Bài tổng quan
Khách vận: sáu năm mỗi can, thái quá hay bất cập
Mười chữ can của mười năm liền nhau không giống nhau, và mỗi chữ mang theo một thứ thừa hoặc thiếu của năm hành. Năm có chữ Giáp thì thổ nhiều, thấp nhiều, nước sông dâng; năm có chữ Quý thì rét đến cả mùa hạ. Từng năm trong sáu mươi năm đều được người xưa ghi lại một tính nết riêng…
Mục lục · 13 phần
- 01Một vòng cố định, một vòng đổi chỗ từng năm
- 02Năm cặp can kết đôi như năm cặp vợ chồng
- 03Dương đi trước trời, âm đi sau trời
- 04Sáu năm có chữ Giáp: thổ nhiều, thấp nhiều
- 05Sáu năm có chữ Ất: kim hụt, hỏa lấn, thủy trả thù
- 06Sáu năm có chữ Bính: thủy mạnh, lửa tắt
- 07Sáu năm có chữ Đinh: mộc hụt, kim sát phạt
- 08Sáu năm có chữ Mậu: lửa vượng không gì dập được
- 09Sáu năm có chữ Kỷ: thổ yếu, mộc lấn, gió nhiều
- 10Sáu năm có chữ Canh: kim quá, khô và sát
- 11Sáu năm có chữ Tân: thủy hụt, thổ lấn
- 12Sáu năm có chữ Nhâm: mộc quá, gió quá
- 13Sáu năm có chữ Quý: hỏa hụt, hàn nhiều
Mỗi năm trời đất không chỉ đi qua bốn mùa mà còn mang theo một thứ khí riêng, đổi chỗ từng năm một và quyết định năm ấy thừa hay thiếu. Có năm mưa gió dồn dập, có năm khô rét liên miên, có năm sâu trùng nổi lên, và những chuyện ấy được người xưa gắn với chính cái chữ can của năm. Muốn biết năm nào thuộc loại nào thì phải bắt đầu từ cách mười can phân nhau năm vận.
Một vòng cố định, một vòng đổi chỗ từng năm
Thái Ất giao hai việc cho hai ngôi sao. Thủy Kích giữ vị trí chủ khí, tĩnh, tức địa khí. Văn Xương giữ vị trí khách khí, động không ngừng. Chủ vận thuộc về địa khí nên bất dịch: năm nào cũng theo ngũ hành tương sinh Xuân, Hạ, Thu, Đông, tức sinh, trưởng, liễm, tàng. Đó là phần việc của Thủy Kích.
Còn khách vận thì lấy âm dương ngũ hành lưu chuyển qua mười thiên can theo thứ tự, và mỗi năm đổi một lần. Đó là phần việc của Văn Xương. Nhờ có sự gặp gỡ trên dưới, âm dương tan hợp mà mới có biến hóa, có hưu cữu, doanh hư, tiêu tức, thăng giáng.
Mười thiên can chia ngũ vận thành khách vận, thuộc thiên khí vận. Chúng ứng với mười phương vị trên thiên cầu, năm số thuộc dương và năm số thuộc âm. Số và phương, dụng và thể đối nhau mà hợp thành năm vận ứng với ngũ hành:
- Giáp, Ất ở phương Đông, thuộc quẻ Chấn, Tốn, hành Mộc.
- Bính, Đinh ở phương Nam, thuộc quẻ Ly, hành Hỏa.
- Mậu, Kỷ ở trung ương, thuộc quẻ Khôn, hành Thổ.
- Canh, Tân ở phương Tây, thuộc quẻ Kiền, Đoài, hành Kim.
- Nhâm, Quý ở phương Bắc, thuộc quẻ Khảm, hành Thủy.
Năm cặp can kết đôi như năm cặp vợ chồng
Cách lập khách vận có thể tìm thấy trong bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, mục Vận khí bí điển của Lãn Ông. Theo nghĩa vợ chồng phối hợp, con cháu sinh thành, người ta thấy có năm cặp hợp hóa:
- Giáp là chồng, Kỷ là vợ, vượng ở Dần, sinh ra dương Bính, là trưởng nam. Hỏa Bính sinh Thổ, Thổ là trưởng tôn. Vậy vận hành khách vận của Giáp Kỷ là Thổ, gọi là hóa Thổ.
- Canh là chồng, Ất là vợ, vượng ở Tỵ, sinh ra dương thổ Mậu, là trưởng nam. Thổ sinh Kim, Kim là trưởng tôn. Vậy Ất Canh hóa Kim.
- Bính chồng Tân vợ, vượng ở Sửu, sinh ra dương kim Canh là trưởng nam. Kim sinh Thủy, Thủy là trưởng tôn. Vậy Bính Tân hóa Thủy.
- Đinh chồng Nhâm vợ, vượng ở Hợi, sinh ra dương mộc Giáp là trưởng nam. Mộc Giáp sinh Hỏa thành trưởng tôn. Vậy Đinh Nhâm hóa Mộc.
- Mậu chồng Quý vợ, vượng ở Mùi, sinh ra dương thủy Nhâm là trưởng nam. Thủy sinh Mộc, Mộc là trưởng tôn. Vậy Mậu Quý hóa Hỏa.
Dương đi trước trời, âm đi sau trời
Nhìn vào chữ can của năm, người xưa đã biết năm ấy khí đến sớm hay muộn, tràn đầy hay hụt hơi.
Can dương gọi là tiên thiên, tức khí đến trước, thuộc thái quá. Đó là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm, khí giao nhau trước tiết Đại hàn mười ba ngày. Can âm gọi là hậu thiên, tức khí đến sau, thuộc bất cập. Đó là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý, vận trong năm giao nhau sau tiết Đại hàn mười ba ngày. Trong sáu mươi năm có ba mươi năm vận thái quá và ba mươi năm bất cập. Mỗi can có sáu năm, và từng năm trong sáu năm ấy mang một sắc thái riêng.
Sáu năm có chữ Giáp: thổ nhiều, thấp nhiều
Giáp là dương thổ, vận thái quá. Năm Giáp Tý và Giáp Ngọ, hỏa và kim hợp với hành Thổ. Năm Giáp Dần và Giáp Thân, khí trên dưới đều mạnh, riêng khí dưới yếu hơn. Năm Giáp Thìn thì khí trên quá thịnh, năm Giáp Tuất thì khí dưới quá thịnh. Thổ thắng khắc Thủy, khinh thường Thủy. Sắc vàng pha chút trắng, vì trắng là mẹ sinh ra Thủy, khí mẹ con ứng nhau nên cùng hiện ra.
Những năm ấy thấp khí nhiều. Người hay đau bụng, lạnh chân, nặng mình, bí kết, da vàng, chân mỏi, lười cử động, đều do thấp khí, hại thận trước rồi đến tỳ vị. Có người ho, bụng to, ngọc hành sưng, dễ giận hờn vì gan bị hại, phần hạ bộ sinh bệnh. Trời đất thì mưa gió nhiều và to, nước sông dâng cao, đầm ao nhiều cá, đất sụp lở, thấp khí lẫn vào gió mưa.
Sáu năm có chữ Ất: kim hụt, hỏa lấn, thủy trả thù
Ất là âm kim, vận bất cập. Năm Ất Sửu và Ất Mùi, thổ và thủy hợp với kim. Năm Ất Mão và Ất Dậu, khí hành kim hợp. Năm Ất Tỵ và Ất Hợi, hành Kim kém, hành Hỏa khắc, hành Thủy thịnh. Kim bất cập nên hỏa lấn tới, lửa nóng thịnh. Kim không thắng được Mộc. Hỏa mạnh thì Thủy phục thù, cỏ cây xanh tốt mà mưa rét dữ dội.
Người sinh hắt hơi, tiện huyết, đi cầu do tà khí hỏa làm hại. Bệnh âm thịnh bốc lên khiến hỏa không về được chỗ, nên đầu óc, miệng lưỡi thụ bệnh, đau ở ngực. Thời tiết có mưa rét dữ dội vì thủy phục thù hành hỏa vượng riêng, lại thêm băng tuyết nhiều và mưa đá. Muôn vật tai ương, mất mùa. Mùa hạ có biến về lửa thì mùa thu bị hại về sương tuyết, mưa đá. Lý do là không thắng được thì không phục thù được.
Sáu năm có chữ Bính: thủy mạnh, lửa tắt
Bính là dương thủy, vận thái quá. Năm Bính Tý và Bính Ngọ, hành thủy hợp mà khắc hành hỏa. Năm Bính Dần và Bính Thân, kiêm cả Thủy lẫn Hỏa nên không rét lắm. Năm Bính Thìn và Bính Tuất, hành thủy mạnh quá. Thủy thái quá thì khắc Hỏa, rồi Thổ phục thù.
Người nhiều hàn khí nên sinh bệnh hàn. Tạng tâm là hành hỏa chịu tà khí thì sinh nóng trong bụng, phiền, kinh sợ, âm lạnh mà lạnh chân, nói mê, đau ngực. Bản thân hành thủy cũng sinh bệnh như bụng to, ống chân nề, suyễn ho, mồ hôi trộm, sợ gió. Âm thịnh thì dương suy, khắc đến thổ thì sôi bụng, đi lỏng, ăn không tiêu. Nếu thủy lấn thổ thì tạng tâm mất chức, sinh khát, mụ người, tâm yếu. Thời tiết thì thổ phục thù nên có mưa to, dân dễ sinh bệnh dịch và ung nhọt. Riêng năm Bính Thìn và Bính Tuất, trên có Thái dương lâm vào, nên nước mưa và sương tuyết bất thần giáng xuống, thấp khí nhiều, âm thịnh dương suy.
Sáu năm có chữ Đinh: mộc hụt, kim sát phạt
Đinh là âm mộc, vận bất cập. Năm Đinh Sửu, Đinh Mùi, Đinh Mão, Đinh Dậu, hành Mộc bất cập rất nặng. Năm Đinh Tỵ và Đinh Hợi, hành Mộc cũng bất cập nặng nhưng được cứu trợ. Mộc bất cập thì Kim lấn tới, hóa ra khô ráo. Tiết Bạch lộ đến sớm, tiết hàn cũng đến sớm.
Người nhiều bệnh về phổi, đau gân, đau bụng dưới. Thổ yếu, hỏa suy, kim thịnh, nên trong người tự nhiên sinh nhiều trùng lạ gây dịch, vì vị thụ tà khí mà trùng sinh. Người dễ liệt, ung thư, nề sũng, đau ốm nhiều. Côn trùng nở nhiều, cỏ cây khô héo, cây cỏ tốt muộn. Nửa năm sau, loại sâu có cánh sinh nhiều vì khí hành hỏa hóa ra. Thời tiết có mưa lạnh nhưng nắng nóng vẫn nhiều, gió tây nhiều, muôn vật bị hại. Kim thắng Mộc thì khí trời sát phạt, rồi hỏa phục thù.
Sáu năm có chữ Mậu: lửa vượng không gì dập được
Mậu là dương hỏa, vận thái quá. Năm Mậu Tý và Mậu Ngọ, hỏa vượng không gì dẹp đi được. Năm Mậu Dần và Mậu Thân, hỏa rất mạnh, quân hỏa và tướng hỏa bốc lên. Năm Mậu Thìn và Mậu Tuất, thủy chế được hỏa. Hành Hỏa thịnh thì hành Kim suy, hành Thủy tất lấn tới nhiều.
Người nhiều bệnh: sốt rét mà ho, đau bụng nhiệt, đau cạnh sườn, đau vai lưng, sốt đau lưng, nhọt lở, băng huyết. Thời tiết nhiều mưa, gió to, sương tuyết. Hỏa quá thì kim phục thù, nước cạn.
Sáu năm có chữ Kỷ: thổ yếu, mộc lấn, gió nhiều
Kỷ là âm thổ, vận bất cập. Năm Kỷ Sửu, thổ yếu nhưng được cứu trợ. Năm Kỷ Mùi, Kỷ Mão, Kỷ Dậu, hành Thổ bất cập. Năm Kỷ Tỵ, thổ và hỏa cùng bất cập, thủy thắng. Hành thổ bất cập thì mộc lấn. Người bệnh phong nhiều, nặng mình, đầy ruột, thịt máy, hay giận dữ. Người khỏe thì ít ốm. Năm Mão và Tỵ nhiều nhọt.
Về thời tiết, mộc thịnh nên gió nhiều, cây tốt tươi nhưng không sinh nhiều trái, vì thổ lâm vào kinh quyết âm ở dưới khắc tướng hỏa nên không đầy đủ. Gió to là do Mộc khắc Thổ. Mùa thu mưa dầm là do Kim phục thù Mộc. Gió lớn nhiều nhất vào bốn tháng cuối bốn mùa, là tháng ba, sáu, chín, mười hai. Thổ yếu thì Thủy chẳng sợ gì.
Sáu năm có chữ Canh: kim quá, khô và sát
Canh là dương kim, vận thái quá. Năm Canh Tý và Canh Ngọ, hành Kim thái quá lại được trợ giúp. Năm Canh Dần và Canh Thân, hành Kim khắc quá nhưng hành Hỏa thịnh phạt hành Kim. Năm Canh Thìn, hành Kim quá, không hành nào dẹp được. Năm Canh Tuất, Kim thịnh, Mộc suy, Kim mạnh quá, Hỏa lấn đi.
Người có bệnh ráo vì vận kim thái quá khiến khí ráo lưu hành. Tạng can là hành mộc chịu tà khí, nên hay có bệnh về gân, đau mắt, ngứa, tai điếc. Tạng phế bị ảnh hưởng thì sinh ho ngược lên, đau vai, hạ bộ dễ bệnh. Người dễ chết vì dịch, nhất là bệnh gan và bao tử. Kim thịnh thì Mộc suy, nên cây cối kém tươi, dễ khô héo. Khí hậu thất thường, nóng rét không đều, mưa sương bất thường, nhiều sát khí ngay từ mùa xuân và mùa xuân đã mưa nhiều.
Sáu năm có chữ Tân: thủy hụt, thổ lấn
Tân là âm thủy, vận bất cập. Năm Tân Sửu và Tân Mùi, hành thủy ở trên kém lắm, ở dưới thì mạnh. Năm Tân Mão và Tân Dậu, hành thủy bất cập. Năm Tân Tỵ và Tân Hợi, hành thủy yếu. Thủy bất cập thì thổ lấn tới, thấp khí nhiều. Thủy đã suy thì Thổ và Hỏa đồng hóa với nhau, nên khí hành Hỏa làm việc.
Người sinh các bệnh về hạ bộ, sắc mặt biến đổi, gân cốt co quắp, thịt máy, mắt mờ, phong ngứa, đau bụng trên và bụng dưới. Đó là thận bị hại, cần bổ thận để trừ thấp. Thời tiết nắng mưa liên miên khiến nhà nông mất mùa. Chợt có gió to làm cây gãy, cỏ rạp, muôn vật không tươi sáng.
Sáu năm có chữ Nhâm: mộc quá, gió quá
Nhâm là dương mộc, vận thái quá. Năm Nhâm Tý và Nhâm Ngọ, hành Mộc thái quá. Năm Nhâm Dần và Nhâm Thân, hành Mộc thịnh quá. Năm Nhâm Thìn và Nhâm Tuất, hành Mộc thái quá không gì dẹp nổi. Mộc thắng thì Thổ suy, Kim lấn tới. Phong khí nhiều, hay phát bệnh thuộc thổ như choáng váng, co giật, mắt mờ.
Người dễ trúng phong, trúng gió. Tạng tỳ gặp tà khí thì yếu, sinh ra giận dữ, đau bụng, nôn ọc. Về thời tiết thì nghịch khí nhiều, gió to, gió lớn đùng đùng, cỏ cây không tốt, dễ héo rụng. Trời đất dễ biến động, trời tối. Những năm Tý, Ngọ, Dần, Thân đặc biệt nhiều nghịch khí, báo điềm tàn bạo và kinh sợ.
Sáu năm có chữ Quý: hỏa hụt, hàn nhiều
Quý là âm hỏa, vận bất cập. Năm Quý Sửu và Quý Mùi, hành Hỏa và hành Mộc bất cập. Năm Quý Mão và Quý Dậu, hành Hỏa hợp với sao Tuế Hội. Năm Quý Tỵ và Quý Hợi, hành Hỏa kém nhưng có trợ giúp. Thủy lấn Hỏa nên sinh nhiều hàn khí, rét nhiều, có khi mùa hạ cũng rét, nhất là sau khi mưa to. Lại có nhiều sấm sét, mưa dầm. Sấm và mưa dầm là vì khí uất do thủy vượng, thổ phục thù mà uất lên thành mưa to. Cũng có khi hành hỏa ngưng lại sinh ra trời ảm đạm, mưa dầm, khí hậu lạnh.
Người dễ sinh bệnh âm tà, đau tim, đau gân, phong thấp, nhức nhối, đau cạnh sườn và vai lưng. Có người đầy bụng, ỉa lỏng, sốt. Chân tay chợt co vào, hay mỏi và tê chân không đứng vững. Đó là hàn tà vào tâm sinh bệnh, nên cần bổ tim và trục hàn. Năm ấy bệnh nhiều. Nên thuận thời mà theo, trái thời thì dẹp.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
