Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Chương Chủng Tác, Lục Súc, Tàm Tang: Xem Mùa Màng, Vật Nuôi, Nuôi Tằm

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202629 phút đọc7 lượt đọc
Chương Chủng Tác, Lục Súc, Tàm Tang: Xem Mùa Màng, Vật Nuôi, Nuôi Tằm

Đời sống nhà nông, từ thửa ruộng, chuồng trâu đến nong tằm, đều có thể đặt vào quẻ Lục Hào để đoán được mất. Chủng Tác xem việc canh tác và thu hoạch mùa màng, rồi bàn về ruộng đất, việc làm chung và hướng của thửa ruộng. Lục Súc chuyển sang chăn nuôi với trâu ngựa, gia cầm, chuyện mua bán, hình dáng và tính nết vật nuôi, kéo theo những câu phú về bệnh tật, trộm cắp và cách chữa trị gia súc. Trong khi đó, Tàm Tang dành cho nghề nuôi tằm ươm tơ, với các luận đoán về giá tơ, mùa vụ và nơi nuôi tằm. Ba nghề tưởng xa nhau nhưng cùng được luận bằng một hệ Lục Hào. Một câu phú nói gọn điềm được mùa: Tài vượng hóa Tử Tôn thì ngũ cốc tràn đầy.


Chủng Tác: mở đầu và câu 1–13

Chủng Tác (trồng trọt) — xem việc canh tác, thu hoạch mùa màng qua quẻ Bốc Dịch.

Mở đầu

農爲國本 - 食乃民天 - 五穀不同孰識異宜而布種 - 一年關係全憑卦象以推詳

Nông vi quốc bản - Thực nãi dân thiên
Ngũ cốc bất đồng thục thức dị nghi nhi bố chủng
Nhất niên quan hệ toàn bằng quái tượng dĩ suy tường

Nông là nền tảng của nước - Ăn là cần thiết cho dân

Ngũ cốc khác nhau ai biết thích nghi lúc nào mà trồng trọt

Liên quan trong năm đều nhờ vào quẻ bói để suy rõ.

1.

旺相妻財豐登可卜

Vượng tướng Thê Tài phong đăng khả bốc

Thê Tài vượng tướng có thể đoán là đầy đủ.

Thê Tài là căn bản của nhà nông, phàm xem trồng trọt cần xem hào Tài hiện hay không, bị thương khắc hay không mới biết hung cát. Nhưng hào này không thể thiếu mà lại không nên động, động thì Quan Quỷ hữu khí, cuối cùng tổn hao. Nếu Tài động mà hóa thành Phúc hào mới tốt.

2.

空亡福德損耗難憑

Không vong Phúc Đức tổn hao nan bằng

Phúc Đức lâm Không hao tổn khó lường.

Tử Tôn là Nguyên thần, mừng nhất là được sinh vượng, phát động tất cát. Nếu gặp Không vong tất Tài không có sinh khí mà Quan Quỷ nắm quyền tất rốt cuộc hao tổn.

3.

父母交重耕耘徒知費力

Phụ Mẫu giao trùng vân tử đô tri phí lực

Phụ Mẫu phát động phí công cày bừa.

Phụ Mẫu là thần vất vả khó nhọc, động tất chủ hao sức mà thu hoạch cũng kém.

4.

兄爻發動年時莫望全收

Huynh hào phát động niên thì mạc vọng toàn thu

Huynh Đệ phát động trong năm việc thu hoạch khó trọn vẹn.

Huynh Đệ thì khắc Tài, sợ nhất là phát động. Nếu được Tử Tôn cũng động thì ngược lại trong năm được mùa. Nếu Tử Tôn an tĩnh mà suy chớ hy vọng thu hoạch trọn vẹn, lại chủ hao công hao vốn.

5.

鬼在旺鄉遇水神而和苗滲腐

Quỷ tại vượng hương ngộ Thủy thần nhi hòa miêu yểm hủ

Quan Quỷ vượng gặp Thủy thần thì lúa mạ hư nát vì úng nước.

Hào Quỷ phát động nếu lâm hào Thủy xung khắc Thế Thân, lúa mạ úng nước mà hư. Nếu Quan hào lại được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phù thì có tai họa về lũ lụt.

6.

官居生地加火煞而稼穡焦枯

Quan cư sinh địa gia Hỏa sát nhi giá sắc tiêu khô

Quan ở vượng địa thêm Hỏa sát mà cày cấy khô hạn.

Quan ở nơi sinh vượng mà lân hào Hỏa tất chủ thiếu Thủy, xung khắc, hình khắc e có họa khô cháy lúa má. Nếu được chế phục thì tuy khô hạn nhưng không đáng lo ngại.

7.

土忌剋身水旱不調之歲

Thổ kỵ khắc Thân thủy hạn bất điều chi tuế

Kỵ Thổ khắc Thân vì mưa nắng trong năm không điều hòa.

Thổ Quỷ phát động tất chủ nắng mưa không điều hòa lại chủ trong làng có họa tai, nếu không lúa không được mùa.

8.

金嫌傷世螟蝗交括之年

Kim hiềm thương Thế mính hoàng giao quát chi niên

Ngại bị Kim khắc Thế, vì sâu làm hại suốt năm.

Kim Quỷ phát động khắc Thế chủ chủ có sâu bọ. Nếu không thương Thân thương Thế, hào Tài vượng mà tĩnh cũng không bị hại.

9.

木則風摧靜須穀秕 - 生扶拱合方許無虞

Mộc tắc phong tồi tĩnh tu cốc bỉ
Sinh phù cùng hợp phương hứa vô ngu

Mộc thì bị gió đổ, tĩnh nên lúa lép xấu

Sinh phù cùng hợp thì mới không lo.

Hào Mộc phát động thương khắc Thế Thân cây trồng tất gặp gió lớn lay ngã. Nếu hóa Thủy hoặc Thủy vượng mà phát động thì tai ách lũ lụt; Mộc Quỷ bất động cũng chủ hư hại. Vốn hào Mộc là chủ của ngũ cốc. Nếu Phúc hào an tĩnh, Tài hào suy tất chủ kết bông mà không có quả. Tài Phúc động Không hóa Không đều tượng lúa hư hại.

10.

二爻坐鬼必難東作于三春 - 五位連官定阻西成于八月

Nhị hào tọa Quỷ tất nan Đông tác vu tam xuân
Ngũ vị liên Quan định trở Tây thành vu bát nguyệt

Quỷ ở hào nhị, tất khó làm vụ xuân ở phía đông

Quan ở hào ngũ đoán bị ngăn trở làm xong vụ mùa tháng tám ở phía tây.

Hào nhị là chủ ở Nội quái, hào ngũ là chủ của Ngoại quái. Nội quái có Quan trồng trọt có nhiều trở ngại, Ngoại quái có Quan lúc thu gặt gặp nhiều trở ngại. Nếu hai hào nhị ngũ bị Nhật thần hình thương, thì xem hào nào bị thương tất sẽ biết việc gì cản trở, như hào Huynh là khẩu thiệt, hào Quan là kiện tụng, bệnh tật.

11.

初旺則種子有餘 - 四空則耕牛未辦

Sơ vượng tắc chủng tử hữu dư
Tứ Không tắc canh ngưu vị biện

Hào sơ vượng thì hạt giống có thừa

Hào Tứ lâm Không thì trâu cày chưa có.

Hào sơ vượng tướng hạt giống có thừa, lâm Không tất thiếu. Hào tứ vượng tướng trâu tất cường tráng, suy lâm Không thì không có trâu. Lâm Không mà động hóa ra Tử Tôn hoặc hóa hào Sửu mà hợp với hào Ứng thì mượn trâu của người khác.

12.

應交生合世天心符合人心

Ứng hào sinh hợp Thế, Thiên tâm phù hợp nhân tâm

Ứng hào sinh hợp với Thế, lòng Trời phù hợp với lòng người.

Phải lấy hào Ứng làm Trời (Thiên), hào Thế làm Đất (Địa). Hào Ứng sinh hợp Thế thì cày cấy được thuận trời, xung khắc Thế thì nói chung mọi công việc không gặp gió thì mưa,

13.

卦象疊財爻多壅爭如少壅

Quái tượng lũy Tài hào đa úng tranh như thiếu úng

Quái tượng gặp nhiều hào Tài, bồi nhiều không bằng bồi ít.

Trong quẻ hào Tài chồng chất quá nhiều không nên bồi đắp nhiều đất bùn. Hào Tài bất Không, Huynh Đệ không động mà gặp Tử Tôn phát động bồi đắp nhiều thì thu hoạch nhiều.

Chủng Tác: câu 14–28

14.

日帶父交一倍工夫一倍熟

Nhật đới Phụ hào nhất bội công phu nhất bội thục

Nhật thần tại hào Phụ, càng ra sức càng thu hoạch nhiều.

Phụ Mẫu nếu lâm Nhật thần hoặc ở Thế tất chủ vất vả cực nhọc, nếu chẳng ra sức tất thu hoạch ít. Tất ra một phần công một phần lợi.

15.

財臨帝旺及時耕種及時收

Tài lâm Đế Vượng cập thì canh tác cập thì thu

Tài có Đế Vượng, canh tác kịp thời thu hoạch kịp thời.

Phàm hào Tài sinh vượng không nên cày cấy quá trễ tất sẽ thu hoạch kém.

16.

要知始終吉凶但看動交變化

Yếu tri chung thủy cát hung đãn khán động hào biến hóa

Muốn biết hung cát trước sau, chỉ xem biến hóa của động hào.

Động hào biến thành Tài Phúc là cát, biến Huynh Đệ là hung, Phụ hào hóa Huynh Quỷ vất vả mà không được mùa, Phụ hóa Tài Phúc vất vả mà thu hoạch tốt. Tài hóa Huynh Tử, hóa Quan thì ban đầu thông suốt mà cuối cùng không có gì. Huynh hóa Tài, Quan hóa Tử trước bị hao tổn mà sau như ý. Nếu Tài vượng hóa Tử Tôn thì ngũ cốc tràn đầy.

17.

欲識栽培可否分詳子位持臨

Dục thức tài bồi khả phủ phân tường Tử vị trì lâm

Muốn biết cần vun bồi hay không phải định rõ vị trí của Tử Tôn.

Phàm bói trồng trọt nên phân hạt giống loại nào thì phải phân ra mà xem. Nếu được Tử Tôn trì lâm Thân Thế, hào Tài không bị hình thương khắc hại thì loại giống trồng thu hoạch được nhiều. Nếu Quan Quỷ trì Thân Thế hoặc Phụ động hoặc hào Tài động biến Huynh Quỷ chủ loại giống này không thu hoạch được.

18.

世值三刑農須帶疾

Thế trị tam Hình nông tu đới tật

Thế gặp tam Hình, làm nông phải bệnh.

Thế là người làm ruộng, nếu bị Nhật thần, động hào hình xung khắc hại, hết sức bất lợi. Nếu mang Bạch Hổ, tam Hình nông phu tất nhiên mang bệnh. Thế trì hào Quan cũng vậy. Nếu có Chu Tước e bị thị phi. Trì Huynh Đệ thì thiếu công làm hoặc trồng trọt thiếu kỹ thuật. Trì Tài Phúc hoặc được Tài sinh Phúc hợp đều rất tốt.

19.

父逢兩鬼地必同耕

Phụ phùng lưỡng Quỷ, địa tất đồng canh

Phụ gặp lưỡng Quỷ, đất tất cùng canh tác.

Phàm trong quẻ có hai hào Quỷ xuất hiện, hoặc Quỷ lâm Ứng động tác hợp, hoặc Nhật thần là Quỷ hợp Thế hoặc được Huynh Đệ hợp tính tất lo liệu hợp tác với người khác.

20.

父在外交水輔地雖高而潮溼 - 父居內卦日生田固小而膏腴

Phụ tại ngoại hào Thủy phụ địa tuy cao nhi triều thấp
Phụ cư nội quái Nhật sinh điền cố tiểu nhi cao du

Phụ ở hào thuộc Ngoại quái, Thủy trợ thì đất tuy cao cũng đầy nước

Phụ ở Nội quái, Nhật thần sinh ruộng vốn nhỏ mà màu mỡ.

Phụ Mẫu là ruộng, ở Ngoại quái thì ruộng cao, ở Nội quái thì ruộng thấp, sinh vượng thì phì nhiêu, Tuyệt thì khô cằn, lâm Mộc thì hình dài, lâm Thổ thì hình ngắn, Hỏa thì đất khô hạn, Thủy thì úng nước, lâm Kim thì đất cát trắng. Nhật thần xung khắc thì người chẳng đoái hoài, sinh hợp thì ruộng tốt.

21.

父化父一坵兩段

Phụ hóa Phụ nhất khâu lưỡng đoạn

Phụ hóa Phụ một khu đất mà chia hai phần.

Quẻ có hai hào Phụ hoặc hóa ra Phụ mà có hai hào, hoặc Quái Thân xuất hiện chồng chất tất có hai nơi canh tác.

22.

沖倂沖七坎八坑

Xung tính xung thất khảm bát khanh

Xung tính xung lồi lên lõm xuống.

Nhật thần, động hào xung khắc Phụ Mẫu thì ruộng không bằng phẳng hoặc lồi mõm, hoặc lục súc gây hại hoặc bị người đi giẫm đạp.

23.

陽象陽爻此地必然官斗則

Dương tượng dương hào thử địa tất nhiên quan đấu tắc

Tượng dương, hào dương tất là ruộng quan cho đấu.

Phụ Mẫu ở cung dương, dương hào là ruộng quan cho đấu.

24.

或空或動其田還恐屬他人

Hoặc Không hoặc động kỳ điền hoàn khủng thuộc tha nhân

Hoặc Không hoặc động, ruộng e thuộc về người khác.

Phụ Mẫu Không vong thì việc trồng trọt chẳng thành, nếu chẳng thì chẳng phải ruộng của mình. Lâm Thế phát động thì ruộng đất có biến đổi, hóa nhập Không vong hoặc lâm Không hợp hào Ứng thì bán cho người khác. Thế lâm Câu Trần động cũng chủ ruộng có canh cải.

25.

坐落胎養開闢未久

Tọa lạc Thai Dưỡng khai tịch vị cửu

Ở tại Thai, Dưỡng mở mang chưa lâu.

Thai Dưỡng tất đề cập đến suy nhược. Như Phụ Mẫu nếu an tĩnh mà ở hào suy nhược, được động xung là ruộng mới khai thác, Hào Phụ suy nhược mà động cũng thế, hoặc là ruộng mới. Nếu Phụ trì Thái Tuế, Nguyệt Kiến là sản nghiệp tổ tiên để lại. Không có hào Phụ Mẫu mà do Thế động hóa ra là do ta nối tiếp để làm, Tài biến hóa ra là ruộng hồi môn của vợ, Huynh Đệ hóa ra là ruộng chung hợp lại, Quan Quỷ hóa ra là ruộng của nhà quan, nếu không thì là ruộng của quan cho đấu, Ứng hào hóa ra là ruộng của người khác.

26.

變成福德溝洫分明

Biến thành Phúc Đức câu hức phân minh

Biến thành Phúc Đức, lạch ngòi rõ rệt.

Phụ Mẫu hóa thành Phúc Tài đương nhiên ngòi lạch rõ ràng, đất ở đây là ruộng tốt nên giá cao, hóa Huynh Đệ thì không được giá, hoặc chưa phân chia hoặc hợp với ruộng của nhà người khác, nếu liên hệ đến Quái thân tất thì trồng chung với người khác, hóa Quan hào thì ruộng này không tốt.

27.

若是坎宮必近江湖之側

Nhược thị Khảm cung tất cận giang hồ chi trắc

Nếu là cung Khảm thì ở bên sông hồ.

Phụ Mẫu ở cung Càn ruộng tất cao, ở Nội quái thì ruộng chẳng thấp; Phụ tại cung Khảm ruộng tất gần sông hồ. Phụ tại cung Li, gần ruộng bị hạn; Phụ tại cung Chấn Tốn cạnh ruộng có cây cối; Phụ tại cung Khôn ruộng ở ngoài thành, trung tâm của ruộng; Phụ tại cung Đoài thì bên ruộng có quan câu (tức cống của nhà nước đào) hoặc gần ao hồ.

28.

若伏兄弟乃租鄉鄰之田

Nhược phục Huynh Đệ nãi tô hương lân chi điền

Nếu phục tại Huynh Đệ là ruộng thuê của láng giềng.

Đây là nói đến thuê trồng trọt. Nếu hòa Phụ xuất hiện thì xem hào này tất biết là ruộng của ai. Quẻ không có hào Phụ phải phục tại hào nào. Nếu phục tại Huynh thì là ruộng của hàng xóm. Nếu không có Phụ hào mà do động hào biến thành, thì là ruộng của người biến thành đó. Như do Tài hào biến thành thì là ruộng của phụ nữ. Ngoài ra cứ phỏng theo như thế.

Lục Súc: câu 1–15

Lục Súc (gia súc) — xem việc nuôi trâu ngựa, gia cầm, mua bán, hình dáng qua quẻ Bốc Dịch.

1.

道形萬物理總歸於一心 - 易盡三才占豈遺乎六畜 - 惟能精以察之 - 自得明而著矣

Đạo hình vạn vật lý tổng qui ư nhất tâm
Dịch tận tam tài chiêm khởi di hồ lục súc
Duy năng tinh dĩ sát chi
Tự đắc minh nhi thi hĩ

Đạo trải khắp vạn vật mà lẽ đều một mối

Dịch suốt tận tam tài (chỉ Thiên, Địa và Nhân) há bỏ sót lục súc sao

Chỉ có điều phải xem xét thật tinh vi

Biết được rõ chi có nhờ có thi (dùng cỏ thi để bói, tức ám chỉ bói Dịch vậy) vậy.

Phàm bói về lục súc không thể lấy bản mệnh để luận, phải xét từng loại con vật để bói, dùng Tử Tôn làm Dụng Thần, dùng hào Tài làm giá cả để mà đoán.

2.

命在福神若遇興隆須長養

Mệnh tại Phúc thần nhược ngộ hưng long tu trường dưỡng

Mệnh ở Phúc Đức, nếu được động vượng nên nuôi lâu dài.

Mệnh của lục súc, gia cầm đều dùng hào Tử Tôn. Nếu vượng tướng hữu khí, chẳng Không tất nhiên nuôi lâu dễ lớn, hưu tù Mộ Tuyệt thì chắc chắn không được. Nếu không xuất hiện ở quẻ hoặc lâm Không đều không thể nuôi.

3.

利歸財位如逢囚死定輕微

Lợi qui Tài vị, như phùng tù Tử định khinh vi

Lợi do ở hào Tài, nếu hưu tù Tử Tuyệt chắc chắn là ít.

Nói chung xem lục súc, chỉ có trâu ngựa là xem sức lực mà giống khác thì xem lợi hay không. Nhưng sức và lợi đều dùng hào Tài. Nếu hưu tù Mộ Tuyệt thì tài lợi kém, sức lực chẳng nhiều, vượng tướng mới đại cát.

4.

二者不可相無 - 一般皆宜出現

Nhị giả bất khả tương vô
Nhất bàn giai nghi xuất hiện

Hai hào này không thể không có

Nói chung cần phải xuất hiện.

Không có Phúc hào thì khó nuôi, không có Tài hào thì lợi kém. Tài Phúc xuất hiện, không lâm Không thích hợp cho nuôi lục súc.

5.

財旺福衰雖瘦弱而善走 - 財空福動總遲純而可觀

Tài vượng Phúc suy tuy sấu nhược nhi thiện tẩu
Tài Không Phúc động tổng trì thuần nhi khả quan

Tài vượng, Phúc suy tuy ốm yếu nhưng giỏi chạy

Tài Không, Phúc động thuần thục chậm nhưng tốt đẹp.

Phàm xem các loại trâu ngựa, hào Tử Tôn vượng tướng chủ mập mạp, hưu tù chủ gầy yếu, động thì mạnh mẽ. Tài hào vượng tướng thì chủ có sức, lại chủ chạy giỏi về sau cũng có sức.

6.

財若空亡雖利暫時無遠力

Tài nhược Không vong tuy lợi tạm thời vô viễn lực

Tài nếu lâm Không tuy tạm thời có lợi nhưng không lâu dài.

Tài hào phát động nhưng không nên hóa Không, lâm Không tất không thể lâu dài.

7.

福臨刑害若非齙鼻定凋疤

Phúc lâm Hình hại nhược phi diệp tị định điêu ba

Phúc bị Hình hại nếu không răng sún, mũi cũng bị sẹo.

Hào Tử Tôn bị Hình chủ súc vật bị khuyết tật. (Chữ Hán hiếm dùng trong nguyên bản có âm "điệp", nghĩa là "sún răng".)

8.

相合相生必主調良且善 - 相冲相剋定然頑劣不馴

Tương hợp tương sinh tất chủ điều lương thả thiện
Tương xung tương khắc định nhiên ngoan liệt bất tuần

Tương hợp tương sinh tất chủ tính hiền lại dễ bảo

Tương xung tương khắc chắc chắn ngu và khó huấn luyện.

Tử Tôn sinh hợp Thế hào lúc súc dễ dạy rất tốt cho ta mà có ích. Nếu Hình xung khắc hại tất chủ tính dữ mà khó nuôi.

9.

要知蹄足身形須看臨持八卦 - 欲別青黃白黑須參生剋六神

Yếu tri đề túc thân hình tu khán lâm trì Bát quái
Dục biệt thanh hoàng bạch hắc tu tham sinh khắc Lục thần

Muốn biết chân móng thân hình, cần xem lâm trì ở Bát quái

Muốn phân xanh vàng trắng đen nên xét sinh khắc của Lục thần.

Càn là đầu, Khảm là tai, Chấn là chân trước, Cấn là chân sau, Tốn là lưng, Li là mắt, Khôn là bụng, Đoài là miệng. Thanh Long có màu xanh, Bạch Hổ màu trắng, Chu Tước màu đỏ, Huyền Vũ màu đen, Câu Trần, Đằng Xà màu vàng. Phàm xem thì lấy nơi Tử Tôn trì lâm làm bản thân, màu sắc thì lấy hào động đến sinh khắc mà đoán chỗ khác nhau. Như Tử Tôn lâm Huyền Vũ tại cung Cấn bị cung Khôn động khắc là thân đen chân vàng. Nếu bị cung Cấn, Bạch Hổ động khắc có thể đoán thân vàng chân trắng. Ngoài ra phòng theo như thế. Phàm khắc nhiều hơn sinh, suy ít vượng nhiều thì linh động mà đoán.

10.

陰陽有牝雄牝牡之分

Âm dương hữu thư hùng tẫn mẫu chi phân

Âm dương phân được trống mái đực cái.

Giống cầm phân trống mái, giống thú phân đực cái. Xem Tử Tôn thuộc hào âm hay dương. Như xem trâu mà được Tử Tôn hào dương thì là trâu đực, xem ngựa là ngựa đực chẳng hạn.

11.

胎養爲駒犢羔雛之類

Thai Dưỡng vi câu, độc, cao, sồ chi loại

Thai Dưỡng là các loại ngựa con, nghé con, dê con, gà con.

Ngựa con là Câu, trâu con là Nghé, dê con là Cao, gà con là Sồ. Phàm gặp Tử Tôn mang Thai, Dưỡng lâm hào Thế tất là những giống trên.

12.

身坐子胎必是受胎之六畜

Thân tọa Tử Thai tất thị thụ thai chi lục súc

Tử Thai ở Thân là Lục súc mang thai.

Nếu hào Thai của Tử Tôn lâm ở hào Thân là súc vật mang thai, hóa thành hào Thai cũng thế.

13.

福臨鬼墓須知有病於一身

Phúc lâm Quỷ Mộ tu tri hữu bệnh ư nhất thân

Phúc tại Quỷ Mộ nên biết thân mang bệnh.

Phúc lâm Quỷ Mộ thì súc vật có bệnh. Quỷ xung cũng chủ có bệnh.

14.

父動有傷子絕則徒爲勞碌

Phụ động hữu thương, Tử Tuyệt tắc đồ vi lao lục

Phụ động tất bị hại, Tử gặp Tuyệt thì vất vả vô ích.

Phụ Mẫu phát động tất thương khắc Tử Tôn, lục súc hao tổn. Tử Tôn lại gặp Tuyệt vô khí, tất chủ chết chóc, chăn nuôi cũng vất vả vô ích.

15.

兄興不長福興則反有生扶

Huynh hưng bất trưởng, Phúc hưng tắc phản hữu sinh phù

Huynh động thì không lớn, Phúc động thì ngược lại có sinh phò.

Huynh Đệ phát động lục súc không phát triển, nếu Tử Tôn cũng động thì Tài hào tất được sinh phò chủ lục súc dễ nuôi mà lợi nhiều.

Lục Súc: câu 16–30

16.

世若空亡到底終須失望

Thế nhược Không vong đáo để chung tu thất vọng

Thế nếu lâm Không cuối cùng rồi thất vọng.

Thế hào lâm Không tất chẳng vừa lòng. Việc nuôi Lục súc cũng chỉ có đầu mà không đuôi.

17.

逢金生旺當虞噬人 - 值土交重須憂病染

Phùng Kim sinh vượng đương lự giảo nhân
Trị Thổ giao trùng tu ưu bệnh nhiễm

Gặp Kim sinh vượng phải lo cắn người

Được Thổ phát động lo bị dịch bệnh.

Kim Quỷ phát động bệnh về móng về đường ruột, nếu khắc hào Thế thì khó chạm vào mình chúng, Thế hào lại gặp Tuyệt tất làm tổn thương người. Mộc Quỷ chủ bị bệnh kết thảo; Thủy Quỷ chủ bệnh về hàn; Hỏa Quỷ phát động tất chủ bệnh về nhiệt; Thổ Quỷ phát động nên phòng ôn dịch.

18.

官加蛇雀必因成訟成驚

Quan gia Xà Tước tất nhân thành tụng thành kinh

Hào Quan có Xà, Tước thì thành kiện, thành đáng sợ.

Nhật có Đằng Xà phát động thì con vật này ngày sau có quái dị đáng sợ. Nếu lâm Chu Tước thì khẩu thiệt tranh tụng, lâm Huyền Vũ phòng bị trộm cướp, lâm Bạch Hổ phòng té ngã.

19.

子變兄財可驗食粗食細

Tử biến Huynh Tài khả nghiệm thực thô thực tế

Tử biến Huynh Tài có thể nghiệm là ăn ít ỏi hoặc tạp ăn.

Tử Tôn hóa ra Huynh Đệ chủ miệng nhỏ ít ăn, hóa Tài hào chủ miệng rộng tạp ăn.

20.

財連兄弟乃芻養之失時

Tài liên Huynh Đệ nãi sô dưỡng chi thất thời

Tài cùng Huynh Đệ là thất thời về cỏ nuôi ăn.

Tử hóa Huynh là miệng nhỏ không ăn mấy; Tài hóa Huynh thì người nuôi gia súc cho ăn không đúng giờ khiến đói chứ không phải là không ăn.

21.

子化父交必勞心之太過

Tử hóa Phụ hào tất lao tâm chi thái quá

Tử hóa Phụ thì lao tâm quá mức.

Tử Tôn phát động thì giống nuôi tốt, nếu hóa Phụ Mẫu hồi đầu khắc thì người không thương tiếc vật dùng nó qua mức khiến tổn thương.

22.

福連官鬼須防竊取之人 - 鬼化子孫恐是盜來之畜

Phúc liên Quan Quỷ tu phòng thiết thủ chi nhân
Quỷ hóa Tử Tôn khủng thị đạo lai chi súc

Phúc và Quỷ có tương quan nên phòng người lấy trộm

Quỷ hóa Tử e ăn trộm gia súc.

Tử Tôn hóa Quỷ tất về sau bị người ăn trộm súc vật, nếu không vật bị bệnh chết. Nếu Quan hóa Tử sợ người đến trộm. Sinh hợp Thế hào tất có lợi, xung khắc Thế hào thì có hại.

23.

官兄交變難逃口舌之相侵

Quan Huynh giao biến nan đào khẩu thiệt chi tương xâm

Quan và Huynh biến đổi lẫn nhau khó tránh bị khẩu thiệt.

Trong quẻ Quỷ biến Huynh, hoặc Quan Huynh đều động tất vì con vật nuôi mà phát sinh khẩu thiệt.

24.

日月並刑豈免死亡於不測

Nhật Nguyệt tịnh Hình khởi miễn tử vong ư bất trắc

Nhật Nguyệt đều Hình há tránh được chết chóc bất ngờ.

Nhật thần, Nguyệt kiến, động hào đều hình khắc Tử Tôn, khó tránh được súc vật bị chết.

25.

若占置買亦宜福動生身

Nhược chiêm trí mãi diệc nghi Phúc động sinh Thân

Nếu xem về mua vật cũng nên Phúc động sinh Thân.

Phàm xem mua lục súc mà Tử Tôn phát động tất có nhiều, cần sinh hợp Thế hào thì mua dễ thành. Nếu xung khắc với Thế thì khó mua.

26.

倘問利時最怕財興化絕

Thảng vấn lợi thì tối phạ Tài hưng hóa Tuyệt

Nếu hỏi về lợi thì rất sợ Tài động hóa Tuyệt.

Hào Tài xuất hiện bất Không, hữu khí, trì Thế, sinh hợp Thế, không bị thương khắc, không biến thành Huynh Quỷ tất có lợi. Nếu Tài hóa khắc, hóa Tuyệt thì bất lợi.

27.

或賭或鬥皆宜世旺財興

Hoặc đổ hoặc đấu nghi Thế vượng Tài hưng

Hoặc đánh cá hoặc cho đấu đá đều nên Thế vượng, Tài động.

Người phương bắc thích đá chim thuần, đá gà, dê. Người phương nam thích chọi dế. Phàm xem về việc này cần hào Thế hữu khí, khắc Ứng, Tử Tôn phát động tức ta thắng. Ứng bị Nhật thần, Nguyệt kiến, động hào hình khắc ta cũng thắng. Nếu Thế bị Ứng khắc, Tử Tôn lâm Không, phục mà Quan Quỷ phát động, Nhật Nguyệt, động hào ngược lại khắc Thế thì người thắng.

28.

或獵或漁總怕應空福絕

Hoặc lạp hoặc ngư tổng phạ Ứng Không Phúc Tuyệt

Nếu săn hoặc bắt nói chung sợ Ứng lâm Không, Phúc gặp Tuyệt.

Phàm xem săn bắt cần Ứng sinh Thế, Phúc thần vượng tướng sinh hợp Thế Thân là tốt, nếu Không Tuyệt thì khó vừa ý.

29.

乳抱者宜胎福生旺而無傷

Nhũ bão giả nghi Thai Phúc sinh vượng nhi vô thương

Nuôi súc vật sinh con cần Thai Phúc sinh vượng không bị thương khắc.

Phàm xem nuôi heo nái, dê mẹ cần hai hào Thai, Phúc sinh vượng không bị hình khắc tất không bị tổn hại.

30.

醫治者要父官衰絕而有制

Y trị giả yếu Phụ Quan suy Tuyệt nhi hữu chế

Về chữa bệnh cần Phụ Quan suy Tuyệt mà bị chế.

Lục súc bị bệnh xem chữa trị cần Tử Tôn vượng tướng, hữu khí không gặp hình khắc mà Phụ Mẫu, Quan Quỷ hưu tù, Mộ Tuyệt hoặc tuy động nhưng bị chế thì không có hại.

Tàm Tang: mở đầu và câu 1–10

Tàm Tang (dâu tằm) — bàn về việc nuôi tằm ươm tơ qua quẻ Bốc Dịch.

Mở đầu

既言種植合論蠶桑

Ký ngôn chủng thực, hợp luận tàm tang

Đã nói đến trồng trọt - Phải hợp luận dâu tằm.

1.

採飼辛苦只爲絲綿而養育 - 吉凶懸惑因憑卜筮於蓍龜

Thái tự tân khổ chỉ vi ti miên nhi dưỡng dục
Cát hung huyễn hoặc nhân bằng bốc phệ ư thi qui

Vất vả hái nuôi chi vì tơ lụa mà nuôi nấng

Nghi ngờ hung cát phải nhờ bốc phệ với thi qui (Bốc là bói bằng qui — rùa, Phệ là bói bằng cỏ thi).

Mọi phái đều lấy hào Thủy làm Kỵ thần, hào Hỏa làm Dụng thần. Ai đâu biết coi về tằm lấy Tử Tôn làm tằm, coi về tơ lấy Thê Tài làm tơ, coi về lá dâu lấy Thê Tài làm giá tiền lá, đâu có kỵ, có mừng về Thủy Hỏa. Nếu hào Tài lâm Ứng hợp, hợp Ứng, hào Tài hợp với động hào đều là phụ nữ nuôi tằm mà không phải là tơ là giá lá dâu. Vì thế cần phải linh động.

2.

初論子孫得地則蠶苗必利

Sơ luận Tử Tôn đắc địa tắc tàm miêu tất lợi

Luận bước đầu là Tử Tôn đắc địa thì tằm và dâu tất lợi.

Phàm xem tằm thì lấy Tử Tôn làm Dụng thần. Nếu Tử Tôn vượng tướng đắc địa không bị hình xung khắc hai tất tằm giống thịnh lợi.

3.

次憑財位當權則絲繭多收

Thứ bằng Tài vị đương quyền tắc ti kiễn đa thu

Tiếp đến được Tài hào nắm quyền thì thu hoạch nhiều tơ kén.

Phàm xem về tơ và kén chỉ có hào Tài làm Dụng thần. Nếu Tài hào vượng tướng được sinh hợp không xung khắc tự nhiên thu hoạch nhiều tơ kén.

4.

福德要興更喜日辰扶助

Phúc Đức yếu hưng cánh hỉ Nhật thần phù trợ

Phúc Đức cần động lại mừng được Nhật thần phò giúp.

Tử Tôn là con tằm, vượng tướng phát động thì tằm hưng vượng. Nếu suy nhược lại được Nhật thần, động hào sinh phò cùng hợp tất tượng đại cát. Chỉ sợ Phụ Mẫu và Nhật thần thương khắc tằm tất hao tổn.

5.

妻財怕絕尤嫌動象刑冲

Thê Tài phạ Tuyệt, vưu hiềm động tượng hình xung

Thê Tài sợ Tuyệt, càng ngại bị động hào hình xung.

Phàm xem tơ lụa nếu hào Tài hưu tù Tử Tuyệt hoặc Nhật thần, động hào hình xung khắc hại, tất không có tằm tốt. Nếu được sinh vượng hữu khí, không bị thương khắc tất đại cát.

6.

兄弟臨身葉費而絲還微薄

Huynh Đệ lâm Thân diệp phí nhi ti hoàn vi bạc

Huynh Đệ ở Thân, hao tốn về lá dâu mà tơ thì ít.

Quái Thân nếu lâm Huynh Đệ tất chủ hao tốn nhiều về lá dâu, khắc thương Thế tất thiếu thức ăn cho tằm nên tơ kén thu hoạch ít.

7.

父母持世心勞而蠶必難爲

Phụ Mẫu trì Thế tâm lao nhi tàm tất nan vi

Phụ Mẫu trì Thế, vất vả mà khó nuôi tằm.

Phụ Mẫu là Kỵ thần của Tử Tôn, nếu lâm Thân Thế tuy an tĩnh tất hao phí cũng gấp bội lại thêm vất vả, sau mới có hy vọng. Cho nên mới bảo khó nuôi. Nhật Nguyệt không nên là Phụ hào.

8.

五行如遇官交必遭傷損

Ngũ hành như ngộ Quan hào tất tao thương tổn

Ngũ hành ở hào Quan tất sinh ra hao tổn.

Hào Quan phát động thuộc Kim chủ có sương đến nỗi tằm chết cứng; thuộc Mộc chủ cửa song không cẩn thận khiến tằm bị gió lạnh; thuộc Thủy tằm ăn nhằm lá dâu úng nước khiến sinh bị tả; thuộc Hỏa khắc Thế nên phòng hỏa tai, nếu không chỗ nuôi quá nóng không thông gió; thuộc Thổ thì cho ăn không đều, tằm thức ngủ thất thường hoặc chậm trễ phân nong đến nỗi phát nóng khiến tổn thương tằm.

9.

一卦皆無鬼煞方始亨佳

Nhất quái giai vô Quỷ sát phương thủy hanh giai

Một quẻ không Quỷ sát mới được tốt đẹp.

Phàm xem quẻ nuôi tằm không có hào Quan, hoặc Quan không động tất không biến đổi, mới bảo rằng tốt đẹp.

10.

日主冲身切忌穢人入室

Nhật chủ xung Thân thiết kỵ uế nhân nhập thất

Nhật thần xung Thân, kỵ nhất là ô uế mà vào nơi nuôi.

Gặp Nhật thần tương xung Thân Thế, hoặc Ứng hào động khắc nên phòng người ô uế đem tà nhập vào nhà khiến tằm hư hại.

Tàm Tang: câu 11–20

11.

妻財合應必然汙婦臨蠶

Thê Tài hợp Ứng tất nhiên ô phụ lâm tàm

Thê Tài hợp Ứng tất có phụ nữ ô uế vào nơi nuôi.

Tài hào là phụ nữ nuôi tằm, lâm Thái Tuế là người quen, hóa Tử Tôn là người khéo léo, hóa Phụ Mẫu thì khó nuôi tằm, hóa Quan có bệnh tật, hóa Huynh Đệ, Mộ Tuyệt, gái nuôi tằm có nạn lớn. Thai ở Tử Tôn hoặc Tài hóa Tử Tôn có Thai thì đàn bà nuôi tằm có chửa. Nếu hào Quỷ động hợp với Ứng thì đàn bà nuôi tằm tư tình với người ngoài, bị xung khắc thì việc này đã bại lộ.

12.

蠶子受暗冲每遇分槌須仔細

Tàm tử thụ ám xung, mỗi ngộ phân đài tu tử tế

Con tằm chịu ám xung thì khi khiêng phân nên kỹ càng.

Tử Tôn hào là con tằm, xuất hiện không động mà bị Nhật thần, động hào ám xung chủ lúc khiêng nong phân chia không cẩn thận khiến tổn thương tằm.

13.

財爻無傷剋凡占葉價必騰增

Tài hào vô thương khắc, phàm chiêm diệp giá tất đằng tăng

Tài hào không bị thương khắc, xem về giá lá dâu tất tăng vọt.

Nếu xem giá lá tằm cao thấp chỉ dùng hào Tài, gặp được động hào, Nhật thần tương sinh tất giá đắt, Tài suy vô khí, hoặc hóa Mộ, nhập Mộ Tuyệt đều chủ giá thấp.

14.

兄弟入空亡絲翻白雪

Huynh Đệ nhập Không vong ti phiên bạch tuyết

Huynh Đệ lâm Không tơ trắng như tuyết.

Như Huynh Đệ gặp Tử Tuyệt, Không vong, phục bất động đều có hy vọng thu lợi. Nếu chỉ xem về tơ tất tốt, xem về giá lá thì mắc, xem về tằm thì không vượng.

15.

福身臨巳午繭積黃金

Phúc Thân lâm Tị Ngọ kiễn tích hoàng kim

Phúc ở Tị Ngọ kén quí như vàng.

Nuôi tằm mùa xuân thì sau Thanh Minh thu hoạch tằm giống, sau Lập Hạ thu hoạch tơ kén. Lúc đó cuối xuân đầu hè rất cần Tử Tôn ở hai hào Tị Ngọ, Tị Ngọ là nói vượng tướng vậy. Nếu Tử Tôn động hợp tam cục với Tài là đại cát.

16.

父動化財不枉許多辛苦

Phụ động hóa Tài bất uổng hứa đa tân khổ

Phụ động hóa Tài chẳng uổng công lao bỏ ra.

Phụ động khắc Tử, đấy không phải là điềm tốt, nhưng nếu hóa Tài hồi đầu khắc chế nên không thể thương khắc Tử, cho nên mới bảo là không phí công lao đã bỏ ra.

17.

官興變福亦遭幾度虛驚

Quan hưng biến Phúc diệc tao kỷ độ hư kinh

Quan động hóa Phúc trải qua lắm độ hãi kinh.

Quan Quỷ phát động, nuôi tằm tất có tổn hao, nếu hóa Tử hồi đầu khắc chế nên vô sự, nhưng cũng kinh hãi. Nếu nuôi ra hóa tằm để thu lấy tằm giống cũng tốt.

18.

卦出乾宮若養夏蠶偏吉利

Quái xuất Càn cung nhược dưỡng hạ tàm thiên cát lợi

Ra được quẻ Càn, nếu nuôi hạ tằm thì lợi ích.

Tằm có xuân tằm, hạ tằm. Xuân tằm tục gọi là Đầu tằm. Sau tiết Thanh Minh thu hoạch tằm giống, sau tiết Lập Hạ thu hoạch tơ kén. Hạ tằm tục gọi là Nhị tằm, sau tiết Mang Chủng thu hoạch tằm giống, sau tiết Hạ Chí thu hoạch kén tơ. Lúc này Hạ hỏa trời nóng, nếu được hào Tử Tôn thuộc Thủy thì lại tốt. Vì hai cung Càn Đoài có Tử Tôn thuộc Thủy, cho nên bảo nuôi hạ tằm có lợi ích.

19.

母居刑地如言蠶室定崩摧

Mẫu cư Hình địa như ngôn tàm thất băng tồi

Phụ Mẫu có Hình thì bảo là chỗ nuôi tằm sập đổ.

Phòng nuôi tằm lấy Phụ Mẫu mà luận, sinh vượng hữu khí thì sửa sang chỉnh tề, Tử Tuyệt, Hình hại đổ nát, ở hào Thủy mà tự Hình thì phòng dột nát. Phụ hóa Thủy, Thủy hóa Phụ đều đoán như vậy.

20.

蠶繭獻功三合會財局而旺相 - 卦宮定位六交隨動靜已推詳

Tàm kiễn hiến công tam hợp hội Tài cục nhi vượng tướng
Quái cung định vị lục hào tùy động tĩnh dĩ suy tường

Ra công về kén tằm vì được tam hợp Tài cục vượng tướng

Định vị trí động tĩnh của quẻ trong cung mà suy rõ.

Quẻ có Tam hợp, sợ nhất hợp thành Phụ cục, Quan cục hết sức bất lợi. Vì hào hợp thành cục bất kể thuộc mùa nào đều luận vượng tướng, Như hợp thành Phụ cục tắc thương hại Tử Tôn, nếu hợp thành Quan cục tất thương khắc Huynh Đệ là Nguyên thần của Tử Tôn. Cho nên xem tằm được hai tam hợp cục của Tài và Phúc thì đoán hoàn toàn tốt.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông