Bài tổng quan
Lập quẻ bằng giờ, số, chữ, vật tượng rồi dựng quẻ hổ, quẻ biến
Một con chó sủa dưới hiên, một đứa trẻ ôm quả bóng chạy ngang, một dãy số trên biển xe, thứ nào cũng có thể mở ra một quẻ. Nhưng quẻ vừa hiện ra mới chỉ là cảnh mở đầu, còn khúc giữa và cái kết đang nằm ẩn trong chính hình quẻ ấy. Muốn thấy được chúng thì phải biết…
Mục lục · 13 phần
- 01Lập quẻ chính xác thì đoán mới chính xác
- 02Lập quẻ theo thời gian
- 03Lập quẻ theo con số
- 04Lập quẻ theo chữ viết
- 05Lập quẻ theo vật tượng
- 06Không có khuôn cố định: chọn lối hợp tâm nhất
- 07Từ một con số đến ba quẻ
- 08Ba quẻ cho ba chặng đường của sự việc
- 09Hào động: chỗ quẻ chuyển mình
- 10Quẻ thể và quẻ dụng: nhận ra bằng hào động
- 11Quẻ hổ: nhìn vào giữa lòng quẻ chính
- 12Đi hết một vòng với quẻ Hoán
- 13Vài điểm dễ nhầm khi dựng quẻ
Một người gõ cửa ba lần, một đứa trẻ ôm quả bóng chạy ngang, một con chó sủa dưới hiên, tất cả đều có thể trở thành điểm khởi đầu của một quẻ. Người xưa không bắt người đoán phải cầm cỏ thi hay xóc đồng tiền. Họ chỉ yêu cầu một việc: có một thông tin chắc chắn trong tay, rồi biến nó thành con số. Phần còn lại là chuyện của tay nghề.
Lập quẻ chính xác thì đoán mới chính xác
Mọi suy luận phía sau đều đứng trên quẻ vừa dựng, nên một lần đếm sai giờ hay sai số có thể kéo cả bài toán đi lạc.
Chất lượng của một lần đoán phụ thuộc nhiều vào thông tin nắm được khi lập quẻ. Nguyên tắc chung của phép đoán này là quẻ được dựng theo thời điểm gắn với người hoặc việc, hoặc theo một vật tượng nào đó mà ta bắt gặp. Hai cách ấy thực chất nói cùng một chuyện: lấy cái gần ở thân mình, lấy cái xa ở vạn vật, rồi quy về con số. Có bốn lối thường dùng là dựng theo thời gian, theo con số, theo chữ viết và theo vật tượng.
Lập quẻ theo thời gian
Giờ khắc không bao giờ trở lại, nên một khoảnh khắc đã cho ra quẻ thì khoảnh khắc ấy mang trong mình điều đáng đọc.
Đây là lối được dùng nhiều nhất vì tiện và đoán cũng rất chuẩn. Lý do là Dịch vốn là biến đổi, mà biến đổi của Dịch chính là kết quả của sự đổi thay của thời gian và không gian. Thời gian chảy liên tục, trật tự thời gian của mỗi lúc khác nhau, và thời gian góp phần quyết định sự biến đổi của sự vật.
Công thức tính
Số của địa chi năm, tháng âm lịch và ngày âm lịch được cộng lại, rồi chia cho 8, số dư chọn làm thượng quái. Nếu chia hết thì lấy 8 để chọn quẻ Khôn. Cộng thêm số của giờ, rồi lại chia cho 8, số dư chọn làm hạ quái. Cộng cả bốn số rồi chia cho 6, số dư là hào động; nếu chia hết thì lấy 6, tức hào 6 động. Số của chi năm và chi giờ tính theo thứ tự: Tý một, Sửu hai, cứ thế đến Hợi mười hai. Tháng giêng là một, tháng hai là hai, cho đến tháng mười hai là mười hai. Ngày tính theo ngày âm lịch, từ một đến ba mươi.
Lấy ví dụ giờ Thân ngày 4 tháng 8 năm Bính Tý, tức chiều ngày 16 tháng 9 năm 1996. Tổng ngày, tháng, năm là 4 cộng 8 cộng 1 bằng 13, chia 8 dư 5, thượng quái là Tốn. Cộng thêm giờ Thân là 9, được 22, chia 8 dư 6, hạ quái là Khảm. Hào động lấy 22 chia 6 dư 4, tức hào 4 động. Quẻ chính là Phong Thủy Hoán, hào 4 động, quẻ biến là Thiên Thủy Tụng.
Giao tiết quyết định ranh giới tháng và năm
Khi tính thời gian bằng âm lịch, ranh giới của tháng và năm phải lấy nguyệt lệnh và giao tiết làm chuẩn. Trước Lập Xuân vẫn là tháng Chạp của năm trước, chỉ từ Lập Xuân mới chuyển sang tháng giêng của năm sau. Chẳng hạn ngày 4 tháng 2 năm 1993 dương lịch rơi vào ngày 13 tháng giêng âm lịch và là giờ Lập Xuân. Nếu lập quẻ vào ngày 3 tháng 2 năm ấy, ngày 12 tháng giêng âm lịch, thì vẫn phải tính là tháng Chạp của năm Nhâm Thân, không được tính là tháng giêng năm Quý Dậu. Chỉ sau giờ giao tiết của ngày 13, tháng giêng năm Quý Dậu mới bắt đầu, còn ngày vẫn tính theo ngày lịch, ngày 13 vẫn là 13, ngày 14 vẫn là 14.
Nói cách khác, ngày mùng một tháng giêng không phải ngày bắt đầu của năm mới, và ngày mùng một mỗi tháng cũng không phải ngày bắt đầu của tháng ấy. Phải xem đã qua tiết hay chưa. Chỗ này liên quan trực tiếp tới hiểu biết về tiết khí và nguyệt lệnh, nên người mới nên làm quen sớm với bảng tiết khí.
Chọn mốc thời gian nào
Trong thực tế có nhiều mốc thời gian để lấy: giờ người hỏi nói ra câu hỏi, giờ người đoán khởi niệm trong lòng, đôi khi là giờ sự việc xảy ra, thậm chí giờ lúc quay lại hỏi kết quả. Mỗi lối đều có người dùng và đều cho kết quả đúng. Điều quan trọng là phải rõ ràng về khái niệm thời gian mình đang lấy; nếu mốc thời gian chưa rõ thì nên chuyển sang dùng vật tượng. Còn khi nhiều người cùng hỏi trong một giờ, người thứ hai trở đi phải cộng thêm số nét bút trong tên của họ hoặc một đặc điểm riêng của từng người để các quẻ khác nhau.
Lập quẻ theo con số
Một dãy số điện thoại hay một biển số xe tưởng vô hồn, hóa ra cũng đủ để dựng nên một quẻ.
Mọi vật đều có thể dùng để lập quẻ. Với một dãy số như biển số xe, số điện thoại, hay một chuỗi số bất kỳ, quy tắc như sau. Nếu dãy có số chữ số lẻ, lấy tổng các chữ số của nửa đầu (nửa có ít chữ số hơn) chia 8, số dư làm thượng quái, lấy tổng các chữ số của nửa sau chia 8, số dư làm hạ quái. Nếu dãy có số chữ số chẵn, chia đôi thành hai nửa bằng nhau rồi làm tương tự. Hào động lấy tổng tất cả các chữ số chia 6. Khi xuất hiện số 0, khi tính quái thì xem như 8, còn khi tìm hào động thì xem như 6.
Ví dụ dãy 12345 có năm chữ số, là số lẻ. Hai chữ số đầu cộng lại là 3, ra Ly làm thượng quái. Ba chữ số sau cộng lại là 12, chia 8 dư 4, ra Chấn làm hạ quái. Vậy được quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Ví dụ dãy 123456 có sáu chữ số, là số chẵn. Ba chữ số đầu cộng được 6, ra Khảm. Ba chữ số sau cộng được 15, chia 8 dư 7, ra Cấn. Vậy được quẻ Thủy Sơn Kiển.
Lập quẻ theo chữ viết
Chữ Hán vốn là hình vẽ, nên việc dựng quẻ từ nét bút cũng là chuyện rất thuận.
Nếu chỉ có một chữ, phải chọn chữ có thể chia ra rõ ràng thành hai phần trái phải hoặc trên dưới. Lấy số nét của phần bên trái hoặc phần bên trên làm thượng quái, số nét của phần còn lại làm hạ quái, rồi cộng tất cả số nét lại chia 6 để tìm hào động. Chẳng hạn chữ “hành” gồm hai phần, mỗi phần ba nét, ra Ly ở cả trên lẫn dưới, được quẻ Ly Vi Hỏa.
Nếu có nhiều chữ thì lấy số lượng chữ để lập quẻ. Câu “tôi yêu văn hóa cổ của Trung Quốc” gồm tám chữ, chia đôi bốn bốn, ra Chấn trên Chấn dưới, thành Chấn Vi Lôi. Câu “tôi yêu người Trung Quốc” gồm năm chữ, là số lẻ, nên lấy hai chữ làm thượng quái được Đoài, ba chữ làm hạ quái được Ly, thành Trạch Hỏa Cách.
Ngoài ra có thể lấy chính lời người hỏi, miễn chọn một câu rõ ràng làm căn cứ. Đó là cách vừa tiện vừa gần với tinh thần dùng thông tin ngay tại chỗ.
Lập quẻ theo vật tượng
Có những lúc không cần giờ, không cần số, chỉ cần nhìn thấy điều gì đó và biết nó mang tượng gì.
Đây là lối thấy gì lấy nấy: quan sát vật hoặc cảnh trước mắt rồi quy về quẻ đơn tương ứng. Một người cao tuổi là Càn, một thiếu nữ là Đoài, thân trên mặc áo đỏ là Ly, quần màu vàng là Khôn. Khi có hai tượng, tượng thứ nhất làm thượng quái, tượng thứ hai làm hạ quái. Ví dụ người mặc áo đỏ quần vàng cho ra Ly trên Khôn dưới, quẻ Hỏa Địa Tấn.
Thêm vài ví dụ cho dễ hình dung. Gặp một chiếc xe đạp đang chạy: xe thuộc Khảm, chạy là động thuộc Chấn, ra quẻ Thủy Lôi Truân. Gặp một đứa trẻ đang chơi quả bóng: đứa trẻ là Cấn, quả bóng tròn là Càn, ra quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Một con chó đang sủa: chó là Cấn, sủa thuộc miệng là Đoài, ra quẻ Sơn Trạch Tổn. Thấy chớp trên trời thì ra quẻ Đồng Nhân, vì chớp là Ly còn trời là Càn. Thấy đầu động đậy thì ra Vô Vọng, vì đầu là Càn còn động là Chấn. Thấy ai đó nổi giận và mắng chửi thì ra Quy Muội, vì giận thuộc Chấn còn miệng lưỡi thuộc Đoài.
Cũng có thể lấy lời báo giờ làm số. Có người nói “mười giờ hai mươi lăm lên xe lửa”, lấy 10 chia 8 dư 2 làm thượng quái Đoài, lấy 25 chia 8 dư 1 làm hạ quái Càn, ra quẻ Trạch Thiên Quải. Với việc xem phong thủy, tọa sơn và hướng cũng có thể đặt thành thượng quái và hạ quái: núi Càn quay hướng Tốn thì ra quẻ Thiên Phong Cấu.
Với mọi lối lấy vật tượng, vẫn nên cộng thêm số giờ đang diễn ra để tìm hào động. Điều cốt yếu là bám sát tượng số đang lộ ra nơi sự việc, đó mới là chỗ thực sự có ý nghĩa của quẻ.
Không có khuôn cố định: chọn lối hợp tâm nhất
Học xong bốn lối dựng quẻ không có nghĩa là phải dùng cả bốn, mà là có bốn con đường để tự chọn lấy một.
Phép đoán tượng số tin rằng quẻ dựng được nhiều cách, tùy ý muốn của người đoán. Câu nguyên tắc quen thuộc là không động thì không đoán, không hỏi thì không đoán, đừng cầu một khuôn phép cố định, vì phép vốn không có khuôn. Nói gọn hơn, số do tâm khởi, quẻ do tâm sinh. Ai quen lối nào và đoán chuẩn nhất với lối nào thì cứ dùng lối ấy, đừng cố ép mình theo một khuôn mẫu. Giống như người thuận tay trái thì cứ dùng tay trái, không cần gượng dùng tay phải cho giống người khác.
Chỗ cần giữ vững là nắm cho được đặc điểm và thời gian của sự việc khi nó lọt vào mắt, vào tai hay vào tâm trạng của người đoán. Dựa vào cách nhìn vũ trụ như một thể toàn vẹn, dù dựng quẻ bằng lối nào thì kết quả suy đoán cuối cùng đều phải thống nhất và chính xác. Mỗi lối chỉ là một chiếc cầu khác nhau dẫn tới cùng một bờ.
Có điều đoán được hay không còn phụ thuộc vào việc quẻ có đúng không. Việc lập quẻ có chính xác hay không lại phụ thuộc vào thông tin mình nắm khi lập quẻ.
Từ một con số đến ba quẻ
Số đã có, giờ phải biến nó thành một chặng đường có đầu, có giữa và có cuối.
Một lần gieo quẻ chưa bao giờ chỉ cho ra một hình vẽ. Nó cho ra một khởi đầu, một khúc giữa và một cái kết, như ba cảnh liên tiếp của cùng một câu chuyện. Biết cách dựng ra đủ ba cảnh ấy, và biết hào nào đang lay động trong quẻ, là bước thật sự đầu tiên của người học đoán.
Ba quẻ cho ba chặng đường của sự việc
Cùng một lần lập quẻ nhưng nhìn theo ba lớp, ta thấy được sự việc từ lúc nhen nhóm tới lúc ngã ngũ.
Sau khi có số, người đoán dựng ra một nhóm ba quẻ. Quẻ chính là quẻ đầu tiên, phản ánh giai đoạn khởi đầu của sự việc. Quẻ hổ nằm ngay giữa lòng quẻ chính, thể hiện giai đoạn trung gian, thường được coi là nguyên nhân nằm bên trong. Quẻ biến là quẻ sau cùng, cho biết sự việc rồi sẽ đi tới kết cục thế nào. Khi đoán về số phận một người, ba quẻ này còn có thể đại diện cho ba quãng đời: quẻ chính ứng thời thanh thiếu niên, quẻ hổ ứng trung niên, quẻ biến ứng quãng tuổi lớn về sau.
Điều cần giữ trong đầu ngay từ đầu là mối liên hệ giữa ba quẻ: quẻ hổ và quẻ biến không mọc lên từ hư không, mà đều sinh ra từ quẻ chính. Vì thế dựng quẻ chính sai thì hai quẻ sau cũng sai theo, nên việc dựng cho đúng ngay từ đầu quan trọng hơn mọi lời giải thích về sau.
Hào động: chỗ quẻ chuyển mình
Sáu hào của một quẻ không đứng yên như nhau, bao giờ cũng có một hào đang cựa quậy, và mọi biến hóa bắt đầu từ chỗ ấy.
Trong phép đoán này, mỗi lần lập quẻ cho ra đúng một hào động, tính từ dưới lên. Hào 1, 2, 3 thuộc hạ quái, hào 4, 5, 6 thuộc thượng quái. Hào động sẽ đổi hình theo quy tắc quen thuộc của Dịch: hào âm động thì biến thành dương, hào dương động thì biến thành âm. Những hào còn lại giữ nguyên. Kết quả của sự đổi hình ấy chính là quẻ biến.
Số của hào động viết bằng quẻ
Khi ghi lại, người ta không viết số của hào động bằng chữ số mà viết bằng một quẻ. Cụ thể, hào 1 động thì ghi Càn, hào 2 động ghi Đoài, hào 3 động ghi Ly, hào 4 động ghi Chấn, hào 5 động ghi Tốn, hào 6 động ghi Khảm. Lý do là mỗi quẻ có số tiên thiên của riêng mình: Càn một, Đoài hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu. Quẻ chỉ có sáu hào nên không cần dùng tới Cấn bảy và Khôn tám.
Ta hãy nhìn một ví dụ. Giả sử lập được quẻ Địa Thiên Thái với hào 5 động. Cách viết trọn vẹn sẽ có bốn phần: quẻ chính là Thái, tiếp theo là Tốn để báo hào 5 động, vì số tiên thiên của Tốn là 5, rồi đến quẻ hổ là Quy Muội, cuối cùng là quẻ biến Nhu. Thái có thượng quái Khôn, hạ quái Càn. Hào 5 là hào giữa của Khôn, vốn là âm, khi động thì thành dương, và Khôn đổi thành Khảm. Vậy trên Khảm, dưới Càn, đó là quẻ Thủy Thiên Nhu. Những hào còn lại vẫn giữ y như quẻ chính.
Quẻ thể và quẻ dụng: nhận ra bằng hào động
Việc phân vai chỉ mất một giây nhìn, nhưng nó quyết định toàn bộ cách đọc sau đó.
Trong quẻ chính, quẻ đơn nào không có hào động gọi là quẻ thể, quẻ đơn nào có hào động gọi là quẻ dụng. Trở lại ví dụ Thái. Hạ quái Càn không có hào nào động, nên Càn là quẻ thể. Thượng quái Khôn có hào giữa động, nên Khôn là quẻ dụng. Vì mỗi lần chỉ có một hào động nên việc phân vai luôn rõ ràng, không bao giờ nhập nhằng. Quẻ thể đại diện cho bản thân người hoặc việc được hỏi, còn các quẻ khác, gồm cả quẻ hổ và quẻ biến, đều thuộc về phía dụng. Ở đây chỉ cần biết cách gọi tên, còn cách hiểu vai trò của thể và dụng là chuyện của khâu đọc quẻ.
Quẻ hổ: nhìn vào giữa lòng quẻ chính
Muốn biết một quẻ giấu điều gì, người xưa không nhìn lớp vỏ mà nhìn xuyên qua phần ruột.
Quẻ hổ sinh ra từ chính quẻ chính. Người ta bỏ hào 1 và hào 6, giữ lại bốn hào ở giữa rồi dựng hai quẻ đơn mới từ chúng. Hào 2, 3, 4 hợp thành quẻ đơn ở dưới, còn hào 3, 4, 5 hợp thành quẻ đơn ở trên. Hai quẻ ấy xếp lại thành một quẻ sáu hào. Quẻ này không có tên gọi riêng khi dùng làm quẻ hổ, nghĩa là người đoán không đọc tên quẻ mà chỉ nhìn hai quẻ đơn tạo nên nó. Quẻ đơn trên gọi là thượng hổ hay ngoại hổ, quẻ đơn dưới gọi là hạ hổ hay nội hổ. Cách gọi này cũng có thể thay bằng thể hổ và dụng hổ.
Quy ước đặt tên thể hổ và dụng hổ tiếp nối quy ước ở quẻ chính: nếu quẻ thể của quẻ chính nằm ở hạ quái thì hạ hổ gọi là thể hổ, còn thượng hổ gọi là dụng hổ; nếu quẻ thể nằm ở thượng quái thì thượng hổ là thể hổ. Lấy lại ví dụ Thái. Hào 2, 3, 4 của Thái gồm hai hào dương rồi một hào âm, tạo thành Đoài. Hào 3, 4, 5 gồm một hào dương rồi hai hào âm, tạo thành Chấn. Vậy hạ hổ là Đoài, thượng hổ là Chấn, quẻ hổ là Chấn trên Đoài dưới, tức Lôi Trạch Quy Muội. Vì quẻ thể Càn nằm dưới nên Đoài là thể hổ, còn Chấn là dụng hổ.
Đi hết một vòng với quẻ Hoán
Chạy trọn một lượt từ quẻ chính đến quẻ hổ và quẻ biến thì các quy tắc mới có hình hài.
Trở lại lần gieo giờ Thân ở phần lập quẻ theo thời gian. Quẻ chính là Phong Thủy Hoán với thượng quái Tốn, hạ quái Khảm, hào 4 động. Hào 4 là hào dưới cùng của thượng quái Tốn. Hào ấy vốn âm, khi động đổi thành dương nên Tốn trở thành Càn. Quẻ biến vì thế là Càn trên Khảm dưới, tức Thiên Thủy Tụng. Quẻ thể là hạ quái Khảm vì không có hào động, quẻ dụng là thượng quái Tốn vì có hào động.
Về quẻ hổ, hào 2, 3, 4 của Hoán gồm dương, âm, âm, tạo thành Chấn, còn hào 3, 4, 5 gồm âm, âm, dương, tạo thành Cấn. Quẻ hổ là Cấn trên Chấn dưới, tức Sơn Lôi Di. Vì thể là hạ quái nên hạ hổ Chấn là thể hổ, còn thượng hổ Cấn là dụng hổ.
Tóm lại, nhóm quẻ của lần gieo này là Hoán, hổ là Di, biến là Tụng. Đó là một tập hợp thông tin đầy đủ để bắt đầu đọc: quẻ chính nói về lúc khởi đầu, quẻ hổ nói về nguyên nhân và quá trình, quẻ biến nói về kết quả.
Vài điểm dễ nhầm khi dựng quẻ
Phần lớn sai sót không đến từ những chuyện lớn mà từ những bước tưởng như hiển nhiên.
Điểm thứ nhất là hướng đếm hào: luôn đếm từ dưới lên, hào đầu tiên là hào nằm thấp nhất. Điểm thứ hai là hào động chỉ đổi hình hào đó, không kéo theo hào nào khác. Điểm thứ ba là quẻ hổ luôn lấy từ quẻ chính chứ không phải quẻ biến, và không đọc theo tên mà phân tích qua hai quẻ đơn. Điểm thứ tư là khi chia mà hết, tức số dư bằng không, thì lấy chính số chia làm kết quả: chia cho 8 hết thì lấy Khôn, chia cho 6 hết thì lấy hào 6.
Điểm thứ năm đáng nhớ là quẻ biến phải đọc như một quẻ trọn vẹn, nên tên quẻ biến luôn tra theo hai quẻ đơn mới sau khi đổi hào. Với những lần có nhiều hào cùng chuyển động trong các phép khác, người ta phải gom nhóm và loại bớt để tìm ra kết quả cuối cùng, nhưng phép đoán tượng số này luôn chỉ có một hào động nên gọn hơn nhiều. Chỗ khác biệt ấy làm cho phép đoán nhanh hơn.
Điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là sau khi có đủ ba quẻ, phải quay lại liên hệ chặt chẽ giữa hình tượng của quẻ với sự việc đang được hỏi. Quẻ không phải chiếc hộp để đọc lời giải đã in sẵn, mà là tập hợp những hình ảnh để ta suy ra xu hướng của sự việc. Cách đọc hình tượng ấy cần cả một quá trình luyện tập, còn bước dựng quẻ thì nên được làm cho thành thạo như một thói quen.
Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.
