Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Kinh Thi, Sở Từ và Lý Bạch trong kho tên thơ cổ

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202612 phút đọc0 lượt đọc
Kinh Thi, Sở Từ và Lý Bạch trong kho tên thơ cổ

Một cặp chim trống mái ríu rít bên bờ sông trong bài Quan Thư mở đầu Kinh Thi đã trở thành cái tên của biết bao đứa trẻ hai nghìn năm sau; Khuất Nguyên cưỡi rồng xanh du ngoạn tiên cảnh trong Thiệp Giang, còn Lý Bạch một đêm say rượu dưới hồ gương lại để lại cho hậu thế cả một kho tên đẹp như thơ. Người xưa tin rằng tên một người chính là tên một bài thơ, mang theo trọn vẹn ý thơ của nó…


Từ Kinh Thi đến Sở Từ: nguồn tên xưa nhất của thơ ca Trung Hoa

Tìm tên hay trong bài thơ cổ là một phương pháp hay để đặt tên cho con cái mình, có rất nhiều tên của những danh nhân được tìm ra từ trong thơ ca cổ. Chuyên gia nổi tiếng "Sở Từ", Giáo sư Văn Hài Sa – tên của ông cũng bắt nguồn từ bài thơ "Hoài Sa" trong "Sở Từ". Nếu tên một người là tên của một bài thơ, vậy trong tên của anh ta đã có ý thơ rồi. Dùng từ trong thơ ra để đặt tên, đương nhiên là cũng có nội dung tiếp cận kẽ của thơ. Thơ cổ Trung Quốc rất nhiều, từ đó ta có thể tìm ra không ít tên. Tác giả muốn độc giả tham khảo một số tên ông đã tìm được từ trong thơ ca cổ.

Bài thơ đầu tiên (Quan Thư) trong tập thơ Kinh Thi:

"Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yếu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu."

(bài thơ diễn tả cảnh vui vầy của chim trống và chim mái bên bờ sông. Trong bối cảnh đó, người quân tử cũng đang sánh cùng cô gái thảo hiền). Có thể lấy tên bài thơ "Quan Thư" để đặt tên.

Ca dao "Cổ đại" có bài "Kích nhưỡng ca" có đoạn:

"Mặt trời mọc đi làm; mặt trời lặn nghỉ ngơi, tạo nguồn nước mà uống, trồng trọt mà ăn, hoàng đế có gì hơn ta!"

Ta có thể đặt tên bằng tên bài thơ này là Kích Nhưỡng. Ví dụ: Trần Kích Nhưỡng, mang ý nghĩa người có tên như vậy thì cuộc sống nhàn nhã, chẳng phải lo toan vất vả gì.

Bài "Bách châu" trong Kinh Thi có câu: "Trái tim tôi không phải là đá nhưng không gì lay chuyển nổi. Uy nghi sừng sững, chẳng thể tách rời". Tên của bài thơ này cũng có thể dùng đặt tên. Ví dụ: Vương Bắc Châu, hàm ý chỉ nội dung có trong bài thơ, không nhụt chí, không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào.

Bài "Cảnh hành" trong Kinh Thi có câu: "Đứng lại nhìn núi cao, dừng chân ngắm cảnh đẹp, tình cờ gặp gỡ nên duyên mới…". Lấy hai chữ "Cảnh hành" để đặt tên. Ví dụ: Lý Cảnh Hành, nghĩa là đường lớn, ngẩng nhìn núi cao, đi đường lớn, hành vi quang minh chính đại.

Bài "Thạc Nhân" trong Kinh Thi: "Tay như mầm non, bụng như lưng ong, cổ như tằm nhộng, răng như hạt bầu, mày tằm mắt phụng, cười tươi mắt sáng". Có thể lấy hai chữ "Thạc Nhân" của bài thơ này để đặt tên. Ví dụ: Trương Thạc Nhân. Đọc lên ta biết ngay là tên con trai, miêu tả con người có tính cách trượng phu, cử chỉ nghĩa hiệp.

Bài "Hạc Minh" trong Kinh Thi có đoạn "Hạc kêu ở gò, tiếng kêu sao hoang dã. Cá lặn dưới dòng sâu. Nhạc vui trong vườn, bạn hữu đàn ca". Đầu đề của bài thơ này có thể dùng đặt tên. Ví dụ: Vương Hạc Minh. Chủ đề bài thơ này rất giàu tính triết lý, nó hàm chứa cách trọng dụng người tài, cho ta kinh nghiệm tốt tiếp thu ý kiến người khác để phát huy bản thân. Dùng đề mục bài thơ để đặt tên.

Bài "Quất tụng" của Khuất Nguyên thời Chiến quốc: "Hoàng hậu có cây quất đẹp. Tuổi thọ không dài, đến từ nước Nam. Rễ khó lay càng thêm chí. Lá xanh đầy vinh quang, mọi người đều thích". Bài thơ này có thể dùng những tên sau để đặt: Gia Thụ, Nghi Tu, Tự Thận, Thừa Đức. Ví dụ:

Phạm Gia Thụ: Gia Thụ nghĩa trong bài thơ là cây quất do trời và đất sinh ra.

Đồng Nghi Tu: Nghi Tu nghĩa trong bài là phong độ hào hoa.

Lưu Tự Thận: Nghĩa của Tự Thận là cẩn thận tự trọng.

Triệu Thừa Đức: Nghĩa của Thừa Đức là phẩm hạnh trong sáng.

Trong bài thơ "Thiệp Giang" của Khuất Nguyên có đoạn: "Khi trẻ thì kì phục, lúc già tinh thần lại không nhu nhược. Cưỡi Thanh Cù du ngoạn, cưỡi Thanh Cù ngoạn…". Từ trích đoạn thơ này có thể đặt tên là Thanh Cù, hai chữ Thanh Cù có khởi nguồn từ bài thơ này, nghĩa là con rồng mà Khuất Nguyên cưỡi khi du ngoạn tiên cảnh. Vì vậy sinh vào tuổi rồng, nếu lấy chữ Long làm tên, có thể dễ bị trùng tên, nên lấy tên là Thanh Cù thì sẽ không bị trùng. Cho đến nay có thể nói là chưa có ai trùng tên với ông. Âm "Cù" xét về mặt ngữ âm thì vẫn chưa phải là hay, lý tưởng.

Trùng Hoa là biệt hiệu của vua Thuấn, lấy biệt hiệu của vua Thuấn làm tên, chí khí của người này không phải là nhỏ. Ví dụ: Vương Trùng Hoa. Dao Uyển là vườn có trồng những cây ngọc, đây thật là một nơi tiên cảnh. Lấy nơi tiên cảnh làm tên đương nhiên là tên rất có ý nghĩa.

Nhạc phủ đời Hán và thơ Nguỵ Tấn: chinh nhân biên tái, ẩn sĩ lánh đời

Cổ từ dân ca nhạc phủ có bài "Ẩm mã trường thành vi hành" có đoạn viết:

"Hai bên bờ sông xanh xanh, con đường xa như được thêm gần. Đường xa chẳng dám nghĩ chuyện mơ được về nhà. Quê người như chuyện lạ. Trằn trọc chẳng thể gặp gió thổi qua bãi cỏ, trời lạnh sâu lòng biển. Ai dám chắc sẽ nói được với nhau…"

Bài thơ này có các từ như sau: Thiên Phong, Tố Như. Ví dụ: Trương Thiên Phong, Vương Tố Như. Ý của từ Thiên Phong rất dễ lí giải, nhưng nghĩa của từ Tố Như thì lại phức tạp, vì từ Tố Như này trong bài thơ có nghĩa là bức thư gửi từ phương xa tới. Từ tầng hàm nghĩa này, hai chữ Tố Như thích hợp với tên con gái hơn.

Nguỵ Minh Đường – danh tướng đời Đường có bài "Nguyệt Trọng Luân Thành": "Thiên địa vô cùng, cuộc sống con người có hạn. Lập công nơi chiến trường, chiến công tại cung tên…. đạt được đạo trung". Có thể chọn hai từ Nguyệt Trọng trong bài làm tên. Cổ nhân lấy việc trọng ánh sáng của mặt trời, coi trọng vòng chu kỳ luân chuyển của mặt trăng để ví với bậc đế vương có đức. Vì thế lấy tên là Nguyệt Trọng, như: Vương Nguyệt Trọng…

Triều Tấn có Đào Uyên Minh với bài "Độc Sơn Hải Kinh" miêu tả chim Tinh Vệ ngậm một cành củi nhỏ để lấp biển. Thật là có ý chí kiên cường. Đồng loại thì vô lo, chỉ mình đi lấp biển, chẳng tiếc chi công mình. Bài thơ này có từ "hình thiên". Theo ghi chép của Sơn Hải Kinh, "hình thiên" là một loại thú, nó đã từng muốn tranh thần với ngọc hoàng. Đào Uyên Minh trong bài thơ này đã tán dương "Hình thiên" có chí lớn kiên cường. Dùng hai chữ "Hình thiên" làm tên chính có ý như thế, như: Lưu Hình Thiên…

Ở đời Tống, Bao Chiếu có bài "Đại xuất tự ngư bắc môn hành" có viết: "Đứng bên bờ rũ lông, ánh mặt trời chiếu tới thành Hàm Dương… khiến ta nhớ về nhau. Hai bầy nhạn bay qua, như nhắn gửi tin gì? Gió lạnh thổi qua, cát bay bụi ngập trời, lông ngựa xù như nhím, cung tên không thể giương, một lòng vì nước (nguyên âm Hán Việt là "thần tiết")…". Từ bài thơ này có thể chọn tên là Nhạn Hành, Túc Cổ, Thần Tiết. Ví dụ:

Triệu Nhạn Hành: Nghĩa của từ Nhạn Hành là chim nhạn bay theo đàn, nghĩa trong bài thơ là khi quân đội hành quân, giống như những con chim nhạn bay theo đội hình rất chỉnh tề, thể hiện ý chí hiên ngang…

Nguyễn Túc Cổ: Túc Cổ có nghĩa là quân nhạc.

Trương Thần Tiết: Nghĩa của Thần Tiết là tiết tháo chung trinh vì nước của bậc đại thần.

Ở thời Nam Bắc triều, nước Lương, Lưu Bân Nhàn có bài thơ "Bách thiệt" (tạm dịch là cây trước cửa): "Cây trước cửa đâm chồi. Gió thổi ngát hương đào, tiếng chim truyền cành, bỗng nghe tiếng sáo Sơn Dương, tiếng sáo như làm cây phải rụng lá, buồn thay… Lòng chăm trú lắng nghe, tâm trạng chẳng viết được thơ, bèn vội ghi lại vài lời…". Bài thơ này có thể chọn "Dương Địch, Tân sinh", như:

Phạm Dương Địch: Từ "Sơn Dương Địch" trong bài có nghĩa từ một điển cố thời Tấn, mặt hướng về ngọn núi nơi đã từng có người bạn tốt sống ở đó, nghe thấy tiếng sáo từ xa vọng lại làm lòng mình cảm thấy nhớ bạn. Bài thơ tán dương sơn dương địch (tiếng sáo ở ngọn núi) nghe vừa thanh cao vừa mơ mộng. Lấy Dương Địch làm tên, ý là giọng nói có thể hay như tiếng sáo kia làm cảm động lòng người.

Lư Tân Sinh: Chữ Tân Sinh trong bài thơ là lấy từ điển cố "Liệt Tiên Truyền". Tương truyền Chu Linh Vương có thái tử vương tử Kiều thích thổi sáo, tiếng sáo phát ra tiếng kêu của chim phượng hoàng khi ông đi du ngoạn. Trong bài thơ tán dương tiếng sáo lạc kêu làm cho đám mây xuân tan tác, làm chấn động những cây xuân. Lấy Lạc Âu làm tên, hàm ý tới điển cố này.

Nam Triều nước Lương có Vương Tịnh viết bài "Mập Nhược Châu Phù": "Nước chảy cuồn cuộn, ánh chiều tà ở nơi viễn sơn, tiếng chim kêu càng thêm u tịch. Vì thế càng nhớ quê". Bài thơ này có thể chọn: Nhược Châu, Viễn Sơn làm tên. Ví dụ:

Lưu Nhược Châu: Nhược Châu trong bài thơ nói về chân núi Nhược ở Thiệu Hưng tỉnh Triết Giang, lấy Nhược Châu làm tên có nghĩa là lấy núi Nhược làm tên.

Lưu Viễn Sơn: Viễn Sơn là ngọn núi ở nơi xa.

Sang tới đời Đường, một mình Lý Bạch đã để lại cho kho tên thơ cổ một khoảng trời riêng, từ hồ gương dưới trăng đến rượu ngon chờ bạn hiền.

Lý Bạch: núi tuyết Hoàng Hà, hồ gương ánh trăng và rượu ngon chờ bạn hiền

Trong tuyển tập "Mộng du thiên Lão kinh lưu biệt" của Lý Bạch đời Đường có viết:

"Mây trời sông nước rộng mênh mông, tôi hỏi lòng mình qua sóng nước, mộng tôi được chiếu giữa hồ gương. Bóng nguyệt in hình tôi dưới nước. Sáng ngắm mặt trời mọc. Vắng trong không trung tiếng chim trời…"

Các từ trong bài như Kính Hồ (mặt hồ trong như gương phản chiếu), Hồ Nguyệt (mặt trăng in dưới hồ), Diêm Khê (suối nhỏ), Ỷ Thạch (đá dựng) trong bài thơ này có thể lấy để đặt tên. Ví dụ:

Lý Kính Hồ: Kính Hồ ở thành phố Triệu Hưng tỉnh Chiết Giang, người lấy Hồ đặt tên lòng dạ rộng rãi.

Triệu Hồ Nguyệt: Hồ Nguyệt có nghĩa là trăng ở trong hồ nước, ánh trăng bạc đổ xuống mặt nước hồ thu hút như thơ như hoạ.

Lưu Diêm Khê: Diêm Khê một huyện ở thượng du sông Tào Nga tỉnh Chiết Giang, chữ Diêm phát âm là "shàn" dùng để đặt tên nghe rất hay.

Chương Ỷ Thạch: Ỷ Thạch trong thơ có nghĩa là hoa dựa vào đá cuốn hút, chính là bị cuốn hút bởi hoa và đá. Trên thực tế từ "Ỷ Thạch" phải là tư thế dựa vào đá, tên này mang tính chất ẩn dụ dựa vào núi với tư thế kiên cường.

Lý Bạch trong bài "Hành lộ nan" viết: "Rượu ngon nghìn chén bát ngọc vạn tiền, nâng chén thêm sầu càng sầu thêm. Muốn qua sông Hoàng Hà, phải vượt qua núi tuyết. Đường đi sao mà khó, biết nghỉ ngơi chốn nào?". Bích Khê, Vân Phàm trong bài thơ này có thể đặt tên. Ví dụ:

Chu Bích Khê: Ý nghĩa bóng câu Bích Khê trong thơ là Thái công buông câu ở bên dòng suối, Chu Văn Vương đi săn ở bên ngoài dã ông, liền mời ông đến giúp quản lí đất nước.

Hà Vân Phàm: Ý nghĩa của Vân Phàm giống như thuyền buồm trắng, chỉ sự thành đạt trong cuộc sống sau này.

Lý Bạch trong "Giang thượng ngâm" viết: "… rượu ngon chờ bạn hiền. Tiên nhân cưỡi hoàng lạc, lữ khách đi xa nhớ hải âu trắng". Những tên có thể dùng để đặt tên trong bài thơ này là Sa Đường, Ngọc Tiêu. Ví dụ:

Lâm Sa Đường: Sa Đường là một loại cây, theo truyền thuyết cổ đại, người sau khi đã ăn quả Sa Đường có thể xuống nước mà không chết chìm.

Trương Ngọc Tiêu: Ngọc Tiêu là một loại nhạc cụ đẹp đẽ.

Trong bài "Cổ phong", Lý Bạch viết: "Hoa xen vào đá, người nhìn ánh sao đêm. Mời tôi tới đài mây, cùng thưởng thức hoa uống rượu…". Các từ có thể lấy đặt tên ở bài thơ này là: Thái Thanh, Tử Minh. Ví dụ:

Lý Thái Thanh: Ý nghĩa của từ "Thái Thanh" là bầu trời.

Lý Tử Minh: Ý nghĩa của từ "Tử Minh" chính là bầu trời cao màu tím, người xưa cho rằng các khí màu tím là cái sự may mắn, do đó bầu trời cao màu tím là sự tượng trưng cho sự may mắn.

Bài thơ "Tiễn người Dương Sơn về Tung Dương" của Lý Bạch: "Tôi có vạn nhà cỏ, ở đỉnh Ngọc Nữ, Tương Dương. Giữ lâu dài một tháng nghe tiếng suối chảy (nguyên âm Hán Việt đọc là "khê tùng"), lúc nhàn đi hái cỏ Tử Nhung…". Các từ có thể lấy đặt tên trong bài thơ này là: Tung Dương, Khê Tùng, Tử Nhung. Ví dụ:

Cát Tung Dương: Tung Dương là tên một địa danh, trong đó có đỉnh Ngọc Nữ, theo truyền thuyết đây là nơi mà thần tiên ở.

Lưu Khê Tùng: Khê Tùng là dòng suối chảy mãi không ngừng, bầu bạn với cây tùng quanh năm xanh tốt.

Phạm Tử Nhung: Tử Nhung là hoa xương bồ màu tím, một loại cỏ quý hiếm chỉ mọc ở cõi tiên, chữa được nhiều bệnh.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế