Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Những cái tên độc đáo khiến người xưa khó lòng trùng lặp

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202618 phút đọc2 lượt đọc
Những cái tên độc đáo khiến người xưa khó lòng trùng lặp

Có người đổi hẳn tên mình thành Quan Kính Đào chỉ để bày tỏ tình yêu với vợ là Đào Tiểu Đào. Có người lấy chữ Ngã soi vào gương mỗi ngày để tự nhắc mình đừng nhuốm bùn nhơ. Và có nhà văn suốt đời gánh trên vai hai chữ Tự Thanh, chỉ để không hổ thẹn với chính cái tên của mình…


Từ họ Ngã đến họ Tả: tên tham khảo theo dòng họ

Ngã: Tây Hán có lỗ hầu là Ngã Khuyên, thành thang hầu là Ngã Ý, thời bắc Nguỵ có đại tướng quân Ngã Cân, triều Đường có trung thủ sá Nhân Ngã Đầu, triều Thanh có hoạ sĩ Ngã Đào. Tây Môn: Thời Tam quốc có đại phu Tây Môn Báo, triều Đường có thị lang sách trung uý Tây Môn Tiết Huyền. Tịch: Bắc Nguỵ có cố Quang Lộc đại phu Tịch Phác Hữu. Tây Nguỵ có lục kỳ đại tướng quân Tịch Cổ. Triều Đường có thượng thư Tịch Dự, triều Tống có đại học sĩ Tịch Đán, triều Thanh có tướng lĩnh Tịch Bảo Hiến.

Hạ: Đông Hán có hiệu uý Hạ Dục, triều Tống có tể tướng Hạ Xương Triều, triều Minh có thượng thư Hạ Nguyên Cát, tể tướng Hạ Ngôn, thi nhân Hạ Hoàn. Hạ Hầu: Tây Hán có thái bảu Hạ Hầu Oanh, thời Tam quốc nước Nguỵ có đại tướng Hạ Hầu Uyên. Triều Tấn có văn học giả Hạ Hầu Thâm, hoạ sĩ Hạ Hầu Dự, triều Tống có nhà tứ Phú Hạ Hầu Gia Chính. Hường: Thời Tam quốc nước Thục có trung lãnh quân Hường Sủng. Triều Tấn có triết học gia — văn học gia Hường Tú, triều Tống có tể tướng Hường Mẫn Trung.

Hạng: Thời Chiến quốc nước Sở có đại tướng Hạng Yến, Tây Sở vương là Hạng Vũ. Triều Đường có thi nhân Hạng Tư, triều Minh có thượng thư Hạng Chung, hoạ sĩ Hạng Thanh. Túc: Thời Tây Hán có thừa tướng Túc Hà, thời Nam triều nước Tề có quốc quân là Túc Tạo Thành, nước Lương có quốc quân là Túc Quản, văn học gia Túc Thông. Triều Đường có tể tướng Túc Chí Trung, Túc Cao, tản văn gia Túc Khoảnh Sĩ, triều Thanh có hoạ sĩ Túc Vân Tòng, thái bình thiên quốc tây vương Túc Triều Quý. Hiện đại có tác gia Túc Sơn, nhà giáo dục âm nhạc Túc Hữu Mai, hoạ sĩ Túc Long Sĩ, nhà trung y dược học Túc Long Hữu.

Tạ: Tây Hán có Trương Dương hầu là Tạ Quân, Đông Tấn có tể tướng Tạ An, đô đốc Tạ Thạch, danh tướng Tạ Huyền. Nam Triều nước Tống có văn học gia Tạ Linh Vận. Triều Tống có văn học gia Tạ Phòng Đắc. Triều Minh có văn học gia Tạ Tấn. Hiện đại có nhà lịch sử học Tạ Quốc Trinh, nhà nghiên cứu hầm mỏ Tạ Gia Vinh, nhà tâm lý học Tạ Thuần Sợ. Giải: Triều Tấn có thứ sử Ung châu là Giải Hệ, Triều Tống có thượng tướng quân Giải Huy. Triều Minh có học giả Giải Phổ. Tân: Thời Tây Chu có thái sử là Tân Giáp. Tây Hán có tả tướng quân Tân khách Ky. Triều Tống có từ nhân Tân khí Tật. Triều Thanh có hoạ sĩ Tân Khai.

Tú: Bắc triều có nhà tư tưởng Tú Viên Triều. Đường có tể tướng Tú Văn Vĩ. Triều Thanh có nhà sử học Tú Tạ. Hùng: Triều Tấn có sở nghĩa để là Hùng Tâm. Triều Hán có kỳ đô uý Hùng Kiều. Triều Tấn có Thái thường Liễu Hùng Viễn. Triều Minh có tiểu thuyết gia Hùng Đại Mục, danh tướng Hùng Bật thượng thư Hùng Văn Xán. Triều Thanh có văn học gia Hùng Bá Long, chuyên gia tư tưởng sử cổ đại Hùng Thập Lực, nhà toán học Hùng Khánh Lai, nhà giáo dục hí kịch Hùng Phật Tây. Tu: Thời Chiến quốc nước Nguỵ có đại phu Tu Giả. Triều Hán có lục lương hầu Tu Vô.

Từ: Thời Tam quốc có danh tướng Từ Hoảng, Từ Thịnh. Thời Ngũ đại có hoạ sĩ Từ Hy, nhà văn tự học Từ Khải, nhà khoa học Từ Quan Khải, nhà lữ hành Từ Hà Khách. Hiện đại có nhà giáo dục thể dục Từ Nhất Băng, thi nhân Từ Trì, Từ Chí Ma, nghệ sĩ đàn kinh kịch Từ Lan, nguyên soái quân giải phóng Từ Hải Đông, nhà trung y học Từ Thực, nhà giáo dục Từ Đắc Lập, hoạ sĩ Từ Bi Hồng, nhà y học Từ Bưu Nam, nhà văn học Từ Gia Thuỵ, nhà lý luận hý khúc Từ Mô Văn. Hứa: Đông Hán có văn học gia Hứa Thần, nhà thuỷ lợi Hứa Dương. Thời Tam quốc nước Nguỵ có danh tướng Hứa Trúc, triều Đường có tể tướng Hứa Kính Tôn, thi nhân Hứa Hồn. Triều Tống có hoạ sĩ Hứa Đạo Ninh. Triều Nguyên có danh y Hứa Quốc Vi, triều Thanh có học giả Hứa Tôn Bách, tác gia Hứa Đại Sơn, nhà kinh tế học Hứa Điều Tân, nhà giáo dục Hứa Sùng Thanh.

Tuyên: Triều Minh có Trung thư xá nhân Tuyên Tự Tôn. Tuyển: Triều Tuỳ có thi nhân Tuyển Đạo Hoành. Triều Đường có danh tướng Tuyển Nhân Quý, tể tướng Tuyển Nguyên Siêu, hoạ sĩ Tuyển. Triều Tống có tể tướng Tuyển Cứ Chính, thư pháp gia Tuyển Thiệu Bành. Hiện đại có nghệ sĩ diễn kịch Tuyển Giác Tiên, kịch tác gia Tuyển Ân Hậu. Tuấn: Thời Chiến quốc có nhà tư tưởng Tuấn Hướng. Đông Hán có nhà sử học Tuấn Siru, Bắc Tề có trung Thư đại lang Tuấn Sĩ Tôn.

Yến: Triều Hán có Nghi Thành Yến Thương, Bắc Nguỵ có Trấn Viễn tướng quân Yến Phong thái thú ở Hà Nội là Yến Sùng. Triều Tuỳ có đại tướng quân Yến Vinh. Triều Tống có hoạ sĩ Yến Văn Quý, tiết độ sứ Yến Đạt. Nhan: Đệ tử của Khổng Tử là Nhan Uyên. Triều Hán nước Tống có văn học gia Nhan Diên Chi. Bắc Chu có văn học gia Nhan Chi Thôi. Triều Đường có nhà sử học Nhan Sư Cổ, nhà thư pháp Nhan Chân Khanh. Triều Thanh có nhà tư tưởng Nhan Nguyên. Dương: Bắc Nguỵ có tướng quân Dương Cố. Nam Triều nước Tống có thư pháp gia Dương Hân.

Đào: Nam triều nước Tề có danh tướng Đào Bình Trọng, phó tể tướng Đào Hi Đắc. Triều Minh có thái tử thiếu sư Đào Quảng Hiếu. Hiện đại có nhà mục lục học Đào Danh Đạt. Diệp: Triều Đường có tể tướng Diệp Thường Cao, nhà hý khúc Diệp Hiến Tổ, Diệp Thời Chương. Triều Tống có nhà tư tưởng Diệp Thích. Hiện đại có tác gia Diệp Tử, nhà lý luận văn nghệ Diệp Dĩ Quần, nhà giáo dục mĩ thuật Diệp Đồng, nghệ sĩ biểu diễn kinh kịch Diệp Thịnh Lan, Diệp Thịnh Chương, nhà luyện kim học Diệp Trứ Thị, nhà trung y học Diệp Hi Xuân.

Y: Triều Đường có Hữu Vệ thượng tướng quân Y Thuận. Triều Thanh có thư pháp gia Y Thứa. Dị: Bắc Tống có hoạ sĩ Dị Nguyên Cát, đại lý thừa Dị Diễn Khách. Triều Minh có học giả Dị Dực Chí. Ấm: Nam Triều nước Lương có Thứ sử Ấm Từ Xuân, nước Trần có văn học gia Ấm. Ân: Đông Tấn có đô uý Ân Hạo, Ân Trọng Kham, nhà văn học Ân Trọng Văn. Triều Đường có hoạ sĩ Ân Trọng Dung. Triều Minh có học giả Ân Khôi. Triều Thanh có thư hoạ gia Ân Văn Lâu. Hiện đại có nhà ngôn ngữ học Ân Mạnh Luân. Ấn: Triều Tống có Bộ Hộ Đại Lang Ấn Ứng phi.

Châu: Thời Chiến quốc nước Tề có chính trị gia Châu Kỷ, nhà triết học gia Châu Diễn, Tây Hán có nhà văn Châu Dương. Triều Tống có phó tể tướng Châu Ứng Long, triều Minh có học giả Châu Lượng. Triều Thanh có hoạ sĩ Châu Nhất Quế. Hiện đại có nhà mĩ thuật Châu Nhã, nhà côn trùng học Châu Chung Lâm, ký giả thời sự Châu Dao Phán. Tổ: Đông Tấn có danh tướng Tổ Mão, Bình Tây tướng quân Tổ Ước, Nam Triều nước Tề có nhà khoa học Tổ Xung Chi. Triều Đường có thi nhân Tổ Vịnh. Tả: Đông Hán có thượng thư lệnh Tả Hùng. Thời Tam quốc nước nguỵ có nhạc sĩ Tả Diên Niên. Triều Tấn có nhà văn Tả Tư. Triều Minh có đại sư Tả Lương Ngọc. Triều Thanh có Đông các đại học sĩ Tả Tôn Thường.

Những cái tên độc đáo đáng học hỏi trong cả danh nhân xưa lẫn người hiện đại

Tên đẹp hay dở không nằm ở việc chọn họ nào, mà ở cách ghép chữ.

Trong số những danh nhân được kể tên ở trên có thể dễ nhận thấy có tên của một vài danh nhân rất đáng tham khảo, ví dụ: Triều Minh có danh tướng Ngãi Nãng Kỳ, cái tên này rất có đặc điểm "Năng" và "Kỳ" đều là những từ mà hiện nay người ta ít dùng để đặt tên, nếu dùng tên này để đặt thì rất khó bị trùng tên. Hơn nữa từ "Năng" và "Kỳ" trong tên này khi đặt liền nhau, cảm giác đầu tiên mà nó đem lại là người có tài năng kỳ lạ xuất chúng.

Triều Thanh có nhà thư pháp Bạch Vân Thượng. Tên này có đặc điểm thứ nhất là nghe hay, đọc lên cũng thuận miệng. Hiện nay người tên là Bạch Vân có nhiều, nhưng chưa nghe thấy ai là Bạch Vân Thượng, từ "Thượng" đặt sau từ "Vân" nghĩa của nó thực ra đã đủ thấy cao, bởi vì "Thượng Vân" có nghĩa là mây ở trên cao.

Triều Minh có nghệ nhân trứ danh Liễu Kính Đình. Tên này cũng đáng để nghiên cứu. Dùng từ "Kính" để đặt tên rất có hàm ý sâu sắc. Tiểu thuyết "Dã Hoà Xuân phong đấu cổ thành" có một người tên là Quan Kính Đào, anh ta vì muốn biểu thị tình yêu của mình với người vợ là Đào Tiểu Đào mà đổi tên thành Quan Kính Đào, từ đó ta có thể thấy hàm ý đặc sắc của việc dùng chữ "Kính" để đặt tên.

Triều Tống có nhà lý học Lục Cửu Uyên, tên của ông dùng chữ "Cửu" và "Uyên" rất đắt. Đạo gia lấy chữ "Cửu" cao nhất, trong khi đó hàm ý của chữ Uyên là rộng và sâu. "Cửu Uyên" bao hàm tri thức uyên bác mà lại cao ngất. Triều Thanh có tuần phủ Giang Tô là Mạc Thiên Nhan. Tên này rất có khí phách, ông là dung nhan của trời, trời như thế nào thì ông cũng như thế, rất có khí lớn.

Triều Đường có nhà nghiên cứu chữ cổ là Nhan Sư Cổ. Tên này ông có thể nói rất khác với mọi người. Tên của ông không phải để biểu hiện bản thân mà ông dùng tên để biểu thị sự khiêm tốn của mình. Ông lấy cổ nhân làm sư phụ, nghiên cứu cổ văn, chả trách ông đã làm được.

Triều Minh có hoạ sĩ Ư Trúc Thất, tên của ông thật tuyệt diệu không còn lời nào để tả, văn nhân thì thích viết về Trúc, hoạ sĩ thích vẽ về Trúc. Lấy "Trúc" làm tên có thể mượn cái nghĩa khí quân tử của cây Trúc, lại lấy "Thất" làm tên thì thật là ít gặp. Trúc Thất có thể lý giải là: phòng thanh nhã của người văn nhân hào hoa. Trong "Hoàng Phong Trúc Lâu ký" có miêu tả Trúc Lâu như sau: mùa hạ khi có mưa to, có thể nghe như tiếng sấm rền, mùa đông tuyết rơi dày nghe như tiếng ngọc vỡ.

Triều Đường có tể tướng trưởng tôn Vô Kỵ. Tên của ông cũng thật thanh nhã. Vô Kỵ có nghĩa là không đố kị, một người không đố kị chắc chắn sẽ vô lo nghĩ, vô ưu vô lụy. Triều Minh có Đông các đại học sĩ Lũng Thư Chính, nghe tên ông người ta có cảm giác đây là một học giả, chữ Thi trong tên ông nghe rất nhã, chữ Chính nghe rất kỳ lạ, triều Minh mặc dù không phải là thời kỳ thi từ thịnh hành, nhưng thi và văn là một hình thức nghệ thuật quan trọng tồn tại, phát triển và được mọi người vô cùng yêu thích. Lấy hình thức nghệ thuật được mọi người yêu thích làm tên, thì chắc chắn ông sẽ được người khác yêu thích.

Trong số tên của những người hiện nay, có tên của một vài người còn hay hơn cả cổ nhân, cũng rất đáng tham khảo. Ví dụ: tên của tác gia hiện đại Bao Thiên Tiếu. "Thiên" vẫn là một từ có khí phách, hơn nữa chữ "tiếu" đặt trong tên cũng là một từ thanh nhã, "Thiên" và "tiếu" kết hợp lại, khiến ta hình dung một con người hào phóng.

Tác gia hiện đại Trần Tử Cổ, đều dùng những từ rất bình thường nhưng khi nghe tên thì lại có cảm giác hiếm thấy, đây chính là chỗ cao tay khi đặt tên, có vẻ như rất bình thường nhưng thực tế lại độc nhất vô nhị, rất đặc sắc. Từ Tử là từ rất thường dùng, "Cổ" cũng chẳng có hàm nghĩa gì đặc biệt, nhưng khi hai từ này hợp lại, thì lại không tầm thường chút nào. Từ chiếm vị trí đầu trong địa chi, trước đây những trang nam nhi có học vấn được gọi là "Tử" ví dụ như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử, chữ Cổ bình thường có thể lý giải là cổ đại hoặc niên đại đã có từ lâu. Từ và Cổ đặt kết hợp với nhau, ý nghĩa có vẻ như con người có học vấn, có tri thức phong phú.

Tác gia hiện đại Bắc Bình, chữ Bình trong tên ông dùng rất đắt, chữ Bình nếu không biết dùng sẽ dễ rơi vào tầm thường, bị trùng lặp ví dụ như: Ngọc Bình, nhưng Bắc Bình thì lại không thế, vì chữ Bắc dùng để đặt tên không nhiều. Điều này cũng nói lên dùng từ phương vị kèm với từ Bình là có thể. Đông Bình, Nam Bình, Tây Bình đều có thể dùng để đặt tên vừa hay vừa cao nhã.

Hiện đại có bác sĩ trung y Mạch Đạm An, điều ông mưu cầu là sự an ninh và thanh đạm. Trong tên có chữ Đạm, ý là không muốn bon chen, không tham danh lợi, đây chính là con đường đem đến sự an ổn cho con người. Hiện đại có nhà công thương nghiệp, dùng chữ "Ngẫu" để làm tên, Ngẫu là ngó của hoa Sen, hoa Sen sống trong bùn nhưng không hề bị vẩn đục (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn), hơn nữa ngó hoa Sen lại ngập trong bùn, không có ngó Sen dám vùi mình trong bùn làm một anh hùng vô danh, thì lấy đâu ra sự nổi tiếng cho hoa Sen. Từ đó có thể thấy, ngó Sen so với hoa Sen còn vĩ đại hơn nhiều.

Hiện đại có tác gia Nhiếp Cam Nỗ, cái tên này nghe rất nho nhã, kỳ thực tên này có âm thanh chữ Cam chỉ màu đen pha đỏ, Cam thanh chính là từ trong màu đen nổi rõ màu đỏ nhưng Nỗ lại là một loại cung tên. Cam Nỗ có nghĩa là nỏ cứng có màu đen pha đỏ là một loại vũ khí rất lợi hại.

Hiện đại có nhà giáo dục Đào Hành Tri, ông là một người luôn mong muốn có tri thức, cổ nhân nói: "đi một ngày đàng, học một sàng khôn", nếu muốn đạt được càng nhiều tri thức, một nhân tố quan trọng là phải đi nhiều để học hỏi, hiện đại cũng có một cách nói: "những trang sách là do đôi chân viết ra". "Đôi chân" ở đây chính là sự đi nhiều. Chỗ kỳ diệu của tên ông chính là nằm ở chữ Hành.

Hiện đại có hoạ sĩ Tiêu Long Sĩ, ông lấy chữ Long làm tên, nhưng lại không có từ tu sức cho chữ Long này mà lại thêm chữ "Sĩ" đặt đằng sau, chính là trực tiếp có ý "tôi là người có những phẩm chất của rồng", phương pháp đặt tên trực tiếp kiểu này, càng có thể biểu hiện tính cách của mình. Hiện đại có nhà y học là Tiêu Long Hữu. Ông không biểu hiện trực tiếp như Long Sĩ "tôi là rồng" mà ông lấy rồng làm bạn (chữ "hữu" có nghĩa là bạn bè).

Hiện đại có thi nhân Du Thủ Phách, tên của ông đặc biệt ở chữ "Phách" — thi nhân luôn là người lãng mạn, chữ "phách" chính là một chữ biểu thị sự lãng mạn đó, có nghĩa là cảnh tượng đứng ở bờ sông nhìn ra xa nghe tiếng sóng vỗ. Chủ tịch trước đây của tỉnh Phúc Kiến là Tăng Kính Băng, tên của ông rất đắt ở chữ "Kính". Chữ Kính dùng để đặt tên rất ít, hơn nữa có rất nhiều cách giải thích về chữ này, cách giải thích phổ biến nhất là trong câu hoành phi "minh kính cao thuyền" treo ở nha môn trước đây, chữ "minh kính" tượng trưng cho sự thanh liêm, chính trực của người làm quan. Sau chữ "Kính" có chữ "Băng", có nghĩa là tấm gương trong sáng tựa như băng, đó chính là sự thanh khiết khó so bì.

Hiện đại có tiểu thuyết gia Trương Hận Thuỷ, tên này lấy trong hai chữ của câu từ do Chu Lí Dục người đời hậu Nam Đường viết: "Tự thi nhân sinh trường hận thuỷ" có nghĩa là mối hận trong lòng thi sĩ trào như nước. Dùng hai chữ "hận thuỷ" làm bút danh, ngoài ý nghĩa trong câu từ của Lý Dục ra, có vẻ như còn hàm nghĩa phong phú khác. Xét về mặt con chữ, ông có thể dùng chữ "hận" để đặt tên, ít ra cũng có thể biểu thị rõ mình là người dám yêu dám ghét, cái tên này có thể làm cho người ta khi đã nghe thì không quên.

Tướng lĩnh hồng quân là Chu Duy Quỳnh. Hai chữ "Duy Quỳnh" đã đi làm người ta phải suy nghĩ, xét về mặt con chữ Quỳnh khiến ta hình dung ra đôi mắt rất trong sáng. Duy có nghĩa là duy trì, kết hợp hai chữ lại có nghĩa là duy trì đôi mắt luôn trong sáng. Phương pháp đặt tên chú trọng vào đôi mắt sáng rất đáng để chúng ta tham khảo. Đương nhiên đó không thể chỉ là chú trọng đôi mắt sáng mà còn có thể nói lên tính cách, phong độ, tài trí...

Hiện đại có tác giả tản văn Chu Tự Thanh, ông đã viết một bộ "Hà Đường nguyệt sắc" nổi tiếng, từ bộ tản văn này, không khó nhận thấy hàm nghĩa của tên ông "Tự Thanh". Một người khi đặt tên, nếu có nguyện vọng hoặc chí hướng gì đều muốn thể hiện nó qua tên mình và mong muốn cho cái tên đó xứng đáng với nguyện vọng chí hướng của mình, nhưng để đạt được như thế cũng không phải là một chuyện dễ làm. Hơn nữa mình phải làm thế nào để không hổ thẹn với cái tên đó, đó lại là một chuyện khó hơn, nhưng Chu Tự Thanh đã làm được điều đó — tên của ông được độc giả yêu quý.

Hiện đại có nhà phiên dịch Chu Hải Quan. Tên của ông có vẻ như có hai tầng hàm ý, một là "Quan Hải" ý đối diện với biển lớn, "Hải Quan" còn có nghĩa là quan niệm lớn lao như biển rộng. Biển có khí phách to lớn. "Chu Hải Quan" tên này hàm ẩn khí phách đó.

Tác gia viết câu đối Chu Kính Ngã, tên của ông kì diệu ở chữ "Ngã". Dùng kính (gương) để soi mình, thật là có hàm ý sâu xa. Người ở trong gương là người như thế nào? Chắc chắn không phải là người đầu bạc mặt đen, nếu không thì đã không dám dũng cảm đối diện với cái gương, tên này có tác dụng nhắc nhở ông trong suốt cuộc đời. Ông sẽ luôn luôn soi mình trong gương để tự kiểm tra, đánh giá, xem mình có bị nhuốm bùn nhơ không?

Hiện đại có nhà lịch sử học Vu Tỉnh Ngộ. Chữ Tỉnh là tỉnh ngộ, chữ Ngộ nghĩa là bản thân mình. Tên này có vẻ hàm chứa ý nghĩa luôn luôn tỉnh ngộ. Điều đáng học ở cái tên này là sự thoát tục của việc dùng đặt tên, Vu Tỉnh Ngộ từ trước tới nay ít có vì thế khó mà bị trùng tên.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế