Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng dụng

Bài tổng quan

Chín sao, tám cửa và chín hội ách nước hạn

Bói Dịch - Ứng dụng03/10/202611 phút đọc4 lượt đọc
Chín sao, tám cửa và chín hội ách nước hạn

Trên bàn Thái Ất có chín sao, chín cung, chín vị thần quý và tám cánh cửa, thay nhau trực việc theo từng năm, tháng, ngày, giờ. Cửa nào mở thì quân thắng, cửa nào đóng thì tướng chết. Còn đứng sau tất cả là một chu kỳ bốn nghìn năm trăm sáu mươi năm…


Trên bàn Thái Ất, ngoài những ngôi sao chạy quanh Ất Cả còn có những dãy chín: chín sao mang tên Trực Phù, chín cung của Văn Xương, chín vị thần quý, cùng tám cửa dùng binh. Chúng lần lượt trực việc theo năm, tháng, ngày, giờ. Bên trên tất cả ấy là một chu kỳ lớn bốn nghìn năm trăm sáu mươi năm, chia thành chín hội ách khi nước và hạn thay nhau giáng xuống.

Chín sao Trực Phù và sáu giáp

Chín sao Trực Phù gồm Thiên Bồng, Thiên Nhuế, Thiên Xung, Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm, Thiên Trụ, Thiên Nhậm, Thiên Ương. Mỗi sao đi cùng một can Giáp ẩn, gọi là lục Giáp. Thiên Bồng đi với lục Mậu, Thiên Nhuế với lục Kỷ, Thiên Xung với lục Canh, Thiên Phụ với lục Tân, Thiên Cầm với lục Nhâm, Thiên Tâm với lục Quý, Thiên Trụ với lục Đinh, Thiên Nhậm với lục Bính, Thiên Ương với lục Ất. Chín sao đứng vào chín cung, mỗi sao mang mười số. Người xưa lấy sáu Giáp làm đầu, coi chín sao là phù sứ của cung sao, rồi gia lên can năm.

Để xác định sao nào đang là Trực Phù, tích năm từ thượng cổ Giáp Tý đến năm cần xét được bao nhiêu thì trừ vòng lớn chín trăm, rồi trừ vòng nhỏ chín mươi, phần dư dùng để biết tuần Giáp nào. Thí dụ năm Canh Thìn, hiệu Sùng Trinh thứ mười ba, tức 1640 theo lịch Tây, thuộc tuần Giáp Tuất. Dùng cách ấy, người xưa xếp chín sao vào các cung: Thiên Cầm ở cung ba, Thiên Tâm ở cung bốn, Thiên Ương ở cung bảy, Thiên Trụ ở cung năm, Thiên Nhuế ở cung chín, Thiên Nhậm ở cung sáu, Thiên Xung ở cung một, Thiên Bồng ở cung tám, Thiên Phụ ở cung hai.

Còn Trực Sự, tức sao đang trực việc của ngày, phải xem can của ngày. Thí dụ ngày mười tám tháng năm năm Canh Thìn, là ngày Mậu Tuất, thuộc nguyên hai, cục hai mươi ba. Sau khi trừ theo vòng chín mươi còn dư năm, đếm từ Giáp Ngọ thì lục Mậu là Thiên Bồng đứng làm Trực Sự, đặt lên can ngày, tức lục Mậu cung một. Ngày Mậu Tuất thuộc tuần Giáp Ngọ nên có kết quả ấy. Với tháng thì cũng làm như vậy nhưng lấy tích nhân mười hai, rồi gia thêm hai thẻ Thiên Chính, Địa Chính. Thí dụ tháng năm của năm Canh Thìn thì được sao Thiên Nhuế làm Trực Sự.

Chín cung của Văn Xương

Mỗi sao Trực Phù đứng ở một cung, và mỗi cung ấy lại có một vị thần coi giữ, thay nhau đổi chỗ mỗi ba mươi năm.

Chín cung của Văn Xương, còn gọi là Bài Văn chín sao, ứng với chín sao Trực Phù theo thứ tự: cung một Thiên Bồng, lục Mậu Giáp; cung hai Thiên Nhuế, lục Kỷ; cung ba Thiên Xung, lục Canh; cung bốn Thiên Phụ, lục Tân; cung năm Thiên Cầm, lục Nhâm; cung sáu Thiên Tâm, lục Quý; cung bảy Thiên Trụ, lục Đinh; cung tám Thiên Nhậm, lục Bính; cung chín Thiên Ương, lục Ất. Chín vị thần coi giữ chín cung ấy là Bài Văn, Huyền Phượng, Minh Duy, Âm Đức, Chiêu Dao, Thừa Minh, Huyền Vũ, Huyền Minh, Hùng Minh hay Cưu Minh.

Muốn biết Văn Xương đang ở đâu, lấy Giáp Tý nguyên trên tích đến năm cần xét, trừ vòng hai trăm bảy mươi, phần dư chia theo cung xuất ba mươi để vào cung. Khởi từ cung một Văn Xương, chuyển xuôi chín cung. Mỗi ba mươi năm một cung. Cung nào ngoài toán thì đó là cung Trực Sự.

Gia can năm cầu việc lên cung ấy rồi xem phận dã để biết lành dữ. Nếu rơi vào dưới Giáp, Ất thì phận dã đó có tai nạn gió sấm, tật bệnh, càng nặng theo năm tháng. Dưới Bính, Đinh thì tai nạn hạn hán. Dưới Mậu, Kỷ thì có việc thổ công, sâu lúa, chết chóc. Dưới Canh, Tân thì binh qua, trộm cướp, chết chóc. Dưới Nhâm, Quý thì mưa dầm, nước lớn, nơi hậu phi không yên. Nếu cung ấy lại hội với cung Ất Cả thì tai nạn càng nặng sâu. Gặp phương cách, bách, kích, hiệp thì tai nạn có giảm bớt, còn các thế phạm khác thì nhẹ. Thí dụ năm Bính Tý, Huyền Phượng là Trực Sự, đem Huyền Phượng đặt trên can năm Bính ở cung Khảm, tức cung tám, rồi bày thuận chín cung. Cứ thế làm lệ.

Chín vị thần quý bay vào cung giữa

Chín vị thần quý, gọi là Quý Thần, là Thái Nhất, Nhiếp Đề, Hiên Viên, Chiêu Dao, Thiên Phù, Thanh Long, Hàm Trì, Thái Âm, Thiên Hoàng. Họ được xếp theo số từ một đến chín: một Thái Nhất, hai Nhiếp Đề, ba Hiên Viên, bốn Chiêu Dao, năm Thiên Phù, sáu Thanh Long, bảy Hàm Trì, tám Thái Âm, chín Thiên Hoàng.

Dùng vòng kỷ dư, thêm ba toán sai, rồi trừ dần bằng vòng nhỏ chín. Phần không hết thì khởi cung một là Khảm, chuyển ngược chín cung. Ngoài toán thì Thần Quý ở cung ấy và làm Trực Sự. Sau đó, vị thần Trực Sự được rút vào cung giữa, và các vị đứng sau bay ra cung Kiền, rồi xuôi theo, mỗi năm một cung. Thứ tự các cung, tính từ sau cung năm, là Kiền, Đoài, Cấn, Ly, Khảm, Khôn, Chấn, Tốn. Thí dụ nếu sau khi trừ vòng nhỏ còn dư ba thì Thái Âm là Trực Sự. Đem Thái Âm rút vào cung giữa, Thiên Hoàng ở Kiền, Thái Nhất ở Đoài, Nhiếp Đề ở Cấn, Hiên Viên ở Ly, Chiêu Dao ở Khảm, Thiên Phù ở Khôn, Thanh Long ở Chấn, Hàm Trì ở Tốn. Cung mà thần quý rút tới đâu thì có thể biết lành dữ ở đó.

Tám cửa và chuyện trực việc theo năm, tháng, ngày, giờ

Tám cánh cửa đóng mở theo đúng nhịp ba mươi năm, và mỗi cánh có một tính nết riêng với người đi qua.

Tám cửa là Khai, Hưu, Sinh, Thương, Đổ, Cảnh, Tử, Kinh. Muốn biết cửa nào đang trực, lấy Giáp Tý nguyên trên tích đến năm tháng ngày giờ cầu việc, trừ hai trăm bốn mươi, phần không đủ thì trừ ba mươi để lấy dư. Số dư cho biết vào cửa nào, khởi từ cửa Khai, thuận tám cung. Mỗi ba mươi năm qua một cung. Năm, tháng, ngày đều làm như nhau. Thí dụ năm Tân Dậu ở cửa Kinh mới được hai mươi tám năm, còn hai năm nữa mới đầy, đến năm Giáp Tý thì cửa Khai trực sự.

Về giờ, tính từ Đông chí và Hạ chí. Tìm giờ tích được bao nhiêu thì trừ một trăm hai mươi, không hết thì rút ba mươi, số dư là vào cửa. Sau Đông chí, ngày Giáp Tý hay Giáp Ngọ, nửa đêm giờ Giáp Tý là khởi nguyên trên, dùng Khai, Hưu, Sinh, Thương làm Trực Sự. Sau Hạ chí, ngày Giáp Tý hay Giáp Ngọ, nửa đêm giờ Giáp Tý là nguyên trên, dùng Đổ, Cảnh, Tử, Kinh làm Trực Sự.

Đem cửa Trực Sự gia trên Đại Tướng chủ. Nếu Văn Xương ở dưới các cửa Khai, Hưu, Sinh thì là cửa chủ chưa đủ. Đem cửa Trực Sự gia trên Đại Tướng khách, nếu Thủy Kích ở dưới Khai, Hưu, Sinh thì là cửa khách chưa đủ. Đó là điều rất hung trong phép dùng binh, đến nỗi quân thua tướng chết. Với cửa của năm, lấy Trực Sự gia trên Thái Ất của Kể năm. Gặp cửa Khai, Hưu, Sinh thì rất tốt, gặp cửa Cảnh thì tốt vừa, gặp Thương, Đổ, Tử thì rất hung, gặp Kinh thì hung vừa. Cửa tốt lại lâm phương vượng tướng có khí thì điều may lành càng bội. Gặp phương thụ chế, không có khí thì lành giảm một nửa. Cửa hung mà phương có khí thì họa bội thêm, nếu phương thụ chế không có khí thì hung giảm một nửa.

Nếu hội với Du Nhỏ ở phương khí tuyệt, khí rời, lại thêm tù kích thì quân vương có tai nạn. Nếu Thiên Mục có tù kích thì phụ tướng gặp tai nạn. Nếu Đại Tướng, Tiểu Tướng gặp tù kích, đối, cách, hiệp thì thường là tử vong. Phận dã ở dưới cửa Thương, Đổ thì có nạn binh lửa, chết chóc, bệnh tật, dân mắc tai hại. Ở dưới cửa Kinh thì có tai họa cướp bóc úp đột. Nếu Thủy Kích và Đại Tướng chủ ở tại Đổ, Kinh, Tử, Thương thì có vạ tai tiếng và lời yêu quái, tức yêu ngôn khẩu thiệt.

Cách thêm: lấy Trực Sự gia trên Thái Ất, nếu Thiên Mục ở dưới Khai, Hưu, Sinh thì ba cửa chưa đủ. Lấy Khai đối Đổ, Sinh đối Tử, Hưu đối Cảnh, tả hữu ép giữa Đổ, Tử là cửa hung, cũng chưa đủ. Nếu không ở dưới Khai, Hưu, Sinh thì ba cửa là tránh hung, các Kể khác cũng xem như thế. Lấy cửa Khai trên Thái Ất, thấy Thiên Mục không ở dưới Khai, Hưu, Sinh là cửa Thái Ất đủ. Lấy cửa Khai trên cung Đại Tướng chủ, thấy Thái Ất và Thiên Mục không ở dưới ba cửa tốt là cửa Tướng chủ đủ. Lấy cửa Khai trên cung Đại Tướng khách, thấy Thái Ất và Thủy Kích không ở dưới ba cửa tốt là cửa Tướng khách đủ. Lấy cửa Trực Sự gia trên Mắt Kể Định và Mắt Xét, có đó thì biết động tĩnh cát hung ở bốn phương.

Nguyên lớn, nguyên nhỏ và hai thứ nạn chính

Người xưa còn phân biệt hai loại tai biến lớn: hạn chín dương và hạn một trăm lẻ sáu. Hạn chín dương lấy Trung Cổ Giáp Dần tích đến năm cần xét, trừ bốn nghìn năm trăm sáu mươi, đó là số nguyên lớn. Phần không hết lại trừ bốn trăm năm mươi sáu, đó là số nguyên nhỏ. Thí dụ năm Tân Dậu, niên hiệu Chính Thống, tức 1441, dư ba trăm sáu mươi tám, chưa ngang số chín dương, còn thiếu tám mươi tám năm mới tới số ấy. Số nguyên lớn hết thì gầm trời tai biến. Số nguyên nhỏ hết thì định là đói rét.

Hạn một trăm lẻ sáu thì dùng vòng nguyên lớn bốn nghìn ba trăm hai mươi làm hạn lớn, rồi phần không hết thì trừ hai trăm tám mươi tám làm hạn nhỏ. Với năm Chính Thống Tân Dậu, còn hai trăm bốn mươi bốn toán, thiếu sáu mươi bốn năm, tức đã định số ách hạn. Khi chín dương gặp một trăm lẻ sáu là đại số đến cực: bề tôi giết vua, con giết cha, gầm trời rối bời. Số nhỏ đến hạn cực thì nắng hạn lớn. Âm cực thì lụt nhỏ, đói hoang.

Chín hội ách, chín lần nước và hạn thay nhau

Bốn nghìn năm trăm sáu mươi năm không trôi đều mà được chia thành chín chặng, mỗi chặng kết thúc bằng một cơn nước hoặc hạn.

Kinh nói Ất Cả có tai nạn chín dương. Bốn nghìn năm trăm sáu mươi năm là số một nguyên trọn vẹn. Ngoài con số trọn vẹn ấy, khi phần chưa đầy số trong một nguyên thì có hội ách, chia làm tám ách, gọi thông là âm dương chín ách. Dùng Giáp Tý nguyên trên, thêm số doanh sai âm dương một trăm ba mươi, lấy phép nguyên bốn nghìn năm trăm sáu mươi mà rút. Số dư khởi âm dương chín, bảy, sáu, ba, nhân bảy được sáu mươi ba, là toán hội ách. Ngoài toán sở cầu thì là năm có tai nạn tám ách âm dương, nước hạn. Năm dương là nắng hạn, năm âm là thủy ách. Khoảng đầu cuối chín dương, một trăm lẻ sáu ra vào thì có binh cách, đói khổ, dân bỏ xứ, thất nghiệp. Gặp năm ếm, bách, kích, cách, chặn, giam, đề, hiệp thì càng hung. Nếu chín dương và một trăm lẻ sáu cùng ra vào thì hung không nói hết.

Cách chia số lớn một nguyên bốn nghìn năm trăm sáu mươi năm như sau. Lịch một là hội ách một dài một trăm lẻ sáu năm đến hết kỳ, có chín năm nắng hạn, đó là tai thứ nhất của chín dương. Lịch hai dài ba trăm bảy mươi tư năm, có chín năm nước, đó là tai thứ hai của chín âm. Lịch ba dài bốn trăm tám mươi năm, có chín năm nắng hạn, tai thứ ba của chín dương. Lịch bốn dài bảy trăm hai mươi năm, có bảy năm nước, tai thứ tư của âm bảy. Lịch năm dài bảy trăm hai mươi năm, có bảy năm nắng hạn, tai thứ năm của dương bảy. Lịch sáu dài sáu trăm năm, có năm năm nước, tai thứ sáu của âm năm. Lịch bảy dài sáu trăm năm, có năm năm nắng hạn, tai thứ bảy của dương năm. Lịch tám dài bốn trăm tám mươi năm, có ba năm nước, tai thứ tám của âm ba. Lịch chín dài bốn trăm tám mươi năm, có ba năm nắng hạn, tai thứ chín của dương ba. Tổng hợp lại là một nguyên khởi bốn nghìn năm trăm sáu mươi năm.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng dụng