Bài tổng quan
Khí phách trong tên con trai và những danh nhân cùng họ
La Thành, danh tướng đời Đường, đặt tên con trai là La Tiêu — một cái tên khiến người nghe cảm giác có luồng khí bay tận chín tầng mây. Nhưng không phải chữ nào ghép vào cũng suôn sẻ: tên Lý Chấn Nguy nghe oai phong, ai ngờ chữ Nguy đi kèm lại mang nghĩa giả dối…
Khí phách trong tên con trai
Trong số những tên của người Trung Quốc, có rất nhiều tên rất có khí chất nam nhi. Ví dụ: Lôi (sấm), Tráng (cường tráng), Phi (bay), Hải (biển), Thạch (đá), Mãnh, Dũng, Uy, Võ, Thiên, Hào (hào kiệt), Hùng, Xung (khoẻ mạnh), Chấn (chấn động), Bưu (cọp con), Lỗi (lỗi lạc), Tiêu (bầu trời), Hiệp (nghĩa hiệp), Ngang (hiên ngang)... Những từ này dùng rất xác đáng, có thể làm cho tên gọi có khí phách. Dưới đây là một vài ví dụ về những tên có dùng những từ trên:
Tiêu: La Tiêu. Thời Đường danh tướng La Thành có con trai tên là La Tiêu. Tên này làm cho người ta có cảm giác có một luồng khí cao tận chín tầng mây.
Tráng: Điền Tráng, có một vị đạo diễn danh tiếng ở Trung Quốc, chỉ cần nghe tên này là biết ông là một trang nam tử cứng cỏi.
Xung: Lâm Xung là một hảo hán trong "Thuỷ Hử" là giáo đầu của 80 vạn cấm quân. Từ "Xung" trong tên này, đã đủ nói lên tính cách của vị giáo đầu này.
Phi: Mã Vân Phi. Ngựa chạy dưới mặt đất đã đủ nhanh, nếu còn bay trên mây, thì sẽ thành ngựa bay trên trời rồi.
Chấn: Lý Chấn Nguy. Hàm nghĩa của từ chấn rất sâu sắc, chấn động, rung động những từ này rất có khí phách, trong tên mà có từ Chấn, cũng có nghĩa bao hàm thâm ý của những từ do chữ Chấn ghép thành. Nói tên là Chấn Nguy, lại có một hàm nghĩa khác, là một vật giả dối (nguy nghĩa là giả dối. Ví dụ như: nguy biện, nguy quân tử).
Hải: Lưu Hải Khoát ("khoát" nghĩa là hào phóng). Tính tình hào phóng, khoáng đạt như biển, nhân phẩm đương nhiên là tốt, nếu tiền đồ cũng rộng mở như biển nhất định là người có đại tài.
Lỗi: Triệu Thạch Lỗi. Từ Lỗi bản thân là do từ Thạch (đá) tạo thành. Chữ Lỗi do bốn chữ Thạch tạo thành, nhất định là cứng cỏi không ai bì được. Một người con trai cứng cỏi như đá, ý chí đương nhiên rất kiên cường, nhất định là một người đàn ông có bản lĩnh.
Kiếm: Lý Tử Kiếm. Cổ nhân cho rằng: màu tím đến từ phía đông (tử: màu tím), tử khí (khí có màu tím) một loại khí đem lại vận may, thanh kiếm có tử khí đương nhiên báo hiệu một điều tốt lành.
Hiệp: Lý Thiếu Hiệp. Thời xưa chữ hiệp khách. Hiệp khách thường có võ nghệ cao cường, coi trọng nghĩa khí, có lúc dùng tấm lòng nghĩa hiệp để hình dung những người trông thấy việc nghĩa thì phải hành động. Dùng tên Thiếu Hiệp, nghĩa là từ khi còn trẻ đã có tấm lòng nghĩa hiệp (thiếu: trẻ. Thiếu niên).
Cao Thiên Thạch: Thiên Thạch có nghĩa đá ở trên trời là thần tiên, không chỉ cứng chắc mà còn có khí tiên.
Mãnh: Thiệu Mãnh. Mãnh thường dùng để hình dung sự dũng mãnh, những người đàn ông dũng mãnh thì được người khác kính phục, cũng có nghĩa là người có gan, can đảm.
Uy: Lý Mãnh Uy. Mãnh đã đủ có dũng khí rồi, lại có thêm uy phong lẫm liệt, càng có đầy khí phách nam nhi.
Bưu: Trương Bưu. Bưu bản thân là hổ con, nhưng từ Bưu luôn luôn dùng để hình dung một con người có tầm vóc cao lớn. Một con người có tầm vóc như hổ đương nhiên là có khí phách hơn người.
Ngang: Lý Tử Ngang chỉ một nhà thơ đời Đường. Ngang có thể được giải thích là cao giá, hoặc cũng có thể hiểu là hiên ngang, cũng chính là một người có dáng vẻ to lớn, hùng vĩ. Thời cổ đại gọi những người có học vấn là "Tử", ví dụ Khổng Tử, Mạnh Tử. Tử lại đứng đầu trong địa chỉ, vì thế "Tử Ngang" là người có học vấn uyên thâm, đứng ở vị trí số một, khí phách hiên ngang.
Võ: Đặng Hoằng Võ (Hoằng: lớn mạnh). Võ có nghĩa mãnh liệt, uy võ, giỏi giang, dùng chữ võ để đặt tên cho con trai, đương nhiên rất có khí phách, làm cho người ta có cảm giác về sự cường tráng, dũng mãnh.
Thiên: Vương Thiên. Có người cho rằng, dưới bầu trời chẳng ai có thể là Vương Địa vì thế người họ Vương có đủ lý do được gọi là Thiên, dù là ai đi nữa, cao nhất cũng chẳng thể cao hơn trời, to nhất cũng chẳng thể to hơn trời. Lấy "thiên" làm tên, nghĩa là cao, to, xa.
Hào: Quốc Hào, những người có tài năng kiệt xuất mới có thể được gọi là Hào. Thêm một chữ "Hào" trong tên, có nghĩa là hào phóng thẳng thắn, khí phách hào hùng, "Quốc Hào" chính là anh hùng hào kiệt của đất nước.
Hùng: Tiểu Hùng. Người có sinh lực cường tráng gọi là Hùng, như Quân Hùng Trục Lộc, thời Chiến quốc có thất hùng (bảy nước mạnh). "Hùng" nghĩa hùng vĩ, khoẻ mạnh. Trong tên có chữ hùng bao hàm nghĩa chí hướng muốn làm anh hùng hào kiệt.
Tham khảo những cái tên nổi tiếng trong lịch sử để đặt cho con trai
Ngoài việc gửi khí phách vào một chữ, người xưa còn có cách khác: mượn thẳng tên của một danh nhân cùng họ.
Tên của con trai phải có tiếng vang, có thể tham khảo tên của những danh nhân, mượn tên của họ, kính trọng con người họ, học hỏi những điều vĩ đại của họ. Lịch sử Trung Quốc có mấy ngàn năm, danh nhân nhiều đến nỗi đếm không hết, mỗi họ khác nhau đều có những bậc danh nhân.
Ngải: Hoạ sĩ thời Tống là Ngải Thục, danh tướng dưới quyền của Trương Hiến Chung đời Minh là Ngải Năng Kỳ, nhà thư pháp thời Thanh là Ngải Hiến. Triết học gia hiện đại là Ngải Tư Kỳ. An: quốc công thời Đường là An Kim Tạng. Đại học sĩ đời Nguyên là An Hiệu.
Bạch: Thi nhân nổi tiếng đời Đường là Bạch Cư Dị, văn học gia Bạch Thành Giản. Đời Nguyên có kịch gia Bạch Phúc. Đời Thanh có thư pháp gia Bạch Vân Thượng. Thời hiện đại có nhà viết kịch nổi tiếng Bạch Hạnh, nghệ sỹ nhiếp ảnh Bạch Đại Phương, võ sư biểu diễn côn ba khúc Bạch Vân Sinh, nghệ sĩ đánh đàn tì bà là Bạch Phương Nam. Ban: nhà sử học thời Đông Hán là Ban Siêu, Ban Cố.
Bao: thi nhân thời Đường là Bao Dung. Tri phủ Khai phong thời Tống được người đời gọi là Bao Chửng. Nhà văn hiện đại Bao Thiên Tiếu, biên tập viên thời sự Bao Tịnh Chi. Bổi: thư pháp gia Bổi Nghĩa Uyên thời nhà Lương. Thi nhân triều Minh là Bổi Quỳnh.
Tất: hoạ sĩ triều Đường là Tất Hồng. Đời Tống có nhà phát minh nghệ thuật ấn loát Tất Thăng. Hoạ sĩ thời Thanh là Tất Hàm. Trung tướng quân giải phóng là Tất Chiêm Vân, thi nhân là Tất Cách Phi. Biện: văn học gia thời Đông Hán là Biện Phượng. Hoạ sĩ triều Đường là Biện Văn Tiến. Thi nhân triều Nguyên là Biện Tư Nghĩa, triều Minh có hoạ sĩ Biện Văn Du.
Bá: đệ tử của Khổng Tử thời Chiến quốc là Bá Kiến. Đại phu nước Tần thời Chiến quốc là Bá Tôn. Bạc: thư pháp gia triều Nam Tống là Bạch Triệu Chi. Nhà khoa học triều Minh là Bạc Bảo. Bốc: đệ tử của Khổng Tử thời Xuân Thu là Bốc Thương, danh sĩ nước Ngô thời Tam quốc là Bốc Tĩnh. Hoạ sĩ triều Thanh là Bốc Thuấn Niên. Bộ: Thừa tướng nước Ngô thời kim quốc là Bộ Trắc.
Thái: nhà phát minh kỹ thuật làm giấy thời Đông Hán là Thái Luân. Hoạ sĩ triều Tống là Thái Nhuận, học giả Thái Thẩm. Nhà giáo dục Thái Nguyên Bồi, tiểu thuyết gia lịch sử Thái Đông, tướng lĩnh thời kháng Nhật là Thái Diên Khải, nhà côn trùng học Thái Bang Hoa, nhà nghiên cứu thực vật học Thái Hi Đào, nhà cách mạng Thái Hoà Sâm, nhà nhiếp ảnh Thái Sở Sinh.
Thương: Thái thú đất Đôn Hoàng, nước Nguỵ ở thời Tam quốc là Thương Tư. Tào: Thừa tướng thời Tây Hán là Tào Nam. Ngụy vũ đế thời Tam quốc là Tào Tháo, văn học gia Tào Phi, Tào Thực. Triều Đường có hoạ sĩ Tào Bá, tể tướng Tào Xác. Triều Thanh có văn học gia Tào Tuyết Cần, dịch giả hiện đại Tào Mạt Phong, nguyên thị trưởng Thượng Hải là Tào Địch Thu.
Sảm: triều Đường có tể tướng Sảm Văn Bản, Sảm Hi, Sảm Trường Sảnh, thi nhân Sảm Tham. Sái: triều Đường có Hoắc Quốc Công Sái Thiệu. Triều Minh có khai quốc công thần Sái Hổ. Thường: triều Đường có thi nhân Thường Kiến, triều Tống, tể tướng Thường Đình. Hiện tại có ký giả thời sự Thường Chi Thanh, trung tướng không quân giải phóng Thường Càn Khôn.
Triệu: triều Tống có văn học gia triều Đoan Lễ, Triệu Bổ Chi, Triệu Xung Chi. Xa: thời Tam quốc Thái thú Hội Kê là Xa Tuấn. Triều Đường có hoạ sĩ Xa Đạo Chính. Triều Tống có học giả Xa Nhược Thuỷ. Triều Thanh có thi nhân Xa Đỉnh Tân.
Trần: Đời nhà Tần, lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Trần Thắng. Thời Tây Hán Trần Bình, thời Tấn sử học gia Trần Thọ. Triều Đường có thi nhân Trần Tử Ngang. Triều Tống có tư tưởng gia văn học gia Trần Lượng. Triều Minh có người viết tản văn Trần Đạc, thi nhân yêu nước Trần Tử Long. Triều Thanh có triết học gia Trần Xác, tướng lĩnh quân Thái Bình Thiên Quốc Trần Ngọc Thành. Đại tướng quân giải phóng Trần Cảnh. Nguyên soái Trần Nghị, nhà lý luận kịch Trần Sấu Trúc, nhà giáo dục nhi đồng Trần Hạc Cầm.
Thành: Triều Tống, tướng lĩnh chống nhà Kim là Thành Mẫn. Triều Minh thượng thủ bộ lễ là Thành Cơ Mạng. Triều Thanh có đại hoạ sĩ là Thành Khắc Cung.
Trịnh: thời Tấn có nhà văn tự học Trình Mạc. Tướng quân Trịnh Phổ nước Ngô thời Tam quốc, triều Đường có Lỗ Quốc Công Trình Giảo Kim, triều Tống có triết học gia Trình Di, triều Thanh có tướng lĩnh hải quân Trình Bích Quang hiện đại có nghệ sĩ biểu diễn kinh kịch Trình Nghiêm Thu, nhà giáo dục Trình Tân Ngộ, nghiên cứu vật lý học thiên thể Trình Mậu Lan, nghệ sĩ biểu diễn ca khúc Trình Thụ Thương.
Chử: Triều Đường có thư pháp gia, tể tướng chử Trục Lương, triều Thanh có nhà nghiên cứu lịch thiên văn Chử Dân Lượng. Trữ: thời kỳ Chiến quốc, tướng quốc nước Tề là Trữ Tử, triều Đường thi nhân Trữ Quang Hi. Sở: triều Tống có nhà nghiên cứu thiên văn học Sở Diễn.
Thuấn Vu: thời Tây Hán có Định Lăng Hầu Thuấn Vu Trưởng, thời Nam Trần có tướng quân xa kị Thuần Vi Lượng. Thôi: triều Đường có hai người Thôi Hạo, triều Tống có hoạ sĩ Thân Bạch, hữu thừa tướng Thôi Dữ Chi, triều Nguyên có hoạ sĩ Thôi Phan Huy. Triều Thanh có học giả Thôi Thuật, hiện đại có nghệ sĩ điện ảnh Thôi Nguy.
Đới: thời Đông Tấn có hoạ sĩ Đới Quý, triều Đường có tể tướng Đới Chí Đối, hoạ sĩ Đới Tung, thi nhân Đới Thúc Luân. Triều Minh có hoạ sĩ Đới Nếu. Triều Thanh có triết học gia Đới Chấn, hiện đại nhà văn cách mạng Đới Bất Phàm, nhà thiên văn học Đới Văn Trại, thi nhân Đới Vọng Thư.
Đặng: danh tướng nước Nguỵ thời Tam quốc Đặng Ngải. Triều Tống có nhà tư tưởng Đặng Mục, triều Thanh có thư pháp gia Đặng Thạch Như, lưỡng Quảng tổng đốc Đặng Diên Trinh, tướng lĩnh yêu nước Đặng Thế Xương. Hiện đại có người làm công tác thu thập tin thời sự Đặng Thác, nhà vật lý học hạt nhân Đặng Giá Tiên, nhà nghiên cứu lịch sử Đặng Văn Như, nhà giáo dục Đặng Sơ Dân, thi nhân Đặng Quân Ngô, nhà sinh vật học Đặng Thúc Quần, nhà nghiên cứu nông học Đặng Thực Nghi.
Địch: triều Đường có danh tướng Địch Nhân Kiệt, triều Tống có khu mật sứ Địch Thanh. Điêu: triều Đường có hoạ sĩ Điêu Quang. Triều Thanh có thư pháp gia Điêu Đối Cao.
Đinh: thời Tam quốc, nước Ngô có đại tướng quân Đinh Phụng, triều Thanh có tuần phủ Sơn Đông Đinh Bảo Trinh, Bắc Dương thuỷ soái đề đốc Đinh Nhữ Xương. Hiện đại có nhà địa chất Đinh Văn Giang, kịch tác gia Đinh Tây Lâm, nghệ sĩ biểu diễn kinh kịch Đinh Thị Nga, nhà hoá học Đinh Tự Hiến.
Đông Phương: thời Tây Hán có nhà văn Đông Phương Sóc. Triều Đường có thi nhân Đông Phương Cù, Đông Phương Hạo. Đông Quách: thời Chiến quốc có danh sĩ Đông Quách Thuận Tử.
Đổng: thời Tây Hán có nhà học giả Đổng Trung Thư, triều Tuỳ có hoạ sĩ Đổng Bá Nhiệm Nhân. Triều Minh có hoạ sĩ Đổng Kỳ Xương, hiện đại có hoạ sĩ Đổng Hi Văn, nhà giáo dục Đổng Thuần Tài, dịch giả Đổng Thu Tử.
Đậu: thời Tây Hán thừa tướng là Đậu Anh, thời Đông Hán có đại tướng quân Đậu Hiến. Thời cuối Tuỳ có lãnh tụ khởi nghĩa Đậu Kiến Đức. Triều Đường có tể tướng Đậu Uy, triều Nguyên có học giả Đậu Mặc.
Đỗ: bắc Nguỵ có Hữu Đỗ Quân là Đỗ Quý, triều Tống có học giả Đỗ Úc. Đông Hán có Thái thú Nam Dương là Đỗ Thi. Triều Đường có thi nhân Đỗ Phủ, Đỗ Mục, hiện đại có nhà sử học Đỗ Cương Bạch, nhà lý luận kịch Đỗ Dĩnh Đào.
Đoàn: thời Tây Hán, đô hộ Tây vực Đoàn Hội Tôn. Phàn: triều Đường có nhà tản văn Phàn Tôn Soái, thượng thủ Bộ công Phàn Kế Tổ. Hiện đại có kịch tác gia Phàn Chung Tú.
Phạm: thời kỳ Phạm Diệp triều Tống có chính trị gia, văn học gia Phạm Trọng Yêm, thi nhân Phạm Thanh Đạt, hiện đại có nhà lịch sử Phạm Văn Lan, hoạ sĩ Phạm Tăng.
Phương: triều Tống có lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Phương Lạp, triều Nguyên có văn học gia Phương Hồi, triều Minh có văn học gia Phương Thiếu Nhữ, triều Thanh có văn học gia Phương Bao, hiện đại có tác gia Phương Ký, một trong 72 liệt sĩ đời Hoàng Hoa là Phương Thanh Đông. Nhà sinh vật học Hải Dương, Phương Tôn Hi.
Phòng: triều Đường có tể tướng Phòng Huyền Linh, thời ngũ đại có hoạ sĩ Phòng Tòng Chân. Phí: triều Minh có nhà hàng hải Phí Tín, triều Thanh có hoạ sĩ Phí Hoàn, hiện đại có nhà hoạt động xã hội Phí Di Dân.
Phùng: Đông Hán có đại tướng quân Phùng Dị. Thời ngũ đại có tể tướng Phùng Đạo, Nam Đường có tể tướng Phùng Diên Tự. Triều Minh có văn học gia Phùng Mộng Long. Triều Thanh có danh tướng Phùng Tử Tài, hiện đại có triết học gia Phùng Hữu Lan, tác gia Phùng Tuyết Phong, Phùng Ký Tài, nhà khảo cổ học Phùng Hán Ký.
Phù: Đông Hán có học giả Phù Dung, triều Tấn có tướng quân Phù Thao, triều Đường có thi nhân Phù Tái, triều Thanh có thi nhân Phù Tăng. Phục: Đông Hán có học giả Phục Vô Ky. Phú: triều Tống có tể tướng Phú Bật.
Phó: Tây Hán có Dương Lăng Hầu Phó Khoan, nghĩa Dương Hầu Phó Giới Tử, triều Đường có Tiết độ Sứ Phó Lương Bật, triều Thanh có thư hoạ gia Phó Sơn, hiện đại có hoạ sĩ Phó Bão Thạch, dịch giả Phó Lôi, nhà ngôn ngữ học Phó Tư Niên, nghệ sĩ dương cầm Phó Thông.
Cam: thời kỳ Chiến quốc có nhà thiên văn học nước Tề là Cam Đức. Tây Hán có danh tướng Cam Diên Thọ. Đông Hán có sứ thần ngoại giao Cam Anh, thời Tam quốc có danh tướng Cam Ninh của Đông Ngô, triều Tống có thi nhân Cam Vịnh.
Can: thời xuân thu có danh gia đúc kiếm là Can Tướng. Tây Tấn có nhà văn sử học Can Bảo. Triều Nguyên có thượng thư bộ lễ Can Văn Truyền, triều Minh có đôn ngộ sứ Can Giai.
Cao: thời Đông Hán có học giả Cao Dụ, triều Tuỳ có tể tướng Cao Dĩnh, triều Đường có thi nhân Cao Thích, triều Nguyên có hoạ sĩ Cao Khắc Cung, triều Thanh có hoạ sĩ Cao Kỳ Phục, hiện đại có thi nhân Cao Sĩ Kỳ, nghệ sĩ biểu diễn kinh kịch Cao Bách Thế.
Cốc: triều Nguyên có thi nhân Cốc Trí Chương, triều Thanh có học giả Cốc Dục, Cốc Than. Qua: triều Minh có hoạ sĩ Qua Sán, triều Thanh có thi nhân Qua Đào, hiện đại có thi nhân Qua Bích Chu.
Cát: Đông Tấn có nhà y học Cát Hồng. Bắc Nguỵ có lãnh tụ khởi nghĩa Cát Vinh, triều Tống có hoạ sĩ Cát Thủ Xương, triều Nguyên có danh y Cát Càn Tôn, chuyên gia cáp điện Cát Hoà Lâm.
Cái: Tây Hán tướng nước Tề là Cái Công, Đông Hán An Bình Hầu là Cái Diên. Triều Đường nhà nho là Cái Văn Đạt, thời ngũ đại hậu Đường có thái phó Cái Ngu.
Cảnh: Đông Hán có danh tướng là Cảnh Cung. Triều Tống có lãnh tụ nghĩa quân Cảnh Kinh, triều Thanh có Tịnh Nam Vương là Cảnh Trọng Minh, Cảnh Tinh Chung.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
