Bài tổng quan
Gốc gác họ tên người Trung Quốc và chuyện mê tín
Một viên cảnh sát hộ tịch từng nhận điện thoại của một người tự xưng tên là Hà Thủ Ô, cứ ngỡ mình nghe nhầm sang một vị thuốc Bắc. Một nữ ký giả đưa danh thiếp ghi tên Lộ Trần, khiến người đối diện thắc mắc sao không gọi thẳng là Đại Phong cho oai. Đằng sau những cái tên trớ trêu ấy là cả một lịch sử dài của họ, tên, tự, hiệu…
Từ họ Trương, Vương, Lý đến tự và hiệu
Nghiên cứu lịch sử phát triển của danh tính rất có lợi cho việc đặt tên cho con. Tên người là dấu hiệu đại biểu cho con người, mỗi người có một tên đó sẽ đại diện cho người đó, nhưng trên thực tế, dù là người Trung Quốc hay người nước ngoài, đều không phải chỉ có một cách xưng hô. Ở một số nước, tên người tạo thành bằng cách ghép tên của bố và tên của mình. Tên người Trung Quốc lại càng phức tạp, bao gồm nội dung họ, tên, tự, hiệu, hơn nữa do lịch sử Trung Quốc lâu đời, ở mỗi một thời kỳ lịch sử, cách xưng hô tên người lại một khác.
Trước tiên hãy nói về họ. Họ của người Trung Quốc đã có từ lâu, có câu nói rằng, "5000 năm trước những người cùng họ là một nhà", kỳ thực không phải như vậy, nghe nói khởi nguồn của họ là họ Phục Hi. Theo cách nói như thế, danh tính đã có lịch sử 5000 năm rồi. 5000 năm trước những người có cùng họ là người một nhà. Tên họ nguyên thuỷ có lẽ là của bộ tộc, sau này có một vài bộ tộc phát triển, dân số tăng, phân hoá thành nhiều bộ lạc khác nhau, từ đó tên họ cũng nhiều hơn. Từ xưa tới nay, những họ mà người Trung Quốc vượt quá con số 8000. Họ có thể phân thành họ lớn và họ nhỏ. Họ lớn chiếm tỉ lệ rất lớn trên số dân Trung Quốc, chủ yếu có 5 họ: Trương, Vương, Lí, Triệu, Lưu. Họ nhỏ có rất nhiều, theo như ghi chép gần đây nhất, có khoảng 2000 họ.
Khởi nguồn của mỗi họ đều giống nhau, ví dụ họ Trương, tương truyền người phát minh ra cung tên, tên là Huy, vì thế ông được phong là Cung Chính (quan giám quản việc chế tạo), ông chuyên chế tạo cung tên, được ban thưởng họ Trương, vì chữ trương có hình tượng một giương cung tên ngắm bắn. Theo thống kê, những người có họ Trương là đông nhất, chiếm hơn 10% tổng số dân. Họ Vương khởi nguồn từ thời Tiền Tần. Thời Tiền Tần con cháu vua thường xưng là vương tử, vương tôn, con cháu đời sau của họ có không ít người tự gọi là Vương Thị (người có họ Vương). Ví dụ như Vương Tử thời nhà Thương là Tỉ Lan, Vương Tử thời nhà Chu là Tấn, Vương Tử Tín Lăng Quân của nước Nguỵ thời Chiến quốc là Vô Kỵ, hàng tế Vương là Diễn Kỉ... đều có con cháu tự xưng là Vương Thị, phân ra làm nhiều chi họ khác, họ Vương sau này trở thành một trong những họ lớn ở Trung Quốc. Họ Lí có khởi nguồn từ chức quan đại Lí (quan tư pháp), thời vua Nghiêu, Cao Dao đảm nhận chức vụ quan đại lí, sau này con cháu của ông kế tục chức vụ này, liên tục qua 3 đời Ngu, Hạ, Thương, được người ta gọi là họ Lí. Thời cuối đời nhà Thương, một người họ Lí là Lí Vi đắc tội với Trụ Vương, bị Trụ Vương xử tội chết, vợ của Lí Vi là Khiết Thị đem con trai là Lợi Trinh trốn ở nhà cũ của Y Hầu. Hai mẹ con không có tiền, không có thức ăn, may mà đã có rất nhiều cây lê (cây lê có tên gọi là Lí) đang vào lúc quả chín. Hai mẹ con ăn lê để chống đói, nhờ vậy mới có thể sống sót. Lợi Trinh không dám mang họ Lí (Lí có nghĩa là chân lý) mà phải đổi thành họ Lí (Lí có nghĩa là cây lê). Họ Lí cũng là một những họ lớn ở Trung Quốc.
Người Trung Quốc ngoài họ tên còn có tự, hiệu... Theo quy tắc của nhà Chu, khi sinh con trai, thì do người cha đặt tên (danh), sau khi trên 20 tuổi có thể đặt tự. Tự còn được gọi là biểu tự, nó là biệt danh đặt cho người đó dựa vào ý nghĩa của tên người, có lúc để gọi một cách tôn kính, người ta gọi đó bằng tự chứ không gọi tên. Ví dụ tự của Tào Tháo là Mạnh Đức, mọi người đều gọi ông là Tào Mạnh Đức. Hiệu là một cách gọi khác ngoài tên, thường có sắc thái nghệ thuật của những tài tử danh nhân tự đặt cho mình, gọi là nhã hiệu (cách gọi tao nhã). Ví dụ Đào Uyên Minh có hiệu là tiên sinh Ngũ Liễu vì bên cạnh nhà ông có năm cây liễu, nên ông lấy hiệu là Ngũ Liễu, người đời sau viết truyện về ông, đặt tên sách là "Ngũ Liễu tiên sinh truyện". Tô Thức có hiệu là Đông Pha, người đời gọi rất tao nhã.
Người ta sau khi chết còn có tên cúng, đó là cách gọi mà người đời sau đặt cho một người dựa vào những sự tích về người đó khi còn sống, đó có ý nghĩa khen chê tuỳ theo lúc sống người đó làm được những gì. Ví dụ chữ Tuyên trong tên của vua Tề (Tề Tuyên Vương), chữ Trang trong tên của vua Sở (Sở Trang Vương), chữ Văn trong Hán Văn Đế, chữ Võ trong Hán Võ Đế. Chữ Lịch trong Chu Lịch Vương, chữ Dạng trong Tuỳ Dạng Đế. Huý hiệu của hoàng đế sau khi được quan lễ đặt, phải báo với hoàng đế đương triều phê chuẩn. Huý hiệu của đại thần do triều đình phong tặng, ví dụ huý hiệu của Gia Cát Lượng là "Trương Võ", Trương Phi có huý hiệu là "Võ Mục". Cũng có tên huý riêng, ví dụ tên huý riêng của Đào Uyên Minh là Tĩnh Tiết, tập văn của ông được gọi là "Đào Tịnh Tiết".
Hoàng đế còn có miếu hiệu, để phụng bái tại thái miếu, lập ra một hiệu riêng gọi là tổ, tông. Ví dụ Đường Cao Tổ, Đường Thái Tông... Từ thời cuối nhà Thanh, có một vài người khi viết bài đăng trên báo, tạp chí, không muốn dùng tên thật, tự đặt cho mình một bút danh, sau một thời gian dài người ta quen dùng bút danh của người đó để gọi. Ví dụ Chu Thụ Nhân, bút danh là Lỗ Tấn, qua một thời gian, mọi người đều gọi ông Lỗ Tấn, vì thế tên thật của ông ít được gọi và ít được biết đến.
Tên gọi mang dấu ấn vùng miền và thời đại
Một cái họ có thể kể lại gốc gác một dòng người, và một cái tên cũng có thể kể lại năm tháng người đó chào đời.
Tính địa phương của tên họ
Do tên họ có khởi nguồn ở những khu vực khác, vì thế tên họ có tính địa phương, đặc biệt là tính địa phương của những họ ít phổ biến càng biểu hiện rõ. Ví dụ ở Vân Nam, Đại Lí có người họ Đoàn, họ Du có rất nhiều ở Quảng Đông, khu vực Bắc Kinh có nhiều họ Quý, ở khu vực Hồ Bắc, Quảng Đông có họ Khu, họ Mạc có ở khu vực Hà Bắc, Sơn Đông, những người họ Kim, họ Phác đa số sống ở khu vực người dân tộc Tiên ở Đông Bắc. Đôi khi nếu biết họ của một người nào đó, có thể đoán ra quê quán của người đó. Đặc điểm về tính địa phương của tên họ, cho tới ngày nay vẫn còn tồn tại.
Cách đặt tên theo từng thời đại
Việc đặt tên của người Trung Quốc có đặc điểm thời đại rõ nét, những cái tên được đặt ở những thời kì lịch sử khác đều do người đặt gửi gắm lí tưởng và mong muốn của mình trong đó. Trước thời giải phóng, không ít người mong muốn có một cuộc sống dư dật, đều đặt tên cho con mình đại loại như Phúc, Phát Tài, Bảo Phước. Những người sinh ra vào thời chống Mỹ, giúp Triều Tiên, không ít người có tên là Viện Triều. Ví dụ Lý Viện Triều, Triệu Viện Triều. Thời đại nhảy vọt, nhà nước đã đưa ra mục tiêu sản lượng gang thép phải vượt Anh quốc, đuổi kịp Mỹ, vì thế có một vài người đã đặt tên cho con là Siêu Anh. Trong số những bạn học thời trung học của tôi, có một người tên là Trần Siêu Anh, một người tên là Phạm Siêu Anh, còn có người tên là Diệu Tiến (nhảy vọt). Trương Diệu Tiến, Lí Diệu Tiến, những người có tên như thế nhiều nhan nhản, chỉ cần nghe cũng biết họ sinh ra vào năm 1958.
Thời kì đại cách mạng văn hoá, không ít trẻ sơ sinh được đặt tên là Văn Cách, vận động viên bóng bàn nổi tiếng Mã Văn Cách của Trung Quốc có lẽ cũng sinh ra vào thời này. Thời kì này màu đỏ đang là màu thịnh hành, một vài tổ chức quần chúng đều có tên kèm chữ Hồng, ví dụ Hồng vệ binh, Hồng tiểu binh, Hồng tiêu binh... Có nhiều người không thể cưỡng lại sự cám dỗ của chữ Hồng, cũng đặt tên cho con mình có mang chữ Hồng, một thời những cái tên như Trương Hồng, Lí Hồng, Vương Hồng nhiều vô kể. Một người bạn của tôi vốn tên là Bạch Bạch, sau thời kì đại cách mạng văn hoá, đã đổi tên thành Vĩnh Hồng, từ màu trắng chuyển sang màu đỏ. Sau đại cách mạng văn hoá, nghe nói cô ấy lại đổi tên cũ, từ màu đỏ chuyển về màu trắng. Sau thời đại cách mạng văn hoá, tham gia quân đội, giúp đỡ quân đội trở thành một thời thượng, vì thế người ta lũ lượt đặt tên con có chữ Quân những tên như Trương Quân, Lí Quân trở thành một trong những tên quen thuộc nhất.
Khi họ Mãn phải đổi sang tiếng Hán
Có những cái tên không đổi theo thời cuộc, mà đổi hẳn theo một dân tộc.
Họ của những người dân tộc Mãn luôn luôn không chỉ dừng ở một chữ, gọi tên rất dài, vì thế từ thời nhà Thanh, người dân tộc Mãn bèn dịch họ của mình sang tiếng Hán, từ đó xuất hiện họ dân tộc Mãn dịch sang tiếng Hán. Quý tộc Mãn Châu có tám thế gia lớn, thế nhưng có nhiều cách gọi khác nhau. Thời vua Quang Tự, nhà Thanh, tiến sĩ Kế Xương cho rằng, trong tám họ lớn phải là Quan Nhị Giai là người đời sau của Trực Nghĩa công phí Anh Đông. Họ Nữ Hô Lộc là người đời sau của Hồng Nghi Công Ngạch Xích Đồ, Họ Nạp Lạp là người đời sau của Diệp Hách Bối Lạc Cẩm Đài, họ Đống Ngạc là người đời sau của Ôn Thuận Công Hà Hoà Lí, họ Mã Giai là người đời sau của Văn Tương Công Đồ Hải, Y Nhĩ Căn Giác La là người đời sau của Mãn Tráng Công An Phí Cổ, họ Huy Phát là người đời sau của Văn Thanh A Lan Thái. Thời cuối nhà Thanh, tiến sĩ Tùng Sùng Di lại cho rằng, 8 họ lớn ở Mãn Châu là: Nữu Hộ Lộc, dịch sang tiếng Hán là Lang, họ Qua Nhĩ Giai dịch sang tiếng Hán là Quan, họ Thư Mục Lỗ dịch sang tiếng Hán là Thư, họ Na La (phân thành Na La Diệp Hách và Na La Huy Phát), dịch sang tiếng Hán là Bát Thường, họ Hàn Nhan dịch sang tiếng Hán có lúc là Vương có lúc là Kim, họ Phước Sát dịch sang tiếng Hán là Phú, họ Mã Giai dịch sang tiếng Hán là Mã.
Hiện nay dân tộc Mãn đã bị Hán hoá, không biết họ Mãn của mình là gì, nên họ không hiểu biết một chút gì về cách đặt tên con cháu theo cha ông ngày xưa.
Những cái tên trớ trêu
Không phải cái tên nào cũng may mắn như người đặt ra nó mong muốn.
Tên của con người rất kỳ lạ, tên như thế nào cũng có. Chẳng ai dám nói rằng mình đều biết những từ dùng để đặt tên, ví dụ như có một vị cảnh sát già làm ở phòng hộ tịch của Sở công an thành phố, quản lý hộ tịch suốt mấy năm trời, nhưng có nhiều lúc gặp một chữ lạ trong tên lại phải tra từ điển, có những tên ngay cả trong từ điển cũng không có, đó là những chữ do người ta tự đặt ra.
Có một vài người tên của họ làm cho người ta thấy buồn cười. Từng có một thi nhân gọi điện đến cho tôi, bảo tên là Hà Thủ Ô, tôi cho rằng mình nghe lầm, thầm nghĩ tên của ông ta tại sao lại là một vị thuốc Bắc? Nhưng ông ấy nói đúng là tên ông ta như vậy.
Có một lần, một vị ký giả của đài truyền hình Trung ương đưa cho tôi danh thiếp tên ở trên danh thiếp là Lộ Trần (bụi đường). Tôi cứ suy nghĩ cô ta là bụi đường? Trước đây tại sao không gọi là Đại Phong (gió lớn) cơ chứ.
Có một nữ sĩ tên là Lục Hải Không, người đến tìm cô để liên hệ công tác có lúc hỏi nhỏ: "Người ta tại sao cứ gọi chị là Lục Hải Không thế?"
Tôi có một người bạn họ là "Tâm", tên là Triệu, một lần có một người gọi điện cho anh ấy, bảo "Alô, có phải là thầy giáo Triệu Tâm không?". Hoá ra người đó gọi nhầm tên thành họ.
Ở một trường đại học, có một người đặt tên cho con là H, lúc đăng ký hộ khẩu cảnh sát khu vực nói rằng không được dùng bằng chữ cái La tinh, sẽ mang lại phiền phức cho công tác quản lý, nếu không thì hãy phiên âm chữ H sang tiếng Hán vì thế tên thành "Ái ngật" (thích ăn).
Có người tên là Hạ Đại Vũ, khi anh ta làm thư ký ở toà án Triều Dương, một lần khi bắt đầu phiên toà, đọc tên những người công tác tại phiên toà: "Thư ký: Hạ Đại Vũ (đổ mưa to)", những người dự phiên toà ngồi dưới cảm thấy rất kỳ lạ "Hôm nay chẳng lẽ không phải là ngày đẹp trời à?"
Vì sao danh tính học duy tâm chỉ là trò lừa gạt
Và cũng chính vì tin vào những cái tên, không ít người đã phải trả giá.
Hiện nay ở một số quầy sách xuất hiện một số sách nói đến mối quan hệ giữa tên người và số mệnh, nội dung của những quyển sách này đều nói về việc tên người có quyết định từ vận mệnh con người như thế nào. Đặt tên gì để có thể làm quan, phát tài. Đặt tên gì thì có thể gặp rủi ro, thậm chí tên không hay còn có thể khắc chồng. Những quyển sách này còn giới thiệu dùng tên để đoán số phận của con người như thế nào, dạy người ta thông qua những loại suy luận bát quái nào để đặt tên cho con v.v... Những loại sách có tính mê tín dị đoan này có hại không nhỏ đối với xã hội.
Trong con mắt mọi người, danh tính học có tính duy tâm là một kiểu lừa gạt, kiểu lý luận lấy tên người để dự đoán tương lai hoàn toàn là lý luận lừa gạt. Nếu tên của một người có thể quyết định được vận mệnh của người đó, tiền đồ của người đó, thế thì rất nhiều người coi trọng trong việc đặt tên nhưng vận mệnh của họ mỗi một khác, thì giải thích như thế nào? Những người có tên Lý Chuẩn có hàng trăm hàng nghìn, nhưng có thể làm tác giả nổi tiếng thì chỉ có một người. Những người tên là Vương Đào, sinh cùng năm cùng tháng có hàng Vạn, nhưng có thể làm quán quân thế giới thì chỉ có một người. Đối với việc cùng tên nhưng không cùng số phận, danh tính học mang màu sắc chủ nghĩa duy tâm không có cách giải thích. Vì việc họ nói tên người có quyết định tới vận mệnh là không có cơ sở khoa học, là do họ chủ quan tưởng tượng ra. Cũng có sách lấy lý luận không có một tí căn cứ khoa học nào trong những sách mê tín dị đoan làm căn cứ để suy đoán, những loại suy đoán này đương nhiên khó tránh khỏi sai lầm.
Danh tính học có tính chủ nghĩa duy tâm, những người sáng suốt sẽ cảm thấy rất hoang đường nhưng trong mắt những người hồ đồ, có vẻ như là một loại linh đan, một loại thuốc kỳ diệu. Tôi có một người bạn xem sách loại này và tin là thật, mời một thầy bói tính xem tên của anh ta có hay không. Kết quả thầy bói bảo là trong tên của anh ta có một chữ Châu, mà chữ "châu" có nghĩa là một con thuyền lá nhỏ, không làm được việc lớn, không phát tài được. Bạn tôi rất lo, tìm tôi, bắt tôi phải nhờ một người đổi tên trong hộ khẩu cho anh ta.
Tôi có một người bạn thân, chị ấy bị mắc căn bệnh nặng, vì thế đi tìm thầy bói, thầy bói đó nói rằng chị ấy bị mắc bệnh là vì tên của chị không tốt, nếu không thay tên, bệnh của chị sẽ không thể khỏi được. Chị tin là thật, bèn đổi tên. Sau này bệnh của chị vẫn không thấy biến chuyển gì tốt, thầy bói lại bảo số của máy nhắn tin của chị không tốt, không có lợi cho bệnh của chị, chị nên đổi số máy nhắn tin. Chị liền lập tức tìm máy nhắn tin có số đó, may là máy nhắn tin có số đó là của một diễn viên nữ nổi tiếng nhưng tốt bụng. Diễn viên này đã đổi số máy cho chị. Nhưng dù là đổi tên hay đổi số máy đều không phải là thứ thuốc tốt cho căn bệnh của chị, không thể trị được căn bệnh đó, chị đành phải đi bệnh viện khám bệnh. Nếu chị còn tiếp tục đi tìm thầy bói, tôi tin là càng làm trầm trọng bệnh, càng thêm bệnh, nhất là căn bệnh tinh thần.
Còn có một nữ sĩ, qua 30 tuổi vẫn chưa có mang. Chị tin vào duy tâm cho rằng mình không thể có thai là do tên không tốt, hơn nữa tên này lại còn khắc chồng, không đổi tên không được. Để chứng minh cho thành tâm đổi tên của mình, đầu tiên chị đổi bút danh trong các bài viết của mình. Nhưng sau khi chị đổi tên, chả thấy bụng mình có biến chuyển gì.
Có một nữ ký giả nổi tiếng, vì thất tình mà đi xem bói, vị thầy bói nói chị phải đổi tên, không đổi tên sẽ không tìm được người yêu, hôn nhân sẽ thất bại. Chị đến trạm cảnh sát khu vực đổi tên, nhưng cảnh sát khu vực không cho chị đổi tên. Thầy bói lại nói không đổi tên không được, phải khắc một cái phù hiệu có để tên mình định đổi. Sau đó mang phù hiệu này trên người. Vị ký giả này đúng là có đưa tôi xem cái phù hiệu mà chị đang đeo. Tôi cảm thấy chị ta khiến người khác phải thông cảm, sự bất hạnh trong khuôn mặt chị có thể khởi nguồn từ sự nhẹ dạ cả tin này. Những cô gái lương thiện là những người dễ bị bọn bất lương lừa gạt và coi là trò chơi. Tôi có lẽ không thể làm cho người này tỉnh ngộ nhưng là một cảnh sát, tôi muốn nhắn nhủ họ, danh tính học mang tính duy tâm chủ nghĩa rất có hại cho con người là những lý luận đồi bại của bọn lừa gạt.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
