Bài tổng quan
Đặt tên con theo núi thiêng: Hổ Khẩu Sơn đến Nhan Thang Sơn
Dưới ngọn Hổ Khâu, ba nghìn thanh kiếm ngọc của Ngô Vương vẫn nằm im dưới đáy hồ xanh mà Tần Thuỷ Hoàng từng lặn lội tìm kiếm không thấy đáy. Bạch Nương Tử bị nhấn chìm dưới chân Kim Sơn, Gia Cát Lượng thốt lên trước thế đất hổ ngồi rồng cuộn của Trung Sơn, còn trên đỉnh Tiên Đô mây tím vẫn vấn vít quanh dấu chân thần tiên — mười hai ngọn núi, mỗi cái tên còn giữ nguyên hơi thở của một huyền thoại…
Mục lục · 4 phần
- 01Hổ Khẩu Sơn, Kim Sơn và Trung Sơn: kiếm báu, Bạch Xà và thế đất đế vương
- 02Thê Hà Sơn, Huệ Sơn và Tiêu Sơn: chùa cổ nghìn năm dưới chân Nam Kinh
- 03Thiên Đài Sơn, Miên Bình Sơn và Tiên Hoa Sơn: cội nguồn Phật giáo và tiên cảnh Đạo gia
- 04Tiên Đô Sơn, Kim Hoa Sơn và Nhan Thang Sơn: mượn tên núi đặt tên con
Hổ Khẩu Sơn, Kim Sơn và Trung Sơn: kiếm báu, Bạch Xà và thế đất đế vương
Hổ Khẩu Sơn: Núi Hổ Khẩu nằm ở Tây Bắc thành phố Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô, tên cũ là Động Hải Sơn, đời Đường còn gọi là Vũ Khâu. Cao hơn 30 m, có hơn 200 ngôi đền, nhìn xa là một cái gò hoang được gọi là đệ nhất danh lam của Ngô Vương. Trên núi có tháp Hổ Khâu là tượng trưng cho thành phố cổ kính Tô Châu. Núi Hổ Châu có những danh lam thắng cảnh như: đá thử kiếm, hồ kiếm, đá nghìn người, đá gật đầu, chùa Vân Nham, tháp Hổ Khâu, gò Bạch Cung, suối Lục Vũ... Tương truyền thời Xuân Thu, bố của Phù Sai sau khi chết an táng tại núi Hổ Khâu, tương truyền sau khi an táng có một con hổ trắng hiện ra nên được gọi tên là Hổ Khâu (gò hình con hổ). Ngôi mộ bố Phù Sai nằm ở dưới hồ kiếm núi Hổ Khâu. Hồ nước trong xanh có nguồn nước khoáng trong lành, sâu khoảng 2 trượng. Trong mộ của ông có 3 nghìn thanh kiếm ngọc. Tần Thuỷ Hoàng và Ngô Chủ Tôn Quyền đều đã tới đây để tìm kiếm ngọc, hồ kiếm được nổi danh cũng là vì thế. Ngày nay đã có rất nhiều người lấy tên là Hổ Khâu. Tác giả có một người bạn tên là Châu Kiếm Trì, lần đầu tiên gặp anh ấy, tôi hỏi anh ta ý nghĩa của tên anh là gì, anh đáp: "Hổ Khâu không phải là Hồ Kiếm đó thôi". Lúc đó tôi vẫn không hiểu rõ lắm, hàm ý của Hồ Kiếm (Kiếm Trì) lúc về tra cứu những tài liệu có liên quan mới biết rõ những hàm ý của cái tên Kiếm Trì, cái tên ấy nói lên người có học vấn sâu xa, uyên thâm mà tên ấy nghe cũng rất hay. Hơn nữa nghe cái tên ấy có thể hiểu thêm về một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước, đó thực sự là một cái tên đẹp mà các bậc cha mẹ có thể đặt cho con. Ví dụ: Lương Hổ Khâu, Hoa Kiếm Trì, Hà Vân Nham, Trương Lục Vũ...
Kim Sơn: Kim Sơn nằm ở Tây Bắc thành phố Trấn Giang tỉnh Giang Tô. Tên cũ là Thị Phù Sơn, Giang Tâm Sơn, Phục Ngưu Sơn. Trước đây lòng sông trên đảo núi, thời nhà Thanh thì nối liền với Nam Ngạn cao 43,7 m, trên núi có chùa Kim Sơn. Kim Sơn có các danh lam thắng cảnh như: chùa Kim Sơn, động Bùi Công, động Bạch Long, suối Trung Lãnh, đá Diệu Cao, đình Thôn Hải, động Pháp Hải... Trong khu di tích Kim Sơn, chùa Kim Sơn là khu di tích nổi tiếng nhất, gắn với tác phẩm văn học nổi tiếng "Bạch Xà Thoại", nói chung đều có những tình tiết về chùa Kim Sơn bị nhấn chìm xuống nước. Tương truyền Pháp Hải và Thượng Tương Hứa Tiên gặp nhau trong chùa Kim Sơn, vợ của Hứa Tiên là Bạch Nương Tử đồng ý. Pháp Hải không dung tha, Bạch Nương Tử thuỷ cung sai tôm hùm làm mưa gió tạo một dòng nước lớn nhấn chìm Kim Sơn. Pháp Hải mời Lôi Công, sấm chớp đến hô mưa làm gió, sau đó do sao khuê nói Bạch Nương Tử sẽ sinh trạng nguyên quý tử, Pháp Hải mới tha Hứa Tiên, lệnh cho gặp Bạch Nương Tử tại đoạn cầu gãy trên Hồ Tây. Tương truyền Nam Vinh Danh Tương Hàn Trung đang ở trên núi Kim Sơn giao chiến với quân Kim. Sau trận đánh, Kim Nguyên thuất lội sông, Hàn sai quân chặn đường của Kim lại, hai bên giao tranh quyết liệt trên núi Kim Sơn. Trong trận giao tranh quyết liệt, Phu nhân Hàn Lương Hồng Ngọc đã giúp đỡ ủng hộ bằng cách tự mình đánh trống. Bây giờ, trên núi Kim Sơn vẫn còn nơi Lương Hồng Ngọc đánh trống. Đặt tên con là Kim Sơn rất có ý nghĩa, "Kim Sơn" nghĩa là Vàng chất thành núi hoặc núi chất vàng. Ví dụ: Vinh Kim Sơn, Hán Kim Sơn, Lương Kim Sơn...
Trung Sơn: Trung Sơn nằm ở phía Đông thành phố Nam Kinh của tỉnh Giang Tô. Tên cũ là núi Kim Lăng, sau đời Trần có tên là Trung Sơn, Tưởng Sơn, Tử Kim Sơn, Thần Liệt Sơn... Trung Sơn có 3 ngọn núi dáng vẻ như là giá bút. Núi cao so với mặt nước biển là 448 m, Nam Bắc rộng 3 km, là một quần thể núi của Nam Kinh. Trung Sơn có các danh lam thắng cảnh như: đền Tương Hầu, đá Phản Long, Tương Linh, Tử Kim Sơn, điện Thịnh, đài Chí Công Thuyết, động Thái Tử, đình Bán Sơn, thành Thiên Bảo... Theo "Kim Lăng địa lý" viết thời Tần Thuỷ Hoàng, vọng khí giả vân "Kim Lăng Hữu Thiên Tử Khí". Dưới núi có giấu vô số vàng bạc châu báu. Sau này còn có người cho rằng Tần Thuỷ Hoàng chôn vàng ở đây. Trung Sơn hùng vĩ, nhìn xa như hình rồng uốn lượn. Thuở xưa giữa thời Bát Cung Thuỷ Nam, có một tảng đá lớn giống như mình rồng, qua khắc trạm lại và được gọi là Bàn Long Thạch. Theo "Thái Bình Ngự Lãm" ghi lại Lưu Bị sai Gia Cát Lượng vào thành, bởi vì thấy núi hùng vĩ lộng lẫy liền thốt lên rằng "Trung Sơn Long Bàn, Thạch Thành Hổ Cứ, Thử Đế Vương Chi Trạch". Thời Tam quốc, Gia Cát Lượng giúp Ngô diệt Nguỵ, xuất sứ Đông Ngô, đánh giá Châu Sơn là nơi Hổ nằm Rồng ngự, điều đó nói lên rằng trong lịch sử ta Kim Sơn đã nổi tiếng với những truyền thuyết kì vĩ của mình. Từ đó có thể thấy rằng Kim Sơn nổi tiếng với sự tích "Long Bàn Hổ Cứ" và "Đế Vương Chi Cư". Đặt tên con với những cái tên liên quan đến Kim Sơn thật có ý nghĩa biết mấy. Ví dụ: Thạch Trung Sơn, Vương Trung Sơn, Trương Tịnh Đàn, Tô Linh Ngũ...
Thê Hà Sơn, Huệ Sơn và Tiêu Sơn: chùa cổ nghìn năm dưới chân Nam Kinh
Thê Hà Sơn: Thê Hà Sơn nằm ở phía Đông Bắc của thành phố Nam Kinh, cách mặt biển 284 m. Hình núi giống như chiếc ô, tên cũ là Tán Sơn. Có 3 đỉnh Đông, Tây, Trung Long Sơn, đỉnh Tây được ví như Hổ nằm gọi là Hổ Sơn. Thê Hà Sơn nổi tiếng với chùa Thê Hà, nó nằm trên 2 đỉnh phía Đông Bắc của núi Thê Hà. Chùa được xây dựng trên núi, lầu các cao vút, công chính đề 4 chữ "Thê Hà Cổ Sát có tên trong Thiên Hạ Tự Đại Trung Lâm" có hơn 1500 năm nay. Rất nhiều người đã đặt tên cho con là Hà khiến cho cái tên ấy trở nên nhàm nhưng đặt tên là Thê thì không hề nhàm chút nào, hơn nữa lại rất cao nhã, hàm ý sâu sắc. Chữ "Thê" trong "Thê Hà Sơn" đọc là gì (thất) chứ không phải đọc là Xí (Tây). Ví dụ: Phùng Thê Hà, Trần Thê Hà...
Huệ Sơn: Huệ Sơn là ngọn núi thuộc ngoại ô phía Tây của Thành phố Ngô Tích tỉnh Giang Tô. Tên cũ là Hoa Sơn, Lập Sơn, Huệ Sơn, Tây Thần. Sau này Phổ Tăng nhân Huệ Triệu đã xây dựng trên núi một ngôi chùa, lúc đầu đặt tên là Tuệ Sơn xưa đổi thành Huệ Sơn. Huệ Sơn có những danh lam thắng cảnh chủ yếu như: điện Thái Bắc, đồng Xuân Thâm, Tích Sơn, đền Hoa Hiếu Tử, chùa Huệ Sơn, Hồ Hoa Sơn, động Như Thuỷ, suối Huệ Sơn, tháp Long Quang... Trước đây chùa Huệ Sơn do Nam Triều Vĩnh Tăng Hiển Hoa Sơn Tinh Xá chủ trì. Ngày nay cổng chùa được quét sơn màu vàng vẫn giữ cái tên cũ, cổ Hoa Sơn môn, phía trước núi có một cái hồ nước rất trong xanh được gọi là Thiên hạ đệ nhất suối. Trên mặt hồ thấp thoáng bóng lá sen xanh thẫm mát lạnh. Theo truyền thuyết, trên hồ Hoa Sơn có một cây cầu "Kim Liên Kiều" bắc qua. Trong tư liệu ghi chép lại, những dòng họ nhỏ đặt tên con là "Huệ Sơn" hay Tuệ Sơn là rất được và có ý nghĩa sâu sắc. Ví dụ: Phùng Huệ Sơn, Thái Huệ Sơn, Đỗ Tĩnh Sơn.
Tiêu Sơn: Tiêu Sơn nằm ở phía Đông Bắc thành phố Trấn Giang tỉnh Giang Tô, nằm bên cạnh con sông Trường Giang. Tên cũ là Như Ngọc Sơn. Núi cao 70,7 m; lớn 2 km. Phía Đông Bắc có Tùng Liêu, Di Sơn, 2 núi nhỏ ở giữa dòng sông là Tiêu Sơn và Đường Vinh. Tiêu Sơn có những danh lam thắng cảnh như: Hải Vân Nham, Thiên Tài Thạch, chùa Tiêu Công, vườn Trúc Tô Công. Thời Tống có nhà thơ lớn Tô Đông Pha, Tống Thần Đông, trong thời gian ở Khang Châu đã 2 lần đến thăm quan nghỉ mát ở Kim Sơn, Tiêu Sơn, Bắc Cố Sơn... Trong rừng thơ Trấn Giang Nam có vườn Trúc Tô Công, tương truyền do chính tay Tô Đông Pha trồng. Theo Nam Triều Lương trong "Chân Cáo" đã ghi chép lại, thuở xưa có một tiên sinh về đạo, vào trong núi đá Tiêu Sơn luyện tập Thái Cực làm cho có thể đi xuyên đá. Theo "Tiêu Sơn Chí" ghi lại thuở xưa Tiêu Sơn có một tảng đá tròn, bằng phẳng nhưng đạo sỹ đã từng đi xuyên qua nó. Tiêu Sơn có những hàm ý sâu sắc. Đứng từ góc độ phát âm mà nghiên cứu thì cái tên ấy lấy tên là Tiêu Sơn cũng nghe không hay lắm, nhưng họ Tiêu có thể đặt tên Sơn, nhưng tốt nhất là không dùng từ đơn, có thể đặt thêm tên sau họ Tiêu Sơn. Ví dụ: Tiêu Sơn Trác, Tiêu Sơn Nham...
Rời khỏi vùng núi ven Trường Giang, kho tên núi còn dẫn ta lên những đỉnh cao hơn nữa, nơi cội nguồn Phật giáo và dấu chân tiên nữ Đạo gia còn in trên đá.
Thiên Đài Sơn, Miên Bình Sơn và Tiên Hoa Sơn: cội nguồn Phật giáo và tiên cảnh Đạo gia
Thiên Đài Sơn: Thiên Đài Sơn nằm ở phía Bắc huyện Đài Bắc vùng Đông Bắc Bộ thuộc tỉnh Triết Giang. Tây Nam nối liền với Tạng Sơn, Tây Bắc nối liền với Tây Minh, Kim Hoa Giả Sơn, đỉnh chính Hoa Tỉnh Sơn cách mặt nước biển 1098m, là những cội nguồn của Phật giáo nước ta. Thiên Đài Sơn có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Lạc Hàn Lĩnh, Thác Sơn, Hồ Thép Ban, động Lưu Nguyễn, động Ngọc Kinh, Phúc Thành Quan, Di Thành Sơn, chùa Trung Nham, động Hoàng Kinh, hồ Thanh Quán Hắc, cầu Thạch Giếng rửa tội, chùa Quốc Thanh, suối Tích Trạng, giếng Tuyền... Tương truyền thế gia đệ tử ngũ bạch La Hán, ở Thế gia phát triển thường thường tập trung lại đàm đạo chuyện kinh phật. Tăng Tự Tây Thiên đi thuyền sắt vượt biển đến Đài Sơn, chủ trì tại chùa Phương Quảng cạnh cây cầu Thạch Kiều. Trong núi có núi La Hán, dưới núi có hồ Thiết Thuyền, lưu truyền có 500 La Hán thuyền bạc đậu trên sông. Vẫn còn có 500 hòn đá La Hán gọi là nơi La Hán dừng chân, động Vương Quỳnh tương truyền là nơi luyện đan của Phổ Nhiệm thành Nguy phu nhân. Đạo gia gọi là Thiên hạ đệ nhất động. Đài Sơn mang sâu sắc sắc thái tôn giáo, có rất nhiều truyền thuyết kì diệu kể về nơi này, vì thế đặt tên con là Thiên Đài, có hàm ý về Thần Tiên kỳ bí. Ví dụ: lấy tên Thiên Đài Sơn - đỉnh cao nhất đặt tên cho con, Trương Hoa Đỉnh. Những người họ Hoa có thể gọi là Hoa Đỉnh Phong lấy tên Động Ngọc Quỳnh đặt tên cho con, Lý Ngọc Quỳnh, lấy tên chùa Bạch Nham đặt tên như Phan Bạch Nham.
Miên Bình Sơn còn được gọi là Thanh Long Sơn nằm về phía Nam thành phố Cảng Liên Vân tỉnh Giang Tô, cự ly so với mặt biển là 427m. Triều Thanh Khang Di Trung Châu tuân lệnh vua thu về Miên Ly Bình nên đã đổi tên núi là Miên Bình Sơn. Miên Bình Sơn có các danh lam thắng cảnh như: bức tượng đá Tôn Vọng Sơn, Thạch Băng Sơn Đề Khắc... Thời Xuân Thu, Chiến quốc, hiện nay là thuộc tỉnh Sơn Đông, tương truyền Tôn Tử ở trên núi học tập, khi đã thành đạt thường ngồi trên núi nhìn vọng ra biển. Núi này nối liền với núi Tôn Vọng Sơn thuộc về phía Tây nam của tỉnh Giang Tô, Tôn Vọng Sơn là một đỉnh của ngọn Miên Bình Sơn, trong núi đá có tượng đá từ đời Hán, những bức tượng Phật đứng, Phật ngồi — truyền rằng đây là cái nôi nghệ thuật điêu khắc đầu tiên của nước ta. Miên Bình Sơn có ý nghĩa về văn hoá rất sâu sắc. Cái tên Miên Bình nghe rất hay, thích hợp với tên của con gái. Ví dụ: Vạn Miên Bình, Hán Miên Bình...
Tiên Hoa Sơn: Núi Tiên Hoa Sơn nằm ở phía Bắc thành phố Phố Giang thuộc Tỉnh Triết Giang. Còn được gọi là Tiên Cô Sơn. Núi có 5 đỉnh cao nhất là thiếu nữ cao hơn 800 m. Tương truyền thiếu nữ Can Viên đắc đạo định ở đây. Trong núi có đều Can Cô, Tiên Hoa Quan. Tiên Hoa Sơn là nơi thiếu nữ Can Viên đắc đạo, đương nhiên cái tên này thích hợp với con gái. Ví dụ: Trương Tiên Hoa, Châu Tiên Hoa...
Tiên Đô Sơn, Kim Hoa Sơn và Nhan Thang Sơn: mượn tên núi đặt tên con
Tiên Đô Sơn: Tiên Đô Sơn tên cũ là Phổ Vân Sơn. Trên núi có kỳ phong dịch thạch, động thương gia cổ... Tiên Hoa Sơn có các danh lam thắng cảnh như đỉnh hồ phong, bộ hư phong, động vinh long, động tiên thuỷ... Theo ghi chép của "sử ký - Phong Đan Thư". Hoàng đế chọn động trên núi là thành đô, đỉnh núi như rồng đang đón chào hoàng đế. Tương truyền Hoàng đế luyện đá Vân Đàng, luyện đan phát hiện ra những đám mây màu tím, màu hồng. Vì thế đặt tên cho núi là Tấn Vân Sơn (Tấn tức là tím lụa hồng). Trên núi có đỉnh hồ phong, còn gọi là Ngọc Trụ Phong, đỉnh cao 168 m, giống như măng mùa xuân mọc rất nhanh. Thời nhà Đường dưới đỉnh có Tiên Đô Quan, có Lý Dương Băng đề chữ "Hoàng Đế Từ Vũ" về sau người ta xây dựng một cái đình Bộ Hư, leo lên đỉnh có thể nhìn thấy núi Tiên Đô.
Núi Sơn Đô có tên từ thời Đường. Theo "Đô Kinh" ghi chép lại "Đường Thiên Bảo ngày 3/6 năm thứ bảy trong đám mây trên đỉnh núi vang lên tiếng nói của Tiên nữ, chim công múa uyển chuyển, thiên nga bay lượn, từ đó liền đổi tên cho núi. Xung quanh Tiên Đô Sơn theo truyền thuyết là nơi hoàng đế lên trời, thần tiên tụ họp. Điều này khiến cho Tiên Đô Sơn mang đầy vẻ bí ẩn. Lấy tên ngọn núi này thì cũng có cảm giác bí ẩn ấy. Lưu Tần Vân, cũng có thể lấy tên Tiên Đô Sơn hay Đỉnh Hồ Phong đặt tên cho con cái. Ví dụ: Vương Đình Hồ.
Kim Hoa Sơn: Nằm ở phía Bắc thành phố Kim Hoa tỉnh Triết Giang. Đỉnh núi cao so với mặt nước biển là 1312 m. Tên cũ còn gọi là Đạo Gán Danh Sơn. Kim Hoa Sơn có những danh lam thắng cảnh như: động Kim Hoa, Ngoạ Dương Sơn, Nham Tử Vi, hồ Tử Cung... Động Kim Hoa Sơn còn gọi là động Danh Kim Hoa, ngày nay là tam động Kim Hoa Sơn, tương truyền là nơi người Tùng Tử tự hoá, đạo Thủ gọi là 63 động thiên, được gọi là động Kim Hoa Viên Chi Thiên.
Ngày nay rất nhiều người đặt tên là Hoa, nhưng tên là Kim Hoa thì lại rất ít. Bởi vì về mặt chữ nghĩa mà nói, Kim Hoà hay Hoa đặt bên cạnh nhau có vẻ như không thông lắm, nhưng điều hàm ý của Kim Hoa Sơn, đặt tên là Kim Hoa thì có ý nghĩa rất sâu sắc. Ví dụ: Châu Kim Hoa, Tào Kim Hoa.
Nhan Thang Sơn: Núi Nhan Thang nằm ở phía Đông Nam tỉnh Triết Giang, vượt qua Đài Châu, Ôn Châu. Qua 2 thành phố có ranh giới là dòng sông Ẩn, nhân ra thành hai ngọn núi, Nhan Thang Sơn Bắc và Nhan Thang Sơn Nam. Núi có những cảnh đẹp nổi tiếng, những danh lam thắng cảnh được công nhận là di tích lịch sử quốc gia chủ yếu tập trung ở Miền Bắc huyện Lạc Thanh. Đỉnh núi cao nhất so với mực nước biển là 1057m. Núi có các danh thắng như: Hồ Nhan, cầu Tiên nhân, núi Bạch thạch, động Kim trúc, đình quanh bao, động quan âm, chùa linh phong... Nhà du lịch Hồ Hà Khách đời Minh đã 2 lần đặt chân trên núi Nhan Thang, viết tác phẩm nổi tiếng như: "Từ Hà Khách Du ký, nhan ký du ngoạn Nhan Thang Sơn." Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp mê hồn nơi đây với những bậc lên núi màu vàng tím trong động có nguồn nước suối trong lành... Cảnh đẹp kỳ vĩ của Nhan Thang Sơn trong lịch sử đã được các văn nhân nhắc đến, ghi chép không ít trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến tác phẩm "Du Nhan Thang Sơn Nhật Ký" của Từ Hà Khách. Tác phẩm đã được lưu truyền rất rộng, từ đời này sang đời khác. Đặt tên con là Nhan Thang để ghi khắc về một danh lam thắng cảnh của đất nước thật có ý nghĩa biết bao. Ví dụ: Dương Nhan Hồ, Trần Long Hương.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
