Bài tổng quan
Bốn vệ tinh của Dụng thần và quẻ sáu hào cùng động
Một người cô qua được hết ngày hôm đó mà vẫn mất vào ngày Tị, chỉ vì một hào đứng chặn dòng nước nuôi cây. Quanh Dụng thần có bốn vì sao, mỗi vì sao kể một chuyện khác nhau…
Mục lục · 7 phần
- 01Xem đa Dụng thần: sai lầm cơ bản và chỗ nó thật sự có ích
- 02Bốn vệ tinh quanh Dụng thần: đều công bằng với nhau
- 03Nguyên thần: người đỡ lưng cho Dụng thần
- 04Kỵ thần: kẻ khắc Dụng thần và cách tránh nó
- 05Cừu thần: cái đập ngăn dòng nước nuôi cây
- 06Tiết thần: vệ tinh hay bị quên
- 07Quẻ sáu hào cùng động: gom nhóm trước khi luận
Xem đa Dụng thần: sai lầm cơ bản và chỗ nó thật sự có ích
Một trong những sai lầm cơ bản nhất khi học Dịch là xem nhiều Dụng thần cùng lúc. Thật ra đa Dụng cũng có, nhưng chỉ ở một số trường hợp cá biệt trong phạm vi rộng, hoặc được dùng ở giai đoạn đầu khi xét quẻ. Có thể nhớ như một phương trình chỉ có nghiệm khi số ẩn không nhiều hơn số phương trình, điều ai cũng từng học với phương trình bậc hai.
Ví dụ hỏi về công danh hiện tại được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng. Thế nằm ở hào 4, sát hào 5, mà hào 5 trong quẻ hỏi công danh thường đại diện cho sếp, theo quan niệm cửu ngũ chí tôn, nên biết người hỏi ở vị trí thường xuyên tiếp xúc với sếp. Nhưng không phải luôn như vậy: trong các quẻ Thuần hoặc quẻ Lục hợp sẽ không tính theo Thế. Quẻ Thuần có Thế ở hào 6, quẻ Lục hợp có Thế ở hào 1. Khi đó quẻ Thuần chỉ báo việc không trôi chảy, làm không lâu; muốn làm thêm thì xét các yếu tố tĩnh để chống đỡ. Còn quẻ Lục hợp Thế hào 1 chỉ báo sự phù hợp của người hỏi với công việc, còn năng lực ra sao thì trong mọi trường hợp vẫn phải xem vượng suy của Dụng và Thế.
Vì sao vẫn xét đa Dụng? Vì lúc ấy các hào động và tĩnh trong quẻ cho ta biết thêm nhiều thông tin khác. Như quẻ trên, Thế khắc hào 5 thì bản thân người hỏi không vừa ý sếp; Thế sinh hào 3 thì họ đang tin tưởng một người trợ lý. Nếu hào 5 là Tử tôn mà động thì báo sếp muốn truất mình; hào 5 ở Huynh đệ nếu động thì sếp gián tiếp khiến mình hết vui. Hay như xét chuyện nhà, xem mộ cũng vậy. Đó là những trường hợp có thể xem đa Dụng ở giai đoạn đầu, nhưng rốt cuộc vẫn phải gom về Thế và Dụng, tối đa thêm Ứng.
Bốn vệ tinh quanh Dụng thần: đều công bằng với nhau
Dụng thần là mặt trời, còn Nguyên, Kỵ, Cừu, Tiết là bốn vì sao xoay quanh nó.
Bốn vệ tinh của Dụng thần, theo lý, đều công bằng với nhau. Nghĩa là chúng đều chịu sự sinh khắc của Nhật Nguyệt cùng các yếu tố ảnh hưởng khác, không có sự ưu tiên nào. Ngoại trừ Dụng thần, các vệ tinh chỉ được tính khi động hoặc âm động.
Nguyên thần: người đỡ lưng cho Dụng thần
Dòng nước nuôi cây có thể bị chặn, và lúc nó bị chặn là lúc quẻ cho ta biết thời điểm.
Nguyên thần sinh cho Dụng thần. Nếu vượng thì sinh được. Nhưng nếu Dụng bị cả Nhật Nguyệt khắc thì Nguyên thần không sinh được, và ứng kỳ của sự khắc sẽ tới thời điểm xung hào Nguyên thần. Ngoài ra về tuổi thọ, Nguyên thần động báo người được hỏi mất vào năm xung Nguyên. Trong các quẻ về bệnh tật và sức khỏe, Nguyên nhập Mộ là hay. Nguyên bị hợp thì rất nguy hiểm, lúc ấy cần nhanh chóng bổ trợ cho chính Dụng thần thì may ra mới thoát.
Nếu Nguyên suy thì không sinh được Dụng, Hưu thì vẫn sinh. Nhưng nếu Dụng vượng thì không có vấn đề, chỉ báo rằng các nguồn lực hỗ trợ không mấy tác dụng mà người hỏi có thể tự lực cánh sinh, không sao. Lưu ý tình huống Nguyên Hưu cùng Dụng động thì vẫn như trên, vì Dụng động sẽ tiết khí của Nguyên.
Trong các việc có biên độ rộng như công danh, yêu đương, kinh doanh, Nguyên nhập Mộ, Không hay Phá đều báo sự hỗ trợ sẽ xuất hiện vào thời điểm tương ứng cho các vấn đề. Từng có quẻ hỏi tình duyên mà Nguyên nhập Mộ: lúc xung Nguyên thì cưới; nhưng nếu Dụng nhập Mộ thì lúc xung Mộ lại cưới người khác. Cần lưu ý như thế.
Kỵ thần: kẻ khắc Dụng thần và cách tránh nó
Có kẻ khắc mình, nhưng nếu biết giờ giấc, ta có thể đi qua lúc nó không có mặt.
Kỵ thần là thần khắc Dụng thần. Kỵ thần chỉ tính khi động; nếu tĩnh thì vẫn theo nguyên tắc đa Dụng nói trên. Và Kỵ cũng phải vượng mới dùng được: Hưu thì chờ vượng, quá vượng thì chờ nhập Mộ, hóa Tiến thì luôn dùng được. Hầu như Kỵ vượng đều nguy hiểm, chỉ duy có trường hợp có thể xoay chuyển về mặt thời gian để thoát khỏi ảnh hưởng của Kỵ. Ví dụ hỏi đi xa, nếu Kỵ động thì chọn lúc xung Kỵ mà đi. Nhưng lưu ý Thế cũng phải vượng; nếu Thế suy thì bản thân cũng chưa sẵn sàng. Không phải lúc nào cơ hội cũng đến lần hai, mọi sự khởi đầu nên hoàn hảo, ít nhất là đối với chính mình. Dù có thành công do may mắn thì cuộc đời cũng không ai sống mãi bằng may mắn, trừ khi có Thần bài Châu Tinh Trì.
Kỵ suy thì kẻ hại mình không làm được, nhưng nếu hóa khắc thì lại là chuyện khác. Nếu Dụng vượng mà hóa thành Kỵ suy thì hiện tại lúc vượng chưa có vấn đề, nhưng đến thời Kỵ lâm thì việc hại sẽ xảy ra. Xưa có quẻ người hỏi bệnh của cha vào mùa hè; người cha khỏi bệnh sau đó nhưng chết vào mùa đông. Nghĩa là nếu không có sự can thiệp hợp lý thì hóa khắc là mất. Lục thân đều chịu ảnh hưởng này.
Với Kỵ ở trạng thái tĩnh, có thể xét tới việc gây hại cho người, tức là quan hệ giữa Thế và Ứng. Nếu Ứng làm Kỵ thì người lừa mình cũng vô dụng. Ví dụ hỏi mượn tiền mà Ứng là Kỵ thì hỏng, hứa suông cho vui; nếu thêm Không nữa thì gọi điện cũng chẳng bao giờ bắt máy. Nhưng nếu Ứng nhập Mộ, lúc trực xung Mộ mà tương ứng Dụng thì việc mượn sẽ thành. Sự tác động vào quẻ có thể gồm cả những hành vi như chọn thời điểm di chuyển, né tránh, hay can thiệp mang tính duy tâm như dùng vật dụng tương ứng để thông quan hoặc bổ trợ, tùy trường hợp.
Cừu thần: cái đập ngăn dòng nước nuôi cây
Cây cần nước để sống, và có một hào được ví như cái đập chặn nguồn nước ấy.
Cừu thần là thần khắc Nguyên thần, và Dụng thần sẽ khắc Cừu thần. Cây cần nước để sống; Cừu thần giống như cái đập chặn nguồn nước ấy. Trong một số trường hợp đủ nghiêm trọng, Cừu thần động đồng nghĩa với nguy hiểm tính mạng.
Ví dụ ngày Canh Dần tháng Tị, người cháu hỏi cô đang bệnh có ổn không, ra quẻ Hằng hóa Thăng. Nếu xem theo phép thông thường thì Phụ mẫu làm Dụng, được Nhật hợp thì trong ngày sẽ ổn. Nhưng cuối cùng người cô mất vào ngày Tị, chỉ vì Cừu thần động nên người kiệt sức dần mà mất, không mất ngay. Ứng vào ngày Tị vì Tị xung Phụ mẫu Hợi. Tương tự có một ví dụ về một học trò đi trình luận án, cũng gặp Cừu thần động, Phụ mẫu vượng, Thế vượng. Sau đó hóa ra vì người giám khảo có tính cách và hình dáng như hào Cừu ấy.
Trong các trường hợp ngoài giấy tờ hay sức khỏe, Cừu thần báo sự vượng không lâu dài, hoặc gặp cản trở gián tiếp.
Kinh doanh: Cừu động báo sẽ bị mất vào vốn, có thể là người làm chung, cũng có thể là hàng hỏng. Ứng kỳ nằm ở Cừu thần. Nếu sinh Thế, hợp Thế hay Thế sinh, đó là người làm chung hoặc người phụ giúp, cứ xét theo đặc điểm hình dáng cộng thời gian mà đề phòng. Nếu trì Thế thì vừa không giữ được tiền, vừa bị tiền hành.
Công danh: Cừu động báo việc không lâu. Cừu ở hào dưới là cấp dưới của mình. Sinh hay hợp Thế mà Thế và Cừu đều vượng là tâm phúc của mình, hoặc là kiểu trong lòng giấu dao; khắc Thế là đối thủ của mình. Cứ theo Cừu thần mà xét thời điểm đề phòng.
Hôn nhân: Cừu động báo cảnh đồng sàng dị mộng. Lúc này xét thêm Cừu của Thế hay của Dụng, có sinh Thế hay Dụng, hay Dụng và Thế có sinh nhau không, để biết có người thứ ba hay không. Xem nội ngoại để biết nguyên nhân từ trong nhà hay ngoài ngõ, tùy tình huống mà xét.
Vậy gặp các trường hợp ấy thì làm gì?
Nếu Dụng trì Thế mà Cừu động thì bản thân cố gắng chủ động mà tính, không chơi trò nước lên thuyền lên, vì nước lên chưa chắc thuyền đã lên kịp.
Cừu trì Thế thì bản thân đã sai hẳn rồi; tự xét mà đổi thì may ra thoát, còn đâm đầu vào thì đành chịu.
Cừu sinh Thế thì xem lại người đi cùng, hay người ngọt ngào với mình, có thể là vô tình hoặc hữu ý. Nhưng trước khi chắc chắn, cứ coi như là vô tình. Lúc đó phải tự xét mình cùng người đang đi sai hướng.
Cừu khắc Thế thì lo cho mạng mình trước, vì Dịch ưu tiên báo hiệu chuyện gần, mà mạng mình là gần nhất.
Thế sinh Cừu thì là tin sai người.
Tiết thần: vệ tinh hay bị quên
Có một thần không báo kết quả mà báo nguyên nhân, và vì thế thường bị bỏ qua.
Trong các sách Bốc Dịch hiện nay đang khuyết một thần trong năm thần: Tiết thần. Vì Tiết thần chỉ dùng khi luận đoán chi tiết sự việc, không dùng cho kết quả, nên thường bị bỏ qua. Tiết thần là gì? Là thần mà Dụng thần sinh ra. Giả sử hỏi hôn nhân của người nam mà Quỷ động thì nghĩa là Dụng thần hóa Tiết. Tiết thần mang nghĩa về chuyện hao tổn. Với ví dụ trên, nghĩa là người vợ đang ngoại tình. Về kinh doanh, Quỷ động là hao hụt; khắc Huynh là sự mất do ăn cắp hoặc lừa nhau. Quỷ ở nội quái động là do bên trong, ở ngoại quái là do bên ngoài. Hỏi tiền thì nội ngoại cho biết đặc điểm giống hào Quan. Quan hóa Tài là tượng đầu tư.
Quan sinh Thế là tượng có người giúp đỡ, nhưng sự giúp đỡ ấy khiến hao hụt tiền của mình. Nếu Quan khắc Thế thì lại tính là họa, họa gì thì căn cứ vào hào. Hỏi sức khỏe mà Tiết thần động là tượng lo lắng: nếu Dụng thần vượng thì lo lắng nhưng không hại sức khỏe; Hưu thì lo lắng quá mà sinh bệnh. Còn việc khác cứ theo đó mà loại suy.
Dụng thần Hưu mà Tiết thần động là tượng bất thành.
Tiết thần khắc Kỵ thần. Tiết động sẽ áp chế được Kỵ động. Trường hợp Tiết Hưu mà Kỵ vượng đều động, cần nhanh chóng bổ trợ cho Tiết thần bằng cách nào đó, tùy trường hợp: như nhờ người giúp thì tăng lực cho người ấy, hoặc tăng thêm ngũ hành, vẫn tùy trường hợp mà dùng. Dịch quan trọng ở chỗ thông biến, mọi khái niệm cố định đều nguy hiểm cho người xem. Nhưng nếu Thổ làm Dụng mà vô căn, thì cho dù đã đành rằng số trôi đã định, cố gắng cũng như rồng bơi vũng cạn. Để xác quyết Tiết thần thật sự là người hay sự kiện, cần xét đến Lục thân và tính chất của hào.
Quẻ sáu hào cùng động: gom nhóm trước khi luận
Sáu hào cùng động tưởng rối nhất, nhưng thường chỉ còn hai nhóm khi đã loại những hào vô dụng.
Ngày Bính Ngọ, tháng Tuất, một học viên hỏi quẻ kinh doanh công ty đến cuối năm, được quẻ Ích hóa Hằng.
Huynh đệ động ở hào 2 và hào 6 khắc Tài. Nội quái hợp thành Phụ cục sinh Huynh. Tử tôn tuy có thể nối được nhưng lại bị hợp. Nếu xem thông thường thì coi như bỏ, nhưng có đúng như vậy không?
Huynh đệ Tuần không và động, nên không xét Tuần không, nhưng giống như Phá sợ Tuyệt thì Không sợ Mộ; không có Mộ thì xem như mất hào. Ở đây cả hai Huynh đều Không, và Mộ nằm ở hào 4 không bị xung phá, nên xét là Không nhập Mộ. Vì vậy hai Huynh tuy động nhưng thành vô dụng.
Phụ mẫu động bị Nhật xung, lại bị Nguyệt khắc và hóa khắc, nên xem như mất. Ngoài ra Phụ này không thể cùng Tài chờ Thân để hợp thành cục, vì mỗi cục tối đa chỉ được tồn tại một vấn đề trong các vấn đề gồm: khuyết chi, Không, Phá, hào suy kiệt. Ở đây Phụ suy hóa khắc thành quả kiệt, cục lại khuyết chi Thân, nên cục không thành. Vì sao không kể cả Tài bị Phá? Vì Tài tuy bị Phá nhưng hóa hợp, Phá gặp hợp thành bất phá; nhưng về mặt Mộ vẫn xét Nguyệt xung để bổ sung chuỗi thông tin luận.
Phụ mẫu coi như mất, nên dù sáu hào đều động nhưng gom lại chỉ còn hai nhóm là Tử và Tài. Tử hóa hợp nên bất động, không sinh Thế. Tài hai hào động vượng nên báo việc công ty có nhiều nguồn thu, các nguồn thu đều có lời, nhưng về tích lũy lại không có. Khả năng là công nợ khó đòi, hoặc tiền gửi đầu tư vào sản xuất. Nhưng đừng vội: sang tháng 11 âm xung mất Thân hợp Tị, Tử sinh Tài, lúc đó xem như có đủ.
Có một lưu ý kỹ thuật khi xem Tử tôn: Tử động mới xét đến các vấn đề bên trong; nếu không động thì dù vượng suy hay hiện hay không cũng không cần xét, chỉ cần xem Tài mà biết tốt xấu. Ngoài ra, một số con nợ của công ty cũng đang chơi trò mất tích, vì Ứng không nhập Mộ làm Huynh đệ.
Đây xem như thí dụ về phạm vi của một quẻ đa động. Về lý thuyết thì xem như thế, còn trên thực tế thì cần xét quẻ cẩn thận để biết quẻ có ứng nghiệm hay không. Lưu ý đây là quẻ kỹ thuật: mọi sự liên tưởng thông tin bên ngoài đều không cần thiết.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
