Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Địa chi, tám quẻ đơn và ba đồng xu dựng nên một quẻ

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Địa chi, tám quẻ đơn và ba đồng xu dựng nên một quẻ

Một đồng xu tròn có lỗ vuông, tay người cầm nó đã ngầm chứa cả trời, đất lẫn con người. Chỉ sáu lần thả xuống mặt bàn là hiện ra một hình quẻ, kèm theo mười hai địa chi và tám cung mà quẻ nào cũng phải thuộc về. Nhưng vì sao có hào phải đổi sang hình dạng ngược lại…


Sáu mươi hoa giáp: sợi chỉ thời gian chạy qua nhiều ngành học

Từ đời Thương, người xưa đã dùng sáu mươi hoa giáp để ghi ngày, tháng, năm, điều mà những mảnh giáp cốt khai quật được đã chứng minh. Vòng sáu mươi ấy mang một sức chứa khó hình dung: nó gói trong mình khái niệm về thời gian và không gian, và diễn tả sự biến hóa của vũ trụ cùng muôn sự muôn vật. Nó không chỉ có vai trò lớn đối với sự phát triển của Dịch học mà còn thấm vào nhiều học thuật khác về sau. Trong y học cổ truyền, những phép lấy huyệt như Tý Ngọ lưu chú hay Linh quy bát pháp đều dựa vào thiên can địa chi của lúc bệnh nhân đến để chọn huyệt vị. Có thể nói, nếu không có can chi thì lịch sử sẽ chẳng bao giờ xuất hiện thuật dự đoán Lục hào.

Mười thiên can: thứ tự cố định của một vòng đời

Tên gọi của các can nghe khô khan, nhưng sau mỗi tên là một nhịp của vạn vật: nảy mầm, thịnh vượng, già yếu rồi tàn lụi.

Mười thiên can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Thứ tự này cố định, như vạch ra tiến trình biến hóa của muôn vật từ sinh trưởng, phồn thịnh, già yếu cho đến tử vong.

Về âm dương, số lẻ là dương, số chẵn là âm. Vì vậy Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương can, còn Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm can. Về ngũ hành, Giáp Ất thuộc mộc, Bính Đinh thuộc hỏa, Mậu Kỷ thuộc thổ, Canh Tân thuộc kim, Nhâm Quý thuộc thủy. Về phương vị, Giáp Ất ở phương Đông, Bính Đinh ở phương Nam, Mậu Kỷ ở trung ương, Canh Tân ở phương Tây, Nhâm Quý ở phương Bắc.

Giữa các can cũng có hợp, có xung. Nhưng khi lập quẻ Lục hào, thường chỉ cần xét thiên can của ngày để phối với sáu con thú. Ý nghĩa sâu hơn của mười can rất ít khi được dùng, nên ở đây có thể nhớ qua mà không cần ôm đồm.

Mười hai địa chi: tấm bản đồ phải thuộc lòng

Nếu thiên can ít xuất hiện, thì địa chi lại là thứ gặp ở mọi hào của mọi quẻ, nên cần nhớ cho thật kỹ từng thuộc tính của chúng.

Mười hai địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Trong Lục hào chúng có vị trí cực kỳ quan trọng, cần nhớ kỹ thuộc tính ngũ hành cùng các quan hệ sinh khắc, xung hợp.

Dương chi gồm Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất; âm chi gồm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Về ngũ hành, Dần Mão thuộc mộc, trong đó Dần là dương mộc, Mão là âm mộc. Tỵ Ngọ thuộc hỏa, Ngọ là dương hỏa, Tỵ là âm hỏa. Thân Dậu thuộc kim, Thân là dương kim, Dậu là âm kim. Hợi Tý thuộc thủy, Tý là dương thủy, Hợi là âm thủy. Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ, Thìn Tuất là dương thổ, Sửu Mùi là âm thổ.

Về phương vị, Tý ở phương Bắc, Sửu Dần ở Đông Bắc, Mão ở phương Đông, Thìn Tỵ ở Đông Nam, Ngọ ở phương Nam, Mùi Thân ở Tây Nam, Dậu ở phương Tây, Tuất Hợi ở Tây Bắc. Về bốn mùa, Dần Mão Thìn là mùa xuân, Tỵ Ngọ Mùi là mùa hạ, Thân Dậu Tuất là mùa thu, Hợi Tý Sửu là mùa đông.

Theo dương lịch, Dần ứng với tháng hai, Mão tháng ba, Thìn tháng tư, Tỵ tháng năm, Ngọ tháng sáu, Mùi tháng bảy, Thân tháng tám, Dậu tháng chín, Tuất tháng mười, Hợi tháng mười một, Tý tháng mười hai và Sửu tháng một. Mười hai chi cũng là mười hai canh giờ: giờ Tý từ 23 đến 1 giờ, Sửu từ 1 đến 3, Dần từ 3 đến 5, Mão từ 5 đến 7, Thìn từ 7 đến 9, Tỵ từ 9 đến 11, Ngọ từ 11 đến 13, Mùi từ 13 đến 15, Thân từ 15 đến 17, Dậu từ 17 đến 19, Tuất từ 19 đến 21, Hợi từ 21 đến 23.

Giữa các chi có sáu đôi tương hợp, gọi là lục hợp: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tỵ hợp Thân, Ngọ hợp Mùi. Cũng có sáu đôi tương xung, gọi là lục xung: Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tỵ xung Hợi. Mỗi chi còn đi cùng một con vật: Tý là chuột, Sửu là trâu, Dần là hổ, Mão là thỏ, Thìn là rồng, Tỵ là rắn, Ngọ là ngựa, Mùi là dê, Thân là khỉ, Dậu là gà, Tuất là chó, Hợi là lợn.

Ba chi đứng cách đều nhau có thể hội thành một cục: Thân Tý Thìn hợp thành thủy cục, Tỵ Dậu Sửu thành kim cục, Dần Ngọ Tuất thành hỏa cục, Hợi Mão Mùi thành mộc cục. Còn cách hình thì có Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân; Sửu, Tuất, Mùi hình lẫn nhau; Tý hình Mão, Mão hình Tý; Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi tự hình. Những khái niệm này sẽ còn xuất hiện liên tục khi đoán quẻ, nên cần ghi nhớ ngay từ bây giờ.

Tám quẻ đơn: tám khuôn mặt của vũ trụ

Từ những viên gạch thời gian ấy, bước sang hình khối: một vạch liền, một vạch đứt, ghép ba lần thành tám dạng cơ bản.

Vũ trụ muôn hình muôn vẻ, đếm không xuể, biến hóa khôn lường, nhưng không lộn xộn mà có quy luật tồn tại trong tự nhiên rất kỳ diệu. Cổ nhân căn cứ vào tính chất khác biệt của sự vật, dùng khái niệm trừu tượng gom tất cả thành tám loại hình thái. Đó chính là bát quái: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài. Càn đại biểu trời, Khôn đại biểu đất, Chấn đại biểu sấm, Tốn đại biểu gió, Khảm đại biểu nước, Ly đại biểu lửa, Cấn đại biểu núi, Đoài đại biểu đầm.

Ký hiệu cơ bản nhất cấu tạo bát quái gọi là hào, chia thành hào dương là vạch liền và hào âm là vạch đứt. Cứ ba hào hợp thành một quẻ đơn, mô phỏng ba ngôi trời, đất, người. Hai quẻ đơn chồng lên nhau thành một quẻ kép sáu hào; quẻ trên gọi là thượng quái hay ngoại quái, quẻ dưới gọi là hạ quái hay nội quái. Như vậy có tất cả sáu mươi bốn quẻ kép.

Để dễ nhớ hình dạng, người xưa truyền một câu khẩu quyết:

Càn ba vạch liền, Khôn sáu vạch đứt, Chấn như chén ngửa, Cấn như bát úp, Đoài trên khuyết, Tốn dưới đứt, Ly giữa rỗng, Khảm giữa đầy

Bát quái chỉ có tám dạng, nhưng chúng đối ứng được với vạn sự vạn vật, nên có thể xem như kho thông tin của vũ trụ. Khi đoán Lục hào, chỉ cần nắm những nghĩa thường dùng nhất.

Về người trong gia đình, Càn là cha, Khôn là mẹ, Chấn là trưởng nam, Tốn là trưởng nữ, Khảm là con trai giữa, Ly là con gái giữa, Cấn là con trai út, Đoài là con gái út. Về thân thể, Càn là đầu, Đoài là miệng, Chấn là chân, Ly là mắt, Khảm là tai, Cấn là tay, Khôn là bụng. Về nội tạng, Càn gắn với đầu, phổi, đại trường; Khôn và Cấn gắn với tỳ, vị; Chấn và Tốn gắn với gan; Khảm gắn với thận, bàng quang; Ly gắn với tim, tiểu trường; Đoài gắn với phổi, đại trường.

Về phương vị, Càn ở Tây Bắc, Đoài ở phương Tây, Ly ở phương Nam, Chấn ở phương Đông, Tốn ở Đông Nam, Khảm ở phương Bắc, Cấn ở Đông Bắc, Khôn ở Tây Nam. Về ngũ hành, Càn và Đoài thuộc kim, Khôn và Cấn thuộc thổ, Ly thuộc hỏa, Chấn và Tốn thuộc mộc, Khảm thuộc thủy.

Sáu mươi bốn quẻ chia về tám cung

Sáu mươi bốn quẻ không đứng rời rạc, mà xếp vào tám nhà, mỗi nhà một họ ngũ hành.

Khi tám quẻ đơn lần lượt chồng lên nhau sẽ sinh ra sáu mươi bốn quẻ kép, và trong Lục hào, chúng được chia thành tám cung, mỗi cung tám quẻ, theo một trật tự cố định không đổi, quẻ nào cũng có tên gọi riêng. Quẻ thứ nhất của mỗi cung có thượng và hạ quái giống nhau, gọi là quẻ Bát Thuần hay quẻ bản cung. Quẻ thứ bảy gọi là quẻ du hồn, quẻ thứ tám gọi là quẻ quy hồn. Cả tám quẻ trong một cung đều cùng thuộc tính ngũ hành với cung ấy: tám quẻ cung Càn đều thuộc kim, tám quẻ cung Khôn đều thuộc thổ, các cung khác suy ra tương tự.

Cung Càn: Bát Thuần Càn, Thiên Phong Cấu, Thiên Sơn Độn, Thiên Địa Bĩ, Phong Địa Quán, Sơn Địa Bác, Hỏa Địa Tấn, Hỏa Thiên Đại Hữu. Cung Đoài: Bát Thuần Đoài, Trạch Thủy Khốn, Trạch Địa Tụy, Trạch Sơn Hàm, Thủy Sơn Kiển, Địa Sơn Khiêm, Lôi Sơn Tiểu Quá, Lôi Trạch Quy Muội. Cung Ly: Bát Thuần Ly, Hỏa Sơn Lữ, Hỏa Phong Đỉnh, Hỏa Thủy Vị Tế, Sơn Thủy Mông, Phong Thủy Hoán, Thiên Thủy Tụng, Thiên Hỏa Đồng Nhân. Cung Chấn: Bát Thuần Chấn, Lôi Địa Dự, Lôi Thủy Giải, Lôi Phong Hằng, Địa Phong Thăng, Thủy Phong Tỉnh, Trạch Phong Đại Quá, Trạch Lôi Tùy.

Cung Tốn: Bát Thuần Tốn, Phong Thiên Tiểu Súc, Phong Hỏa Gia Nhân, Phong Lôi Ích, Thiên Lôi Vô Vọng, Hỏa Lôi Phệ Hạp, Sơn Lôi Di, Sơn Phong Cổ. Cung Khảm: Bát Thuần Khảm, Thủy Trạch Tiết, Thủy Lôi Truân, Thủy Hỏa Ký Tế, Trạch Hỏa Cách, Lôi Hỏa Phong, Địa Hỏa Minh Di, Địa Thủy Sư. Cung Cấn: Bát Thuần Cấn, Sơn Hỏa Bí, Sơn Thiên Đại Súc, Sơn Trạch Tổn, Hỏa Trạch Khuê, Thiên Trạch Lý, Phong Trạch Trung Phu, Phong Sơn Tiệm. Cung Khôn: Bát Thuần Khôn, Địa Lôi Phục, Địa Trạch Lâm, Địa Thiên Thái, Lôi Thiên Đại Tráng, Trạch Thiên Quải, Thủy Thiên Nhu, Thủy Địa Tỷ.

Ba đồng xu và cách ghi một quẻ

Đã có hình khối và có đủ tên gọi, vẫn còn thiếu một việc nhỏ nhất: làm sao từ bàn tay người xem lấy ra được một quẻ cụ thể.

Việc đầu tiên của Lục hào là lấy quẻ. Cách phổ biến nhất là dùng ba đồng xu, gọi là phép gieo xu hay phép ném xu. Phương pháp này ước chừng có từ thời Chiến Quốc và đến giữa đời Hán thì bắt đầu được dùng để thay cho cây cỏ thi hay mai rùa, đẩy nhanh tốc độ lấy quẻ. Cách dùng đồng xu đặc biệt, đơn giản mà hàm ý sâu sắc: một đồng xu có mặt trước và mặt sau, tượng trưng cho hai nghi âm dương. Mặt có chữ là âm, mặt không chữ là dương. Ba đồng xu lại tượng trưng cho ba ngôi trời, đất, người. Ngay hình dáng đồng xu cũng chứa đủ ý nghĩa: bên ngoài tròn tượng trời, giữa có lỗ vuông tượng đất, bắt nguồn từ quẻ Càn tròn và quẻ Khôn vuông, trời tròn đất vuông; phần rìa ngoài lỗ giữa tượng trưng thân thể người. Chỉ ba đồng xu nhỏ mà bao hàm lý lẽ trời đất âm dương, và phản chiếu cả đạo một sinh hai, hai sinh ba của vũ trụ.

Người xưa xin quẻ thường làm nhiều nghi thức cầu kỳ như tắm rửa, đốt hương, lấy đó làm tôn kính thần linh và cầu thần linh gợi ý. Nhưng trên thực tế, Lục hào không liên quan gì đến thần linh. Đó chỉ là một hoạt động của tiềm thức: miễn là trong lòng thật sự muốn xem, tay cầm xu gieo là đủ. Còn nếu người cần xem coi đó như trò đùa, trong đầu không có suy nghĩ gì cho việc cần hỏi, thì hình quẻ có khả năng không cho được thông tin chính xác nào. Người đến hỏi hay chính người đoán gieo quẻ đều được, vì gieo quẻ chỉ là một hình thức để lộ ra hình quẻ.

Cách làm là người cần xem cầm ba đồng xu trong tay, chắp hai tay lại, để đồng xu rơi qua khe tay, rồi cọ xát hai bàn tay cho đồng xu chạm nhau, tạo ra một sự kết nối với tâm linh. Lắc vài lần, rồi thả xuống mặt bàn, không thả lên vật mềm, hoặc thả vào đĩa hay mâm, và nhìn mặt chính của ba đồng xu. Ghi lại rồi gieo tiếp. Cứ như thế gieo sáu lần thì được một quẻ sáu hào.

Cách ghi: một mặt không chữ, hai mặt có chữ là thiếu dương, ghi một vạch liền. Hai mặt không chữ, một mặt có chữ là thiếu âm, ghi một vạch đứt. Ba mặt không chữ là lão dương, còn gọi là trùng, ghi một vòng tròn. Ba mặt có chữ là lão âm, còn gọi là giao, ghi dấu chéo. Cách ghi này gọi là họa quẻ hay điểm quẻ. Quẻ được điểm từ dưới lên: lần gieo thứ nhất ra hào sơ, lần thứ hai ra hào hai, cứ thế đến lần cuối cùng là hào thượng, tức hào thứ sáu. Mỗi quẻ do sáu hào tạo thành nên gọi là quẻ sáu hào.

Lão dương và lão âm trong quẻ gọi là hào động, biểu thị hào ấy sắp sinh biến hóa: dương động biến thành âm, âm động biến thành dương, đúng với lý của vũ trụ rằng dương đến cực thì biến thành âm, âm đến cực thì biến thành dương. Hào được biến ra gọi là hào biến. Quẻ gieo được gọi là chủ quái hay bản quái; quẻ sinh ra sau khi hào động biến đổi gọi là biến quái hay chi quái. Cũng có những quẻ không có hào động nào, chỉ có chủ quái.

Ví dụ gieo sáu lần như sau. Lần thứ nhất ra hai mặt chữ, một mặt trơn: thiếu dương, hào sơ là vạch liền. Lần thứ hai ra hai mặt trơn, một mặt chữ: thiếu âm, hào hai là vạch đứt. Lần thứ ba lại thiếu dương. Lần thứ tư ra ba mặt chữ: lão âm, hào bốn là dấu chéo. Lần thứ năm ra ba mặt trơn: lão dương, hào năm là vòng tròn. Lần thứ sáu ra thiếu âm, hào thượng là vạch đứt. Quẻ này có thượng quái là Khảm, hạ quái là Ly, tức Thủy Hỏa Ký Tế. Hai hào bốn và năm phát động, biến hóa để cho ra quẻ Lôi Hỏa Phong. Như vậy Thủy Hỏa Ký Tế là chủ quái, Lôi Hỏa Phong là chi quái.

Thật ra chẳng nhất thiết phải là đồng xu mới gieo được quẻ. Chỉ cần có ba đồng tiền giống nhau là gieo được, và mặt nào sấp mặt nào ngửa cũng không quá câu nệ, miễn là tự quy định rõ mặt nào là âm, mặt nào là dương, rồi cứ thế mà gieo.

Nguồn: Vương Hổ Ứng, Lục Hào Bảo Điển.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán