Bài tổng quan
Lưỡng hiện: Khi hai dụng thần cùng xuất hiện trong một quẻ
Tìm dụng thần mà thấy hai hào cùng mang một lục thân, như hai nguồn tiền, hay hai tính cách trong một con người. Chúng chẳng cùng lên tiếng một lúc mà mỗi hào mở ra một thời điểm riêng. Nên nghe tiếng nào trước…
Mục lục · 7 phần
- 01Hai hào cùng đứng ở ngôi dụng thần
- 02Thứ tự ưu tiên khi có hai dụng thần
- 03Ba điểm khác nhau giữa lưỡng hiện và hào Phụ mẫu động
- 04Khi hai hào lưỡng hiện cùng động
- 05Các cách ghép đôi khác: động với tĩnh, tĩnh với tĩnh
- 06Đo thời gian khi việc xác định được ngày giờ
- 07Dụng thần nằm ở hào biến và quẻ của người bán hàng thua lỗ
Hai hào cùng đứng ở ngôi dụng thần
Có những quẻ mà khi tìm hào cần dùng, ta bắt gặp không phải một mà hai hào cùng mang một lục thân. Hỏi việc giấy tờ mà thấy hai hào Phụ mẫu, hỏi về tiền mà thấy hai hào Thê tài. Hiện tượng ấy gọi là lưỡng hiện: hai dụng thần cùng hiện trong một quẻ. Đây không phải chuyện hiếm. Khi sắp địa chi vào sáu hào thì luôn có hai hào thổ trong một quẻ, nên mỗi quẻ có ít nhất một cặp như thế.
Lấy quẻ Càn vi thiên làm ví dụ. Từ trên xuống gồm Phụ mẫu Tuất thổ ở hào thế, Huynh đệ Thân kim, Quan quỷ Ngọ hỏa, Phụ mẫu Thìn thổ ở hào ứng, Thê tài Dần mộc và Tử tôn Tý thủy. Ở quẻ này Phụ mẫu hiện lên hai lần, tại Tuất và tại Thìn. Hai hào ấy là lưỡng hiện.
Cũng như các quẻ khác, lưỡng hiện không tự nhiên mà có. Một quẻ thực ra báo nhiều dữ kiện hơn rất nhiều so với chuyện có hay không, đúng hay sai, bao giờ. Quẻ mà có nhiều hào động, có hào ẩn, có hiện tượng lưỡng hiện, có hào hóa Không, hóa Phá hay bị xung, đều là quẻ nói rằng việc ấy có nhiều vấn đề. Nếu chỉ muốn một đáp án đi thẳng một đường, chỉ cần một quẻ yên tĩnh, xét độ vượng suy của dụng thần và quan hệ giữa Thế và Dụng. Còn đã nhìn đến lưỡng hiện thì ta đang đi tìm những lớp chi tiết nằm dưới đáp án.
Thứ tự ưu tiên khi có hai dụng thần
Khi có hai hào cùng tranh một ngôi, phải biết hào nào được nghe trước.
Trong quẻ lưỡng hiện, thứ tự ưu tiên là: hào động, rồi hào Thế, rồi hào hợp với Thế, sau cùng mới đến các hào thông thường. Nếu một trong hai hào là hào động, hào Thế hay hào hợp Thế, ví dụ quẻ Bí mà dụng thần là Phụ mẫu hợp Thế, thì việc xem quẻ giống như quẻ thông thường, chỉ có một dụng thần rõ ràng.
Còn nếu hai hào dụng thần đều không động hoặc không trì Thế, thì vượng suy được lấy từ hào không bị Không hay Phá, nhưng ứng kỳ lại nằm ở hào bị Không hay Phá. Hãy xem quẻ Thiên Sơn Độn, tháng Tuất, ngày Giáp Dần, hỏi chuyện làm giấy tờ. Lấy Phụ mẫu làm dụng thần, hào Phụ mẫu Tuất thổ trùng với tháng nên ta tính Phụ mẫu vượng, tức việc sẽ thành. Hào Phụ mẫu Thìn thổ lại bị Nguyệt phá, và đó chính là mốc thời điểm cho việc giấy tờ hoàn tất: tháng Thìn hoặc tháng Dậu, hoặc năm Thìn hoặc năm Dậu.
Ba điểm khác nhau giữa lưỡng hiện và hào Phụ mẫu động
Dù cả hai cách đều báo việc thành và thành ở một chi nhất định, hiện tượng lưỡng hiện lại có phần cung cấp thông tin riêng.
Điểm thứ nhất là thời điểm ứng kỳ. Hào lưỡng hiện thông thường, không bị Không hay Phá, cho ra bốn điểm ứng kỳ. Quy tắc ở đây là điểm nào gần ngày xem nhất theo chiều thuận thì lấy điểm ấy làm chuẩn. Chẳng hạn xem vào ngày Dần, bốn điểm ứng kỳ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, thì Thìn là điểm gần nhất theo chiều thuận của kim đồng hồ, nên ứng kỳ của việc ở Thìn. Còn với hào bị Phá mà đang động, ứng kỳ có thể rơi vào giờ hoặc ngày, tháng, năm; riêng Nguyệt phá thì ứng trong tháng hoặc năm.
Điểm thứ hai là cái giá phải trả trên đường đi. Khi hào bị ngày hoặc tháng xung mà không được hợp, việc hỏi kết quả vẫn đọc như thường, nhưng đường đi sẽ bị chia nhỏ. Hỏi về tiền thì tiền về lẻ tẻ dù tổng cộng đúng như mong đợi. Hỏi về giấy tờ thì nhiều công đoạn rắc rối kéo dài cho đến tận cuối.
Điểm thứ ba là tính chất của sự vật. Hai hào lưỡng hiện tuy cùng hành nhưng chắc chắn khác nhau ở lục thú. Nếu đó là một người, thì là một người có nhiều đặc điểm tính cách, nhưng không biểu lộ cùng một lúc: lúc này thế này, lúc kia thế khác. Hỏi về chồng mà hào Quan mang Thanh Long và Đằng Xà, ví dụ, là người có điều khúc mắc trong tâm lý, từng trải qua giai đoạn trầm cảm trong đời, hiện đang căng thẳng, ăn không ngon, mơ mộng linh tinh, nhưng bên ngoài vẫn vui vẻ, quảng giao. Nếu thêm âm dương nữa thì còn biết thêm người ấy quyết đoán ở đâu mà yếu mềm ở đâu.
Nếu đó là một việc, thì lưỡng hiện báo thêm thông tin về chính sự việc. Hỏi về tiền, thì có hai nguồn tiền. Nếu hai nguồn ấy là Chu Tước và Đằng Xà thì một nguồn do lời nói mà có, nguồn kia là tiền bấp bênh, mờ ám. Nếu một hào hỏng một hào dùng được thì trong hai nguồn chỉ có một dùng được. Với người thì đó là lúc tính cách nào bị hỏng thì người ấy thể hiện cố gắng ra ngoài mà lòng chẳng vui. Muốn biết rõ hơn về các lục thú ấy có thể đối chiếu Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần cùng Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ.
Khi hai hào lưỡng hiện cùng động
Hai hào cùng lên tiếng thì phải tách từng tiếng ra mà nghe, trước khi ghép chúng lại.
Khi cả hai hào đều động mà có một hào hóa khắc, ta lấy theo vòng địa chi giữa hào nguyên vẹn và hào hỏng, điểm nào đến trước thì lấy trước. Chú ý rằng phải cùng quy chiếu, tức là cùng năm, cùng tháng. Nếu điểm hỏng xuất hiện trước thì thời điểm hỏng ấy đánh dấu việc thất bại, và ngược lại. Điều này tương tự với trường hợp lục xung hóa lục hợp, đều là hỏng trước thành sau. Điểm khác là ở đây ta xác định được thời điểm thành bại, còn xung hóa hợp thì không xác định được thời gian: ứng kỳ nằm ở nội dung quẻ không báo thời điểm xảy ra việc, bản chất các hào trong quẻ chính báo tình hình hiện tại.
Ví dụ quẻ Địa Hỏa Minh Di hóa Lôi Thiên Đại Tráng. Lấy Quan quỷ làm dụng thần, ta có hai hào Quan quỷ cùng động. Một hào hóa Tử tôn khắc Quan, một hào hóa Thê tài sinh Quan. Với điều kiện thông thường, không chịu ảnh hưởng của những trạng thái đặc biệt như Tuần không hay Nguyệt phá, thì điểm ứng kỳ nằm ở Dần và ở một ngày thuộc hào hóa sinh. Giả sử xem vào ngày Sửu: trong ngày đã có kết quả, nhưng đến ngày Dần thì hỏng việc. Nếu xem vào ngày Dần thì hỏng ngay trong ngày, đến ngày Tỵ thì có tin thành công. Những mốc thời gian khác cũng tính từ đấy mà suy ra.
Nếu một trong hai hào bị Tuần không, Nguyệt phá, hoặc hóa Tuần không, hóa Nguyệt phá, hay bị hợp, thì ta lấy riêng điểm của từng hào chứ không gộp chúng thành một. Nếu hai hào xung nhau thì theo lý thuyết, hai hào xung nhau sẽ mất đi, thời điểm của hào này thì còn hào kia và ngược lại. Chẳng hạn Sửu và Mùi xung nhau, đều là hào động, thì ứng kỳ hào Sửu tại chi Sửu và ứng kỳ hào Mùi tại chi Mùi. Cặp Thìn và Tuất cũng suy ra như vậy.
Nếu cả hai đều không bị khắc, ta lấy ứng kỳ của từng hào rồi cử đại diện ứng kỳ của từng hào để xét. Lưu ý mỗi hào chỉ được xét một ứng kỳ, không lấy trọn cả hai điểm của một hào. Trong vòng địa chi, ta lấy hai điểm gần nhất tính theo chiều thuận cho hai hào.
Các cách ghép đôi khác: động với tĩnh, tĩnh với tĩnh
Không phải lúc nào hai hào dụng thần cũng bình đẳng, và việc chọn hào nào quyết định cả hướng đi của quẻ.
Với một hào động và một hào tĩnh, ta ưu tiên hào động và không xét đến hào tĩnh. Với hai hào tĩnh mà một hào trì Thế, ta lấy hào trì Thế làm dụng thần, không xét đến hào còn lại. Từ đây phát sinh trường hợp một hào động, một hào trì Thế. Khi đó ta lấy hào động làm dụng thần, còn hào Thế chỉ mang chức năng của hào Thế, nghĩa là hào động ưu tiên hơn hào Thế.
Trường hợp hai hào tĩnh mà có một hào bị Tuần không hay Nguyệt phá, ta lấy hào nguyên vẹn làm bản chất của việc, còn hào bị Tuần không, Nguyệt phá dùng làm điểm ứng kỳ. Nếu cả hai hào đều dính Tuần không hoặc Nguyệt phá, ta bỏ hào Nguyệt phá, lấy hào Tuần không nếu nó còn vượng, rồi xét điểm như đối với Tuần không. Nếu hai hào đều bình thường thì lấy hào nào làm dụng thần cũng được, chỉ khác nhau về mức độ cung cấp thông tin.
Đo thời gian khi việc xác định được ngày giờ
Khi chưa biết sự việc xảy ra lúc nào thì dùng ứng kỳ để định thời điểm, còn khi đã biết thì ứng kỳ đổi vai.
Những sự kiện xảy ra không xác định thời gian, ta có công thức tính thời điểm như trên, và chọn thời điểm cho phần việc thành. Với phần thất bại, ta can thiệp bằng yếu tố không gian. Với những việc có thời gian xác định, chỗ này khác một chút so với điểm ứng kỳ của các trạng thái đặc biệt: ta chỉ cần lấy bản chất của dụng thần để xét ra kết quả, nghĩa là kết quả đơn nhất. Duy chỉ có tình huống một hào vượng và một hào hóa khắc là đáng lưu ý, khi đó ta chia quãng như sau.
Gọi A là điểm ứng kỳ thành công, B là điểm ứng kỳ thất bại, C là thời điểm hiện tại. Nếu C gần A hơn B thì khoảng thời gian từ C đến A gọi là quãng thành, từ A trở đi là hỏng. Nghĩa là nếu thời điểm hỏi rơi trước A thì thành công, từ A trở đi thì hỏng. Nếu C gần B hơn thì ngược lại: từ C đến B thì thành, rồi sau B thì hỏng, tính theo chiều kim đồng hồ.
Ví dụ quẻ Thuần Ly hóa Thuần Càn, ở đây hai hào Sửu và Mùi xung nhau nhưng Sửu hóa khắc. Quan hệ giữa hào biến và hào động được ưu tiên hơn quan hệ giữa hai hào động với nhau, nên ta giữ điểm của hào bị khắc chứ không lấy hợp. Với những sự kiện xảy ra liên tục, ta xét theo bản chất của hào, và điểm đột biến về việc nằm ở các điểm ứng kỳ.
Dụng thần nằm ở hào biến và quẻ của người bán hàng thua lỗ
Một quẻ không chỉ có hai dụng thần. Nếu kể cả hào biến của hào động, mỗi quẻ có thể đến bốn.
Công thức cho trường hợp này như sau. Quẻ có hào biến mang vai dụng thần thì dụng thần ở hào biến là điểm đột biến. Dụng thần ở quẻ chính là kết quả xuyên suốt, trừ thời điểm đột biến đối với những việc xảy ra liên tục. Còn với sự kiện chỉ xảy ra một lần, ta lấy hào biến làm kết quả và làm điểm ứng kỳ.
Hãy xem quẻ ngày Đinh Mão, tháng Tỵ, Phong Thiên Tiểu Súc. Quẻ hỏi về tiền, tức hỏi chuyện kinh doanh. Thê tài ở quẻ chính suy, chỉ ở hào biến mới vượng. Kết quả của việc là cả tháng bán ra đều lỗ, lỗ rất to, vì Huynh đệ, tức Kỵ thần, đang động. Chỉ có ngày Sửu, nơi Thổ ở hào biến đột biến, là có lãi: ngày thường bán được năm triệu, còn ngày Sửu trong tháng thì ba mươi triệu. Đó là điều thực tế đã xảy ra.
Giải đầy đủ quẻ này thì như sau. Dụng thần Thê tài bị ngày khắc mà không được tháng giúp nên tính là suy. Nó báo tiềm năng đang cạn, thị trường thu hẹp lại, không còn chỗ cho mình. Thêm vào đó nó khắc Thế, nên bản thân mệt mỏi và chịu áp lực với chuyện kinh doanh. May hào Thế vượng, nên chỉ là mệt mỏi áp lực chứ không sinh bệnh hay gặp tai họa. Hào Kỵ thần động tiết khí hào Thế, tức bản thân tin nhầm người khiến mọi thứ đổ vỡ và còn mất nhiều hơn. Về sau mới biết đó là một nhân viên. Người ấy mình biết rõ, nét nhận dạng giống như hào mộc dương làm Câu Trần. Riêng hào Sửu thổ, dụng thần ở hào biến, báo điểm đột biến trong việc kinh doanh vào thời điểm Sửu.
Với những quẻ như thế, bước đầu tiên là phải tìm ra Huynh đệ là ai, vì đó là người mình quen biết. Hào ấy nằm ở nội quái, nên người này gần gũi. Sau đó cắt đứt phía này đi, đổi mặt hàng, rồi xem lại một quẻ mới thì may ra mới có thể thành công.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
