Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng dụng

Bài tổng quan

Hào hóa, người mượn tiền có trả không và chuyện cưới hỏi

Bói Dịch - Ứng dụng02/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Hào hóa, người mượn tiền có trả không và chuyện cưới hỏi

Cho mượn một khoản tiền rồi mới nhận ra người kia cứ lần lữa mãi. Trong quẻ, hào Ứng nói lòng người, hào Tài nói tiền, hào Thế nói sức mình, nhưng ba hào ấy hiếm khi cùng nói một điều…


Vì sao quẻ lại sinh ra những tình huống hóa

Ai chơi Lục hào một thời gian cũng đụng phải những cụm quen thuộc: động hóa Mộ, hóa Không, hóa Phá, hóa Tuyệt, hay chiều ngược lại như Tuyệt hóa, Phá hóa, Không hóa, thậm chí Không hóa Không, Không hóa Phá, Phá hóa Phá. Chuyện này diễn ra thường xuyên, vì rất ít khi hào đơn giản chỉ vượng hay suy là biết ngay kết quả. Vậy các kiểu hóa ấy xuất hiện để làm gì, và chúng khác với cách xét thông thường ở điểm nào?

Câu trả lời là chúng có mặt để báo những trường hợp không lý tưởng. Mọi thứ không phải lúc nào cũng đồng quy về một điểm. Lấy ví dụ ngày Mão, tháng Thân. Nếu Dụng thần đứng đúng ở Mão thì mọi chuyện đơn giản: việc thành, và thành ngay trong ngày, vì sự việc và thời gian trùng nhau tại Nhật, hào vượng và chuyện xảy ra gần. Đây là tình huống lý tưởng. Nhưng giả sử có một việc khác, cũng thành, mà lại thành ở Hợi thì sao? Không thể nói hào đang ở Trường sinh, vì khi ấy hào lâm Nhật là đã vượng. Tình huống như vậy nếu có thì quẻ sẽ biểu hiện bằng Dụng thần ở Dần và động. Dần bị tháng Thân xung, tức là Phá, nhưng Phá động thì không còn tính là Phá nữa. Tuy vậy, trước thời điểm hợp Phá thì mọi việc chưa xảy ra, nên thời điểm ứng kỳ của hào Dần Phá động này nằm ở Hợi, vì Hợi hợp với hào bị Phá, còn Dụng thần thì lại vượng ở Nhật, nên việc thành ngay tại Hợi. Các tình huống hóa tồn tại chính để biểu thị những trường hợp lệch khỏi lý tưởng như vậy.

Còn có một tầng ý nghĩa khác. Phá thường tượng trưng cho việc bị chia nhỏ, vụn vặt. Không báo việc chưa có mối manh chắc chắn. Thế Không báo bản thân chưa tìm ra phương hướng. Tất cả những tượng này đều được xét ngay trên hào động, và hóa Không hay hóa khắc là cách để chúng hiện ra.

Hóa khắc, hóa Không, hóa Phá, hóa Mộ, hóa Tuyệt

Chuyện hóa khắc phức tạp hơn một chút. Nếu Nguyên thần Không hoặc Phá, còn Dụng thần Phá động rồi hóa khắc, thì thời điểm mà các hào Không Phá ấy được thực là lúc việc xảy ra. Còn nếu Kỵ, Cừu, Tiết là bên Không Phá động hóa khắc, thì quẻ cho thấy các yếu tố bất lợi đang diễn ra, nhưng đến thời điểm thực của chúng thì việc sẽ xong. Nghĩa là người hỏi còn phải chịu căng thẳng cho đến lúc ấy. Trường hợp hóa Không Phá cũng suy luận tương tự.

Với Không hóa Phá hay Phá hóa Không thì lại khác. Lúc này phải xét quy mô sự việc: chuyện xảy ra trong ngày, trong tháng, trong năm, hay thậm chí trong giờ. Khi đã xác định quy mô, ta chiếu theo vòng xoay của địa chi và tìm bốn điểm gồm xung thực Không, hợp trực Phá. Điểm nào gần nhất thì lấy làm điểm ứng kỳ.

Hóa Mộ thường ứng vào lúc xung Mộ. Nhưng có trường hợp không tính như vậy, ví dụ khi Nguyệt khắc Mộ, đồng thời Nhật không sinh cũng không đóng ở Mộ, thì Mộ coi như không có. Khi ấy lại xét quan hệ giữa hào động và hào biến. Thổ làm hào biến thì đáng chú ý, vì ngoài các trường hợp Mộ, Không, Phá, hào biến không chịu tác động của Nhật Nguyệt, trừ một số tình huống đặc biệt. Hóa Tuyệt thì nếu hào vượng là thoát, thời điểm ứng kỳ ở Trường sinh, tức là một khởi đầu mới trên nền những gì đã xong.

Với người mới vào, có thể thấy quá nhiều tư thế để chơi Dịch. Mỗi người tự chọn lấy. Chỉ có điều đừng thiết kế lại cái bánh xe. Việc tìm hiểu vì sao bánh xe được làm như vậy là cần thiết cho việc chơi nghiêm túc. Nếu không, cả đời xoay vần mà chẳng chơi nổi, và nếu còn thấy áp lực thì tức là chưa chơi đúng nghĩa.

Người mượn tiền có chịu trả không

Muốn biết người mượn tiền có xù hay không, cứ xem hào Ứng để biết thành ý, xem hào Tài để biết tiền thu về, và xem hào Thế để biết khả năng đòi của mình. Nếu Ứng khắc Thế thì gặp ngay người chây ì. Nếu Thế rơi vào Không thì coi như hỏng, mình không còn khả năng đòi nữa, và cũng áp dụng cho trường hợp Thế suy hoặc Phá.

Chuyện lúc này là phải nghĩ xem mình đòi bằng cách nào. Hành của hào Thế cho biết tính của chính người đi đòi: Thổ là người ngại ngùng mà ỉ lại; Mộc là hiền; Hỏa là nóng vội; Thủy là mềm mỏng; Kim thì cứng, nên khó đòi. Thêm Âm Dương thì biết mình đang do dự hay quá cứng, thêm Lục thú thì rõ hơn nữa. Biết người là trí, biết mình mới là sáng, nhớ như vậy.

Còn đối phương thế nào thì hào Ứng cho thấy. Ứng Phá thì có đuổi cũng chẳng trả được. Ứng Mộ là chạy trốn. Ứng Tuyệt là thành ý nhạt dần. Nếu Ứng khắc Thế ngay từ đầu thì hai bên đã có sự lợi dụng nhau. Ứng sinh Thế thì thành ý thật, nhưng nếu gặp tuần không thì chỉ là thành ý bên ngoài. Ứng lâm Huynh thì người ấy chỉ đủ cho bản thân mình, nên đã biết mà tránh thì phải để ý các tượng này. Huynh trì Thế cũng báo sự mất mát, trừ khi Tài xung hoặc hợp Thế, hoặc Huynh ở Mộ mà Nhật Nguyệt hiện thời không xung, lúc ấy thì mới đòi được.

Cần lưu ý trường hợp Huynh trì Thế rồi động hóa hợp, hay động hợp tại Nhật Nguyệt hoặc hợp với một hào động khác thì không tính như vậy. Thế khắc Ứng thì đòi được, nhưng nếu Thế suy mà Ứng vượng thì chỉ có danh mà không có thực. Thế động hóa hợp sẽ vướng mắc. Nếu cả ba yếu tố Ứng, Tài, Thế đều ổn thì chờ lúc xung mới hợp mà đòi được. Điều này cũng đúng khi xét ứng kỳ của hôn nhân, của một cuộc gặp, hay của người đi xa.

Có một tình huống cần đặc biệt cân nhắc: Tài khắc Thế. Lúc này dù là tượng đòi được đi nữa, mà thời điểm lấy lại có thoải mái, thì cũng báo việc sẽ vì món nợ này mà mệt. Ví dụ cho vay, tháng sau lấy được nhưng ngày sau lại bị bệnh mất, thì tiền đâu bây giờ? Quẻ Lục xung nếu hội đủ các yếu tố ổn thì cũng báo đòi được, nhưng sau đó hai bên mất quan hệ. Thế nhập Mộ thì cứ vội lên mà thành, đừng chê.

Nếu Thế bị hao vì hào động tiết khí thì là tượng nhờ người đòi hộ. Khi đó xem thêm hào động ấy đối với Ứng ra sao. Hào động sinh Ứng thì người mình nhờ lại kiêu, tin người mà chơi bời, đi theo lụy người nợ. Hào động khắc Ứng mà động vượng, Ứng suy, Thế cũng suy hoặc Thế Hưu bị tiết khí thì tốt nhất quên món nợ ấy đi, nếu không sẽ phiền phức. Vì sao phiền? Vì người mình nhờ có thể lỡ tay, nhẹ thì bên kia nhập viện, nặng thì chết, mà hậu quả nào cũng lụy đến mình. Cần nhắc kỹ điều này.

Còn Tài nếu nhập Mộ là tượng tiền đã được đem đi làm việc khác. Tài vượng thì đến lúc xung Mộ sẽ lấy lại, nhưng Tài suy thì xem như hết hy vọng, tiền của mình nó đem cho người mất rồi. Tài động khắc Ứng thì không nên cho mượn, vì tiền ấy mình cho người ta chứ không phải cho vay, cẩn thận. Thế Tuyệt thì bản thân nản dần; nhưng nếu hai yếu tố còn lại vẫn ổn thì sẽ đòi được, cố gắng thêm, nhiều khi thành công chỉ cách hiện tại vài bước chân.

Nếu quẻ Lục hợp thì nó không báo điểm đòi được hay vướng mắc, mà chỉ báo hai bên ban đầu tâm đầu ý hợp, nhưng giữa điều đó với việc trả tiền thì nhiều khi là hai đoạn khác nhau. Lục hợp thì phải xét tiếp đến bản chất Lục thân hay ngũ hành của các hào đang hợp. Hợp mà bị tiết thì vẫn là hợp nhau nhưng phải chiều bên kia. Với tiền cũng thế, Tài hợp Thế đến Huynh thì tức là mình đi sai cách, nhưng tiền rơi vào đâu cũng không hiếm.

Tình huống Lục hợp hóa Lục xung, hay ngược lại, hoặc quẻ cứ lòng vòng, thì xét như các trường hợp xung hợp thông thường. Ngoài ra, Quy hồn hay Du hồn báo tình trạng do dự, cũng phải chú ý ba yếu tố đã nêu. Phản ngâm là tượng đòi nhiều lần, còn Phục ngâm ở ngoại quái là việc đòi kéo dài, vòng đi vòng lại. Nếu nói thêm thì vì tiền mà nhà mình rối ren. Hóa tiến là quyết tâm tăng, hóa thoái là nản dần; nếu hào vẫn còn vượng thì lo đòi ngay, nếu không thì hào Ứng hay Thổ thoái đều sẽ khiến người đòi nản chân mà khoản tiền chẳng đi đâu về đâu.

Cuối cùng, nếu người mượn tiền là người có quan hệ huyết thống thì chỉ cần xem Dụng thần và Thổ, không cần xem Tài.

Chuyện yêu và chuyện cưới: ba nhân vật chính

Ai trong đời cũng từng yêu, đang yêu, hoặc sẽ yêu, hoặc chẳng yêu, và chẳng yêu cũng là một nỗi bất hạnh. Khi xem một quẻ về chuyện yêu hay cưới, cần nhìn ba nhân vật chính là Dụng thần, Thế và Ứng. Dụng thần đại diện cho phía đối tác, Thế là chính mình, còn Ứng là gia đình đối phương.

Thế suy thì việc hỏng do mình, Dụng suy thì hỏng vì người kia. Dụng Mộ thì việc hỏng với người này; nếu vượng, đến lúc xung Mộ sẽ có người khác. Thế Tuyệt thì mình chán nản; Dụng Tuyệt thì người kia hết hơi, nhưng đó là thời điểm hiện tại, nếu vượng thì đến lúc Trường sinh sẽ bắt đầu lại. Thế Không thì mình tự đổi ý; Dụng Không thì người kia giận, việc không thành, bất kể vượng hay suy.

Cừu thần động là tượng gián tiếp đã có sự nản lòng, lúc đó xét xem Cừu có hợp Thế hay Dụng, có sinh Thế, tiết Thế hay trì Thế, để biết vấn đề hôn nhân nằm ở đâu.

Hào Ứng không đóng vai trò thành hay bại trong chuyện yêu đương, nhưng bên nhà người ấy đối xử với mình thế nào thì vẫn phải xét. Ứng khắc Thế thì không được lòng, ưa cũng chỉ ở bề ngoài. Ứng sinh Thế mà khắc Dụng thì họ quý mình hơn quý con họ.

Hào gián khắc, thương, có cản trở. Nếu đó là Nguyên thần của Thế hay của Dụng thì cẩn thận có người thứ ba. Hào động hợp với Thế hoặc Dụng thì tuy là hợp, vẫn đoán định được bên nào đổi ý, và xem thêm trạng thái quan hệ của hai hào để biết bản chất mối quan hệ là gì mà phòng trước. Không phải lúc nào ai cũng ngoan. Phá là hỏng, bất kể Thế hay Dụng, bất kể vượng hay suy.

Nguyên thần động báo người thứ ba. Hoặc nếu Dụng suy, nó báo người giúp đỡ. Thiên cơ báo ở hào động, không thừa, nên xét và thông biến. Tiết thần hay Nguyên thần phục dưới Dụng, Tiết thần hay Nguyên thần phục dưới Thế, thì báo người ấy từng có hôn nhân cũ, hoặc một quan hệ như hôn nhân.

Chọn đúng Dụng thần theo điều người hỏi thật sự lo

Có những câu hỏi không phải chuyện cưới hỏi trực tiếp mà liên quan đến nó. Khi đó phải chọn Dụng thần theo điều người hỏi thật sự muốn biết. Chẳng hạn người hỏi bao giờ chồng chết thì cần hỏi kỹ: mong như thế có phải vì tiền của chồng, hay vì sợ chồng bỏ mẹ mình? Nếu sợ bỏ mẹ thì xem Phụ Mẫu, không cần quan tâm Tài hay Quan. Nếu hỏi cưới xong anh em có hòa thuận không thì đừng xem Huynh, Tài, Quan, vì Huynh và Tài, Quan luôn khắc theo cặp, mà phải xem quan hệ giữa Thế và Huynh, vì khi đôi ta về một nhà thì là người một nhà. Điều này đúng với việc kinh doanh chung với chồng, vì khi đã xem chuyện chồng là chuyện nhà.

Chuyện ly dị cũng cần xét kỹ. Nếu lo vì con thì xem Tử Tôn, chồng có đồng ý hay không thì xem Quan, còn chia tài sản thì xem Phụ hoặc Tài. Mỗi điều lo mang một Dụng thần riêng, và chọn sai Dụng thần thì quẻ có đẹp mấy cũng trả lời sai câu hỏi.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng dụng