Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Mộ phần, hào Hưu và nguyên tắc tương đương trong Lục hào

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202612 phút đọc4 lượt đọc
Mộ phần, hào Hưu và nguyên tắc tương đương trong Lục hào

Người xưa bảo sống có nhà, chết có mồ, và trong quẻ cả hai đều quy về một hào Phụ Mẫu. Nhưng khi hào ấy không vượng mà cũng chẳng suy, việc hỏng ở gần mà thành ở xa. Vì sao một hào lưng chừng lại khó đoán đến vậy…


Nhà của người sống, nhà của người mất

Sống có nhà, chết có mồ.

Người xưa nói vậy vì thấy hai chuyện ấy cùng một gốc. Trong Lục hào, nhà ở và phần mộ đều thuộc về Phụ Mẫu, nên mỗi lần xem về mồ mả, về việc đặt táng, bốc mộ, người ta lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần. Phụ Mẫu vượng thì đất có mạch. Nếu kết quả hiện ra ở nơi xa thì là vận của cả gia tộc hưng lên, còn nếu hiện ra ở gần thì là cảnh anh em trong nhà đổi đời.

Từ Phụ Mẫu, bước tiếp theo là xem nó đứng thế nào với hào Thế. Phụ Mẫu vượng mà sinh Thế thì chính người hỏi được hưởng ân phúc từ tổ tiên, tự mình nhận được sự nâng đỡ mà phát lên. Thế khắc Phụ thì coi như vô duyên, cái tốt ấy không dành cho mình. Phụ khắc Thế thì các cụ chẳng vừa lòng với người hỏi, mọi thứ rồi cũng chỉ còn tự mình loay hoay.

Những dấu hiệu báo mộ mất mạch

Khi xem mộ, điều mong nhất là sự yên ổn. Nếu Phụ Mẫu suy mà Quan Quỷ động đi sinh cho nó, thì mạch đất thế nào cũng còn, về sau lao đao bớt dần. Ngược lại, nếu Phụ Mẫu vượng mà Quan Quỷ động lại là điềm không lành, vì lúc Quan động đổi hình thì chính người nằm dưới mộ cũng bị liên lụy, và thời điểm xảy ra chuyện rơi vào năm mà hào Quan ứng lực.

Những điều đại kỵ trong một quẻ về mộ phần gồm có:

Thứ nhất là Phụ Mẫu gặp tuần không. Dù hào ấy vượng hay suy, đó đều là dấu hiệu đất đã mất mạch. Nếu có điều kiện thì nên chuyển. Nếu chưa có thì thiếu đâu bù đó, giữ tạm cho đến khi đổi được. Có điều, dù đất vẫn đang tốt mà trong nhà con cháu cứ liên tục bất ổn, thì nên họp họ lại và dời sớm, đừng để tiếc nuối về sau.

Thứ hai là quẻ Lục xung, cũng báo mạch đã mất. Quẻ Lục hợp hóa Lục xung thì trước có sau mất, tương tự các trường hợp xung rồi hợp. Nếu Phụ Mẫu suy, hoặc vô căn, cứ bù vá những chỗ thiếu. Còn khi chưa đủ khả năng dời mà trong nhà đã quá nhiều chuyện bất ổn, thì nên cân nhắc sớm, vì con người mới là điều quan trọng.

Kỵ, Cừu, Tiết: nguyên nhân từ bên ngoài

Đó là chuyện bên trong của hào. Còn các tác động từ bên ngoài đến mộ thì nằm ở Kỵ thần, Cừu thần và Tiết thần.

Nếu Kỵ động, người ta dựa vào ngũ hành của nó để biết nguyên nhân. Mộc động khắc thì rễ cây là thủ phạm: Dần là cây con, Mão là cây lớn, hình ảnh rễ cây đâm vào mộ. Thủy khắc thì là nước tràn vào mộ. Khi đã biết vậy thì ra thực địa mà chữa. Điều cần nhớ là trước khi sửa phải thắp ba nén hương xin phép, rồi chọn ngày có hành khắc chế được Kỵ mà làm.

Ba hào này báo ba tầng nguyên nhân khác nhau. Kỵ cho biết nguyên nhân trực tiếp. Cừu cho biết nguyên nhân gián tiếp. Còn Tiết báo chuyện mình đang làm lợi cho người khác. Khi gặp Tiết, tùy theo phương hướng mà Tiết chỉ ra, có thể đặt một tấm bình phong nhỏ tại đó.

Việc đất cát như thế này thường phải dùng cách tác động trực tiếp tại chỗ. Không thể dùng các cách thông thường như xử lý nhà cửa, không tùy tiện gắn gương hay treo bùa hộ, vì mộ nằm trong nghĩa trang lớn, làm không cẩn thận thì lợi mình mà hại người, và như vậy còn nặng nề hơn.

Con cháu sẽ phát về đâu

Nếu Phụ Mẫu vượng và muốn biết con cháu sẽ phát về hướng nào, thì lấy một quẻ mới, đừng xem tiếp từ quẻ cũ vì rất rủi ro. Lúc đó chỉ cần xét hào Thế để chọn ra cặp hào đáng chú ý, mỗi cặp ứng với một hướng phát:

Tử Tôn đi cùng Tài thì phát về của cải. Quan đi cùng Phụ thì phát về danh, qua đường học vấn. Tài đi cùng Quan thì phát về quân đội, hoặc nhờ danh mà ra giàu. Phụ đi cùng Huynh thì cả đời công danh liêm khiết. Huynh đi cùng Tử thì trong họ có người làm nên trong nghề thuốc, nghề cứu người. Khi các cặp ấy đồng vượng thì đó chính là chỗ hậu duệ sẽ phát.

Hào Hưu, phần bị bỏ quên của Dịch

Nhắc đến Hưu thì nên nhắc cả Tiết thần, vì cả hai đều là những phần hay bị quên trong Dịch. Có thể ví chuyện này với lịch sử toán học: người Trung Hoa từ hơn năm trăm năm trước đã nghĩ ra cách giải phương trình bậc cao bằng thử nghiệm, trước khi công thức Horner ra đời. Họ giải gần giống nhau, nhưng chỉ dừng ở ước lượng, không định lượng chính xác, nên đi trước mà rốt cuộc lại thua về sau. Cái bài học ở đây là đừng phủ lên mọi thứ một bức màn huyền bí. Khi chưa lập được công thức, người học cứ lòng vòng đời này qua đời khác. Có lòng vòng thì cũng có cái hay, nhưng mất thời gian quá, nên mỗi thế hệ cần dựng lên một cột mốc mới, thay vì cứ lòng vòng mãi như con lừa xay cối.

Vậy Hưu là gì? Nói đơn giản, Hưu là trường hợp Nhật Nguyệt không sinh cũng không khắc hào, và hào động cũng vậy. Nghĩa là hào ở trạng thái không vượng mà cũng không suy. Hưu không đủ sức để quyết định như vượng hay suy, mà phải tùy tình huống để xét.

Nhiều người nghĩ Hưu là mức trung bình. Hỏi xin việc, hỏi tiền mai có về hay không, mà Dụng thần Hưu thì không thể nói là nửa chừng. Nói chính xác hơn, Hưu là tình trạng chưa kịp tốt tới thời điểm gần, nhưng có thể tốt ở thời điểm xa. Tới lúc gần thì chắc chắn hỏng. Còn những việc xa, nếu chờ được, thì hào bắt đầu từ Trường sinh mà dần thành, đến Đế vượng là vững. Hưu sinh được hào, khắc được hào đều có, nhưng vẫn theo nguyên tắc đó: nếu việc ngày mai thì Dụng vượng, Hưu hay suy đều không thành vấn đề; còn nếu ngày dài tháng rộng, tới lúc ứng kỳ thì hào Hưu mới là người định.

Vì vậy sự xuất hiện của hào Hưu dùng để xác định thời điểm xảy ra việc và đặc điểm của sự việc, cũng giống như cách xét hào Hóa, hóa hào. Khi việc ở gần thì hỏng ngay thời điểm xung, hoặc lúc hào Hưu được trực ở hào tĩnh, hoặc trực hợp hào động. Khi việc ở xa thì sự việc bắt đầu ổn từ lúc Trường sinh, vững ở lúc Đế vượng.

Hưu trong chuyện người với người

Với việc nhân sự, hào Hưu thường báo người ấy đứng đó như người đi qua đời mình, nên đừng đòi hỏi quá nhiều, nếu Dụng thần vượng thì vẫn ổn. Chẳng hạn hỏi chuyện làm ăn chung, quan tâm đến đối tác, hào Ứng Hưu chỉ thái độ lờ lợ của người ấy. Nhưng nếu hào Tài vượng thì tuy đối tác chẳng mặn mà, việc vẫn thành, cứ chơi được. Còn nếu hỏi quan hệ anh em mà Huynh Hưu, thì cứ chấp nhận kiểu anh em như vậy, vì mẹ sinh ra anh trước mình nên anh vẫn là anh, đừng đòi hỏi gì hơn.

Với việc xa mang tính kéo dài như kinh doanh, hào Hưu báo thời điểm khởi đầu cho sự ổn định, tính từ lúc Trường sinh. Còn trước đó thì xem như hỏng nếu không có tác động hợp lý.

Riêng tình duyên, nếu Dụng thần Hưu thì rất khó thành, Thế Hưu cũng vậy. Thời điểm cứ xét như thông thường, không có ngoại lệ nếu mọi chuyện cứ để tự nhiên. Muốn tìm ngoại lệ thì phải xét lại cho kỹ.

Dùng Hưu để chọn thời điểm

Ứng dụng lớn nhất của hào Hưu là chọn thời điểm cho những việc mà mình tự kiểm soát được thời gian. Chẳng hạn xuất hành, nhập hàng, mở cửa kinh doanh, đấu cờ, hay biết tình trạng hiện tại cho đến lúc nào thì mới có sự chuẩn bị và tác động hợp lý. Tùy điều kiện mà chọn Trường sinh hay Đế vượng làm thời điểm bắt đầu.

Nếu hào Hưu rơi vào Mộ, Tuyệt hay bị Tiết thì đều hỏng, bất kể là việc gì.

Chơi với Dịch lâu rồi, có một điều cần nhắc lại: những gì Dịch nói là tổ hợp của những điều thuộc thế giới con người, không nằm trong lòng bàn tay, trên tờ giấy hay trong mấy đồng xu. Dịch cuối cùng chỉ là một công cụ để con người chơi với cuộc đời trong quãng thời gian ngắn ngủi của một đời sinh vật, đừng lang thang với nó mãi. Kiếp sau, nếu có, cũng giống việc kiếp này chẳng nhớ gì về kiếp trước, nên đừng gửi hy vọng vào kiếp sau mà bỏ lỡ những điều quan trọng bây giờ. Con người ai cũng già đi, chưa có ngoại lệ. Vậy nên đã chơi thì cứ chơi cho trọn.

Nguyên tắc tương đương: xét bên này thì phải xét bên kia

Hưu cho thấy một hào không nằm gọn trong hai chữ vượng suy. Có một nguyên tắc rộng hơn giúp người học bớt vướng mắc: những yếu tố có vị trí ngang nhau thì phải được đối xử ngang nhau.

Lấy ví dụ khái niệm Tuế phá, tức hào bị năm xung. Nếu đã tính đến năm thì cũng phải tính đến giờ, tức là có Thời phá. Nhật và Nguyệt ngang hàng nhau vì cả hai đều tác động đến vượng suy của hào. Thời và Tuế cũng ngang hàng như vậy, tuy cả hai đều không tác động đến vượng suy. Vậy đã xét Tuế phá thì phải xét luôn Thời phá, giống như đã xét Nhật thì phải xét Nguyệt.

Câu hỏi tiếp theo là: nếu Tuế và Thời không làm đổi vượng suy của hào thì chữ Phá ở đây có ý nghĩa gì, có phải điềm hung không? Đã không động đến vượng suy thì bàn hung cát làm gì? Thực ra Tuế và Thời có lúc dùng được. Chúng hiện ra trong những sự việc có quy mô lớn như kinh doanh, công danh. Chúng cũng dùng để xét ứng kỳ: hào tĩnh mà bị Tuế xung hay Tuế trực thì việc ắt xảy ra trong năm ấy, còn trong năm thì lúc nào lại phải xét tiếp. Có lúc các mốc này trùng nhau, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chẳng hạn người ta hỏi một người bị bắt khi nào bắt được, đáp rằng ngày Ngọ; hỏi giờ nào thì đáp giờ Ngọ, và sau đó quả đúng giờ Ngọ thật. Đó là trường hợp không phổ biến, đừng lấy đó làm chuẩn.

Nguyên tắc tương đương gỡ những mâu thuẫn cũ

Đặt vấn đề theo hướng tương đương sẽ giải quyết được phần lớn mâu thuẫn của cách luận cũ. Chẳng hạn câu "không động cũng xét không". Nhiều người sẽ đọc thấy những câu như "Dụng vượng, Kỵ không hiện, hoặc Kỵ suy", nhưng nếu đã xét theo kiểu "không động cũng xét" thì giữa Kỵ, Nguyên, Cừu, Tiết đều có tư thế riêng với Dụng thần. Nếu nói xét Kỵ vì sợ hung, thì Cừu, Kỵ, thậm chí Tiết đều có cái hung riêng của mình. Đã xét tới hung thì lại phải nhìn tới cát, và như vậy mới công bằng. Tức là phải xét cả Nguyên thần, rồi xét đủ ngũ thần, chứ không thể chỉ để một mình Kỵ gánh chuyện hung, như vậy bất công với các thần còn lại.

Tất nhiên, sự xuất hiện của các thần còn lại đôi khi chỉ mang ý nghĩa cung cấp thêm thông tin cho chuỗi sự việc, và điều đó chỉ rõ khi quy mô sự việc đủ lớn. Chẳng hạn trong công danh, ai cũng biết hào năm là ngôi chí tôn, nhưng đã xét hào năm thì lại phải xét tương đương tiếp với các hào một, hai, ba, bốn và sáu. Cách xét dựa vào Lục thân và ngũ hành. Ví dụ hào năm khắc Thế mà tĩnh thì là tượng người sếp không vừa ý với mình; nếu động thì sếp đang ép mình; nếu động mà vượng, khắc lúc Thế suy thì là sếp ép chết mình. Những tình huống còn lại người học cứ thông biến theo cách đó.

Nhìn từ phía Lục thú cũng vậy. Bạch Hổ thường được hiểu là người hay cáu và hay cãi. Nhưng bản chất của Bạch Hổ là sự buông thả, cứng tính, gia trưởng. Người cứng tính và buông thả thì hễ chuyện không vừa ý sẽ cáu, và vì bảo thủ nên hay cãi. Hiểu như vậy cũng đúng, nhưng cần nhớ đó mới là biểu hiện của bản chất, chứ chưa phải bản chất.

Cuối cùng, tương đương không có nghĩa là đồng bộ. Nhật và Nguyệt giữ vai trò ngang nhau nhưng mỗi bên vẫn có chỗ riêng: Mộ ở Nhật thì không nhất thiết là Mộ ở Nguyệt; ám động, Nguyệt phá, hình tại Nhật và hình tại Nguyệt cũng không giống nhau. Cấu trúc đã như vậy thì người học cứ tùy nơi mà thông biến.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán