung cuối thì làm kẻ chạy việc. Mười sáu vị thần chia ba bậc mạnh yếu, mỗi bậc một nghề, một tính nết. Còn khi một cung trống không có sao nào chiếu, mỗi việc trong đời lại thiếu hụt theo một kiểu riêng…


Mười sáu vị thần của Thái Ất không ai giống ai. Cùng một vị thần, đứng ở cung này thì làm quan to, đứng ở cung kia thì làm nghề thợ, rơi xuống cung cuối thì làm kẻ chạy việc. Trước khi đọc nghề nghiệp và tính nết của một người, phải biết mỗi vị thần ấy mạnh yếu ra sao ở từng cung, và khi cung trống không có sao nào chiếu thì mỗi việc trong đời sẽ thiếu hụt thế nào.

Khi cung không có sao đến chiếu

Một cung rỗng không có nghĩa là cuộc đời yên ả, mà là một khoảng trống để lộ ra những nỗi thiếu thốn riêng của từng việc.

Mệnh không có sao chiếu thì người ấy dối trá, khốn đốn, tàn nhẫn, không có chỗ nương tựa, không giữ được niềm vui và sự yên tĩnh. Anh em không có sao thì đâm hại, gian dối, bạn rượu bè hoa, du đãng, mỗi người một ngả. Thê thiếp không có sao thì đâm đuổi, góa bụa, xa lìa, ghen ghét, dối trá, mờ ám. Con cái không có sao thì con cháu chết non, qua phòng khác họ, tật nguyền, không vui, thiếu ăn thiếu mặc, không nơi nương tựa.

Tiền của không có sao thì nhà nghèo nàn, trộm cắp, cướp đoạt, sáu giống vật nuôi bị thương tổn, không tạnh thì cũng bại. Nhà đất không có sao thì phải thuê nhà ở riêng, nhà thấp tệ, cửa hoang, nhà cỏ xiêu vẹo, vách đổ, cháy, trôi nước. Quan lộc không có sao thì như hổ mượn oai cọp, như dê khoác da hổ, bị đình chỉ chức việc, lời khéo cũng cạn. Đầy tớ không có sao thì bệnh chết, suy bại, gian trá giả dối, ra thì tai nhỏ, vào thì họa luôn, không nương không tựa.

Tật bệnh không có sao thì mắt miệng méo lệch, chân tay đờ đẫn, tai điếc, bướu cổ, sáu ngón. Phúc đức không có sao thì làm thầy thuốc, đãng sĩ, ẩn cư, tiêu dao, nghề lang thay đổi, ở nhờ nhà giàu sang. Tướng mạo không có sao thì luận không bàn lui, hình dung biến đổi, cơ thể gầy, như thuyền ngắn chèo nhỏ, nhiều lo, nhiều khuất. Cha mẹ không có sao thì cha mẹ thương tổn, không lợi sáu thân, qua phòng khác họ, bị bỏ rơi, lạ chôn. Cung Thân không có sao thì rời châu, bỏ giếng, cuồng đãng lang thang, thoát đông lộng tây, dấu chân không định. Năm tháng sinh không có sao thì mới sinh không nơi nương tựa, không ở quê tổ, chủ mẹ đâm thương, chịu nhiều ngang trái. Ngày giờ sinh không có sao thì quan quả cô độc, đói khát lo âu, mệt nhọc phiền não, thọ không đủ số.

Cách xem mệnh bằng mười sáu sao

Mười sáu sao tới cung phận đều có mạnh yếu, chia ra ba bậc: trên, giữa, dưới. Trước hết luận hai cung Thân và Mệnh. Rồi xem ngôi ngày và giờ sinh. Nếu cung nào không có sao thì lấy sao của cung đối diện mà dùng, ví dụ Tý đối Ngọ, Sửu đối Mùi. Nếu cung đối cũng không có thì dùng sao của các cung ba hợp, ví dụ Hợi, Mão, Mùi hợp thành một khối. Những người ở bậc trên thì phúc rất cao, bậc giữa kém hơn, bậc dưới thuộc hạng kẻ hầu hạ.

Bảng dưới đây ghi các cung mà mỗi vị thần đứng ở bậc trên, bậc giữa và bậc dưới.

Vị thầnBậc trênBậc giữaBậc dưới
Năm PhúcThìn, Sửu, Thân, HợiTuất, Ngọ, Tỵ, Dậu, Mùi, TýDần, Mão
Nền QuânThìn, Ngọ, Tuất, Sửu, MùiTỵ, Thân, Hợi, TýDần, Mão, Dậu
Nền ThầnThìn, Tuất, Sửu, MãoMùi, Thân, Ngọ, HợiDậu, Tỵ, Tý, Dần
Nền DânThân, Thìn, Hợi, TýMùi, Tý, Ngọ, Tuất, SửuDần, Mão, Dậu
Du NhỏDần, Hợi, Mão, MùiSửu, Thìn, Tý, TuấtThân, Dậu, Thìn, Hợi
Bài VănThân, Sửu, Thìn, HợiTỵ, Ngọ, Mùi, Dậu, TuấtDần, Mão, Tý
Thần KểThìn, Tuất, Sửu, MùiThân, Tý, Hợi, Tỵ, Ngọ, DậuDần, Mão
Mới KíchDần, Ngọ, Tuất, TỵThìn, MùiSửu, Hợi, Tý, Mão, Dậu, Thân
Đại Tướng chủTỵ, Dậu, Sửu, ThânTý, Mão, Thìn, Mùi, HợiDần, Ngọ, Tuất
Đại Tướng kháchThân, Tý, Thìn, HợiMùi, Sửu, Dần, DậuTỵ, Ngọ, Mão, Tuất
Bốn ThầnThân, Tý, Thìn, HợiNgọ, Sửu, TuấtMùi, Mão, Dần, Dậu, Tỵ
Ất TrờiDậu, Sửu, ThânTý, Thìn, Mão, Mùi, Tuất, HợiTỵ, Ngọ, Dần
Ất ĐấtThìn, Tuất, Sửu, MùiTỵ, Ngọ, Thân, TýDần, Mão, Dậu, Hợi
Bùa BayDần, Ngọ, Tuất, TỵSửu, Mùi, Thìn, ThânHợi, Tý, Mão, Dậu
Tham Tướng chủThân, Tý, Thìn, HợiTỵ, Dậu, Ngọ, DầnSửu, Mùi, Tuất, Mão
Tham Tướng kháchHợi, Mão, Mùi, DầnThân, Tý, Thìn, SửuTỵ, Dậu, Ngọ, Tuất

Nghề và tính nết theo từng vị thần

Cùng một ngôi sao, người đứng ở bậc trên cầm ấn, người đứng ở bậc dưới cầm dao; cái khác nhau là chỗ nó đứng.

Năm Phúc ở bậc trên: giỏi kinh sử, thông cả văn lẫn võ, đáng bậc công khanh hiền lương, người hiếu liêm thành thực thẳng thắn. Ở bậc giữa: giàu bền, phúc thọ, văn hay mặt đẹp, làm nghề chăn dân, cha nông. Ở bậc dưới: làm thầy thuốc, thầy tăng, dựa văn dựa võ, kết bạn với cây tùng.

Nền Quân ở bậc trên: tước có năm bậc, kinh luân trị đạo, toán tài trí lược, văn học thì giữ quyền hành, võ thì giữ tiết việt. Ở bậc giữa: quan quang lộc, hàn lâm, mông thần, tôn thất, giàu vàng ngọc, quản châu quận, tổng xuất binh quyền. Ở bậc dưới: xuyến ngọc khuôn vàng, làm chức thợ may, mài ngọc lưu ly.

Nền Thần ở bậc trên: tể tướng, công khanh, thường thần ngồi gần ngai vua, giảng đọc sư phạm, soạn thảo quốc hiến. Ở bậc giữa: thường thị viên lang, chức cấp sự, biên tu, giảng đọc. Ở bậc dưới: đạo viện, thầy chùa, giảng thích kinh Phật, viết lách nơi hàn viện. Nền Dân ở bậc trên: sửa trị tài chính, thu thuế má, chăn dân khuyến nông. Ở bậc giữa: quản nhà cửa, hào thương giàu có, thóc lúa vàng ngọc. Ở bậc dưới: mở nhà in, quán ăn nấu nướng, gói ghém hàng hóa.

Du Nhỏ ở bậc trên: tư mã nguyên soái, phương diện khổn thần, thống lĩnh binh mã, giữ luật lệnh hình pháp. Ở bậc giữa: tướng quân lại sĩ, thị vệ thuần úy, tiểu hiệu trong quân. Ở bậc dưới: lính, thư lại, đúc gọt, tạo tác, điêu khắc, chế đàn nhạc, các thứ máy móc. Bài Văn ở bậc trên: quán thông kim cổ, giảng văn nơi viện sách, bậc kiệt tài, nước cần người ấy, ngôi đồng quân hành, ra tướng vào tướng. Ở bậc giữa: lời nói thành khuôn phép, bẩm khí trung hòa, chức giữ kinh luân, ngôi hàn uyển, thầy nho, viết sử truyền văn. Ở bậc dưới: nho nghèo, bút thơ, trò trong học xá, nét đẹp chữ hay, tịch mịch rời ra phố xá.

Thần Kể ở bậc trên: tính toán súc tích, chuyển vận giữ gìn, tiền thóc biếu dâng. Ở bậc giữa: nắm kho hàng, biện châu biệt ngọc, gánh vác cầu mưu, vận dụng giàu bền, làm quan tư kế. Ở bậc dưới: cai kho, giữ tiền vào ra, võ làm kho tiền, công sứ du nghệ. Mới Kích ở bậc trên: sứ giả cầm tiết việt, thống soái, giữ quyền hiệu lệnh, thần ban sức dũng, văn thì ngôi tả phụ, võ thì giữ biên giới, thâm trầm nhiều mưu, cương nghị quyết đoán. Ở bậc giữa: thống lĩnh tham phó, ứng cơ phụ trọng, tài phong lộc quý, văn võ kiêm toàn. Ở bậc dưới: rong ruổi bốn phương, thuyền bè lợi nước, làm nghề bói toán, lấy cây ruộng làm gốc.

Đại Tướng chủ ở bậc trên: tướng giữ khu phủ, tổng soái ba vệ, chức cao quan võ. Ở bậc giữa: thị vệ, thám phố, quản việc đi lại. Ở bậc dưới: tiểu hiệu trong quân, chầu chực sai bảo. Đại Tướng khách ở bậc trên: nắm quyền tha chết, trấn thủ biên thùy, dẹp loạn trừ gian, hiếm có trên đời. Ở bậc giữa: tuần úy binh nhung, sử sĩ sáu tòa. Ở bậc dưới: bốn phương kiếm việc, chín dòng tăng đạo, nữ lưu múa hát.

Bốn Thần ở bậc trên: thông minh, đĩnh đạc, tước lộc dày bền, xoay xở muối chè, lợi nước nên phúc. Ở bậc giữa: thuế rượu, phố trưởng, thuyền bè qua sông, ngược xuôi kiếm lợi. Ở bậc dưới: hát rong đường, điều sử lời hoa, đồng bóng, trọc đầu. Ất Trời ở bậc trên: chỉnh phạt vinh thần, đồng sắt làm giàu, vác đao cửa công. Ở bậc giữa: chín dòng đồng bóng, cắt may, thuyền, thợ. Ở bậc dưới: cấp đao tính ngục, lẻ loi không nương tựa. Ất Đất ở bậc trên: tính cách khác đời, trấn thủ ngoài biên, hưởng lộc gánh vác. Ở bậc giữa: khám bệnh xem mạch, gom góp chậu đá đồ sành. Ở bậc dưới: lang thang chơi bời, ôm bệnh hao hụt.

Bùa Bay ở bậc trên: chức quan tuyên thủ, đốc dụ nhung soái, múa võ trổ tài, tiếng tăm nơi quan ải. Ở bậc giữa: tiểu hiệu trong quân, chức lại sĩ, đúc nồi nấu sành. Ở bậc dưới: rời quê độc lập, lẻ loi riêng lẻ, hay vướng việc quan. Tham Tướng chủ ở bậc trên: thiêm thư, tham phó binh nhung. Ở bậc giữa: truyền dụ quản biện, đầu sai chạy giấy. Ở bậc dưới: con thuyền câu lưới, lính lệ, người ngu. Tham Tướng khách ở bậc trên: có tên hầu việc, giám ban gánh vác, đầu sai trong quân, nắm binh lại sĩ. Ở bậc giữa: làm thuốc, xem bói thuê, chín dòng thuật sĩ. Ở bậc dưới: lính trơn, nô lại, bọn bần cùng khốn khổ.

Biết ngôi bậc rồi, còn phải biết từng vị thần hành xử ra sao khi đứng đúng chỗ và khi đứng nhầm chỗ.

Du Nhỏ, ngôi sao Mộc của phương Đông

Du Nhỏ là sao Mộc, mạnh ở Hợi, Mão, Mùi, Dần, vượng ở phương Đông. Ở Hợi là khoa danh, ở Mùi là lộc kho, ở Dần là vào hầu, ở Mão là vào miếu. Khi thuận theo lẽ trời thì gió đều mưa thuận, dân yên nước giàu. Khi nghịch lẽ, đứng cùng bốn sao hung và Mới Kích thì gió mưa không đúng kỳ, binh đao chém giết.

Đứng ở Thân hoặc Mệnh của một người mà gặp đất mạnh, lại hợp sao Văn và ba Nền, thì học nghiệp tinh thông, thi cử đỗ giỏi hiếm có trên đời. Gặp Ất Trời cùng cung mà không có sao lành chiếu thì thành người cầm bút cầm đao, mang cách văn mà không tú. Mệnh có Du Nhỏ thì chủ khoa danh: vào miếu ở Mão, vào hầu ở Dần, việc dễ thành. Nếu tới Thân, Mệnh lại có Mắt Trời, tức Văn Xương, trợ giúp thì thanh nhàn, dư sức hái công khanh.

Du Nhỏ cùng Năm Phúc ở đất mạnh thì thần lành đến xứ mạnh, là vị khách anh linh tú lệ, đợi buổi cưỡi trâu sinh quý tử, công huân sự nghiệp đợi chờ ngày. Du Nhỏ cùng Nền Quân, Văn, Kể ở nơi mạnh khá thì dù khó khăn vẫn vào Thân, chiếu Mệnh mà đứng, duy võ hoặc duy văn, phúc định theo đó. Du Nhỏ cùng Nền Thần ở cung mạnh thì hình dung thần thái hiền hậu, là bậc siêu quần, bậc địa tiên. Nếu hai sao Chủ và Khách cùng chiếu thì không ở đài các cũng nắm binh quyền.

Du Nhỏ gặp Năm Phúc trong cung ác tuyệt, tức Ngọ và Dậu, thì dù có sao lành đến cũng không tốt. Gỗ bị giam, Kim đánh đuổi, đất lở bại. Du Nhỏ gặp Bùa Bay trong cung ác tuyệt là Thân, Dậu, Tỵ thì thành người thích rượu, thăm hoa, phản chính mình. Dù có thần lành tới cứu thì con cái cũng ẩm ờ, vợ cuồng kinh.

Bài Văn: sao Thổ của học vấn

Có người học rộng chữ đẹp mà lại sống nghèo, vì ngôi sao văn của họ đứng sai chỗ.

Bài Văn là Mắt Trời, một sao cát thuộc Thổ. Gặp ở bốn trụ, Thân hoặc Mệnh của một người thì chủ văn hay chữ tốt, học vấn rộng rãi, thành người thanh kỳ, bao hàm nhân nghĩa, có tài kinh luân quán thế. Trải qua những ngôi thanh hiển, ở Hợi là vào miếu. Gặp ba Nền, Năm Phúc, Thần Kể, Đại Tướng Chủ thì thời thiếu niên đã vinh hiển phú quý.

Bài Văn không nên đi cùng Du Nhỏ. Tuy có văn hay chữ tốt hơn đời, nhưng khó tránh cảnh trần ai bụi bậm. Nếu có đỗ khoa danh thì cũng đáng ngại cảnh có danh mà mất lợi. Gặp Mới Kích thì có văn mà không hay. Gặp Bốn Thần thì văn hay mà không hiển đạt.

Bài Văn vào miếu thì hợp phương lành, tất có anh hùng tư lệnh sinh ra, nhất là khi Năm Phúc và Nền Quân cùng góp mặt, lấy văn làm võ mà tới công khanh. Chỉ cần kiêng Du Nhỏ, Mới Kích, Bốn Thần cùng cung. Vận hạn gặp mạnh ở Thân, Sửu, Thìn, Hợi thì có khoa danh, tiếng tăm lừng lẫy khắp trời bể. Nếu Bài Văn cùng Du Nhỏ, Bốn Thần đứng vào đất đâm kích thì làm công việc lắm mưu thâm, không làm thư lại trong hình hiến thì cũng là nho cuồng, bọn dưới ngầm. Nếu Bài Văn ở đất hãm Dần, Mão, Tý thì văn từ dối trá, có hư danh, già vẫn chưa thành, nếu có thần lành phò trợ thì quan này mới đạt mà đã mai đình.

Thần Kể: sao Thổ giữ cơ trời

Giữ kho hay giữ ấn, đều là người cầm cái cân của thiên hạ.

Ất Cả có sao Cơ Trời, gọi là Thần Kể, thuộc Thổ. Sợ Mão, Dần. Mạnh khá ở Thân, Tý, Thìn. Nếu Thần Kể gặp Văn tại Kim thần thì hung. Vào cung mạnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì chủ thanh cao, chốn quán các văn chương, võ thì kiệt hào, sĩ lộ hơn người, nên hiển hách, trời trăng gần gũi, khách thành tiên.

Nếu Thần Kể ở đất hãm mà gặp sao hung đuổi kích, hoặc gặp Du Nhỏ, Tham Khách, thì dù mưu cao, lắm lộc tiền, cung hung đất hãm vẫn tiến lui liền. Kể mà gặp Đất thì tài như đống lương thực. Gặp Khách và Du thì tốt hóa hèn.

Nền Thần: người giữ quyền phúc bên cạnh vua

Nền Thần là sao lành, là thần chuyển cơ tạo hóa, nắm giữ quyền phúc. Ở Thân, Mệnh, ngày hoặc giờ mà không gặp sao ác thì là bậc cực quý nhân thần, tức bề tôi quý nhất. Ở Tuất là vào miếu. Người tuổi Kỷ gặp Nền Thần là gặp sao Lộc. Nếu đứng ở Thân Mệnh thì là người có tài tuyệt thế, lập những công phi thường, thông minh chính trực, nắm giữ quyền hành, làm nên mọi điều tốt đẹp.

Kỵ nhất là cùng Trời, Đất, Bốn Thần, vì văn tà không hay. Ở Mão, Tuất thì thêm khoa danh, hiển đạt công huân, sự nghiệp hanh thông. Chỉ kỵ cung Thê hoặc Phu, cung Tử khi gặp, vì phong trần vất vả, họa theo mình. Gặp mạnh tại Thân, Mệnh, ngày giờ, đứng giữ cung Thân, thêm sao lành tới Mệnh căn thì hầu cận được tôn vinh, ngôi chẳng khó, thai lang khanh giám chức chưa cần.

Nền Thần kiêng gặp Bốn Thần, Ất Cả và các sao hung cùng cung. Tới Thân, Mệnh, ngày giờ thì người có tính ngang ngược. Nếu cùng ở cung mạnh thì lại là phúc. Gặp hãm bị đánh đuổi thì có tai họa diệt vong. Có sao lành cứu trợ thì trong mạnh vẫn có mất, họa phúc nép tựa nhau, trước cát sau hung. Nền Thần phát phúc thì Bốn Thần theo sau, tới hạn nên phòng lúc khởi đi. Có sao lành cùng đến hội thì khi vượng cũng ngại kỳ suy.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn