Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Đặt tên con trai độc lạ, khởi đầu chọn tên con gái

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202616 phút đọc3 lượt đọc
Đặt tên con trai độc lạ, khởi đầu chọn tên con gái

Nhà lý luận kịch Trần Đình Trúc lấy tên là "Trúc gãy" — một cách đặt tên hiếm ai dám dùng. Cha mẹ đặt tên Nguyễn Hảo Vấn cho con, gửi gắm mong ước con lớn lên biết khiêm tốn, ham học hỏi. Và khi chuyển sang đặt tên cho con gái, người xưa lại có một mẹo hoàn toàn khác: tìm những chữ Hán mang bộ "nữ"…


Đặt tên con trai sao cho không đụng hàng ai

Tên của một vài người vừa nghe đã có cảm giác không giống người khác, đây chính là sự thành công trong khi đặt tên. Có một vài người thích dùng những tên phổ biến để giống người khác, có người lại thích mình không giống người khác. Thực ra trong vấn đề đặt tên, tốt nhất là không nên giống nhau. Vậy thì làm thế nào để đạt được điều này? Nói chung, chỉ cần nắm được sự kỳ diệu của chữ nghĩa là có thể đạt được hiệu quả. Ở phần trước chúng ta đã nói đến những từ phổ biến có tần suất sử dụng để đặt tên. Nếu muốn không giống tên người khác, đầu tiên nên tránh những từ đó, sau đó tìm những từ đặc biệt mà có thể dùng để đặt tên là có thể đặt được một cái tên lý tưởng. Trong số những danh nhân lịch sử, có một vài người có tên rất đặc biệt. Ví dụ.

Triều Đường có An Kim Tạng, chữ "Tạng" trong tên ông rất ít người dùng, vì thế tên của ông có thể được gọi là đặc biệt. Triều Đường có nhà văn Bạch Hành Giản, chữ "Giản" rất ít được dùng để đặt tên, hai chữ Hành Giản dùng trong tên với cảm giác khác người, hơn nữa các nét viết cũng đơn giản, không phải là những từ lạ lắm.

Đệ tử của Khổng Tử là Cúc Ngữ, chữ "Ngữ" trong tên ông được dùng rất đắt. Thường thì tên đơn gồm họ và tên ghép lại rất dễ bị trùng, nhưng vì ông dùng chữ "Ngữ" có thể nói tỉ lệ bị trùng là rất ít. Ngữ có nghĩa là nói, cái tên này có ý nghĩa thấp thỏm, hồi hộp.

Thời Xuân Thu nước Tề có đại phu Lê Di, chữ Di trong tên ông hiện nay rất ít được dùng để đặt tên. Những từ kết hợp với chữ "Di" đều là tính từ, tên của ông lại dùng mỗi chữ Di, vì thế tên ông không giống với người khác.

Triều Đường có nhà sử học Lưu Tri Kì, chữ "Kì" trong tên ông được dùng rất đặc biệt. Chữ kỉ trên thực tế chỉ một số đếm không rõ ràng (một vài), không xác định. Tên là Lưu Tri Kì có vẻ như không rõ bản thân mình có bao nhiêu tri thức, học vấn như thế nào, tri thức của bản thân có bao nhiêu cũng chỉ là một số không rõ ràng.

Hiện đại có thi nhân Lưu Bán Nông, trong tên ông có thể coi chữ "Bán" là một chữ rất đặc sắc. Trong những tên có chữ Nông, có tên là Nhất Nông, Xích Nông nhưng chưa thấy có Bán Nông. Tên Lưu Bán Nông hay nhất ở chữ Bán, đây chính là người đầu tiên dùng tên này.

Cũng thời này có tác gia Hứa Địa Sơn. Trong tên ông dùng một chữ rất bình thường nhất là chữ "Địa" nhưng lại đạt được hiệu quả cao, chữ "Địa" xuất hiện trong tên, xét về mặt ngữ âm thì có tiếng vang, lại có thể cùng với không ít chữ khác ghép lại hình thành một từ có nội hàm sâu sắc. Người tên là Sơn có không ít, nhưng người có tên là Địa Sơn thì thực là không nhiều, đây chính là chỗ kì diệu của chữ Địa.

Thời Bắc Nguỵ có tướng quân Bình Nam là Dương Phước, chữ "Phước" trong tên ông được dùng rất hay. Nghĩa của Phước là hạnh phúc, nhưng từ Phước này không phổ biến như những chữ Phúc, Thọ... mà chữ Phước được dùng trong văn viết, nên được ít người biết đến.

Nam Triều có nhà văn Đỗ Kiên Ngô. Chữ "Kiên" chính là đôi vai, chữ "Ngô" là bản thân mình, xét về mặt chữ nghĩa có nghĩa là dùng đôi vai để gánh vác mình. Trên thực tế chữ "Kiên Ngô" lại có ý nghĩa bóng, bởi đôi vai luôn khiến người ta hình dung gánh vác trách nhiệm, vậy ông gánh vác trách nhiệm gì? Sau chữ Kiên là chữ Ngô, vậy chắc ẩn ý rằng gánh vác tương lai hoặc niềm hi vọng của mọi người.

Hiện đại có nhà phiên dịch văn học là Tào Vị Phong, tên của ông nổi bật chữ "Vị", từ chữ "Vị" có nghĩa là ngọn gió tương lai, ngọn gió tương lai này như thế nào? Đương nhiên là không ai biết được, và chỉ mang hàm ý hy vọng.

Nhà lý luận kịch Trần Đình Trúc. Lấy Trúc để đặt tên là một tên rất hay, nhưng lại lấy là "Trúc gãy" làm tên thì thật là hiếm gặp.

Thi nhân Hoài Vọng Thư, hai chữ "Vọng Thư" được dùng rất đắt. Vọng có thể được giải thích là hi vọng hoặc nhìn. Thư có nghĩa bóng là mở ra. "Vọng Thư" hàm khát vọng được bày tỏ. Ba từ Hoài Vọng Thư vừa kỳ lạ mà lại không mất đi cảm giác thẩm mỹ, là một tên hay và có ý nghĩa trong số rất nhiều tên hay.

Chủ xuất bản Khổng Lánh Cảnh, chữ "Lánh" được dùng rất hay. "Lánh Cảnh" là một cảnh giới khác, nhưng cảnh giới khác đó là cái gì thì không chỉ rõ, bạn có thể tưởng tượng tuỳ thích.

Hiện đại có tác gia Lâm Đạm Thu, tên này cũng rất đẹp, chữ "Đạm" đã thể hiện ra được tính cách của con người.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Tề Quan Sơn, hai chữ Quan Sơn trong tên ông nghe rất hào hoa, không biết ông làm nghề nhiếp ảnh trước hay là có tên Quan Sơn trước. Nói tóm lại nếu ông muốn làm nghề nhiếp ảnh thì cần phải Quan Sơn (ngắm núi).

Hiện đại có nhà triết học Thang Dụng, tên của ông hay ở chữ Dụng. Dụng có nghĩa là sử dụng, dù dùng chữ này không nằm trong số những từ phổ biến, lại không có ý nghĩa kì dị.

Triều Thanh có tiến sĩ Uông Minh Linh, chữ Linh trong tên ông có thể giải thích là cái chuông, Minh Linh có nghĩa là chuông kêu. Xem ra tên của ông không có gì kì lạ, nhưng ngày xưa người ta gọi Đại diện — nơi Hoàng đế bàn nghị sự là Kim điện. Từ đó có thể nói, Minh Linh có nghĩa là tiếng Chuông trong cung điện chỉ kêu một tiếng cũng làm thất kinh người khác, cách dùng tên như thế thì quá diệu kỳ.

Đời Kim có nhà văn Nguyễn Hảo Vấn. Cha mẹ đặt tên cho ông có lẽ hy vọng ông trở thành một người hiếu học, khiêm tốn. Có người trong học tập không sợ rằng học người dưới là điều sỉ nhục, hiếu học là người hay hỏi. Có thể trở thành người hay học hỏi (Hảo Vấn), đầu tiên người đó phải là người rất khiêm nhường. Vì thế hàm ý của từ này có lẽ chính là khiêm tốn.

Hiện đại có tác gia Trương Ngã Quân, chữ "ngã" trong tên này là một từ rất hay, vì chữ ngã là đại từ nhân xưng, nói về bản thân người nói, nhưng lại dùng đại từ này để đặt tên thì có ý nghĩa gì? Có lẽ là để đạt được điều mới lạ chăng. Ngã Quân so với Hồng Quân, Ái Quân... nghe mới lạ hơn nhiều.

Hiện đại có nhà xuất bản tin tức Chu Thái Huyền. Tên của ông mới nghe đã thấy có vẻ huyền diệu. Đây có lẽ là chỗ cao tay của người đặt tên, Thái Huyền đem lại cho người nghe cảm giác mới lạ, ấn tượng sâu sắc.

Hiện đại có hoạ sĩ Vu Phi Ám, hai chữ Ám trong tên này là hai chữ rất lạ, người dùng hai chữ này để đặt tên rất ít, lại ghép hai chữ này lại với nhau để đặt tên lại càng chỉ có độc nhất. Nếu tên một người đọc lên thuận miệng, không có ý nghĩa kỳ lạ, hơn nữa lại độc nhất, thì có thể nói tên của người đó đạt được mức độ là tên hay. Đây chính là mục tiêu mà chúng ta theo đuổi khi đặt tên.

Ở trên chúng ta đã lấy ví dụ về tên của một số danh nhân, vậy thì làm thế nào để mượn tên của những danh nhân đó để đặt tên cho con mình? Phương pháp đơn giản nhất là chọn tên của những người cùng họ với mình, hoặc chọn tên của những danh nhân mà mình thích ghép với họ của mình. Ví dụ bạn họ Lý, vậy thì có thể kết hợp như sau: Lý Năng Kỳ, Lý Vân Thượng, Lý Kính Đình, Lý Cửu Uyên, Lý Thiên Nhan, Lý Sư Cổ, Lý Tượng Đấu, Lý Trúc Thất, Lý Vô Kỵ, Lý Thi Chính, Lý Tư Kỳ, Lý Thiên Liễu, Lý Tử Cổ, Lý Mộng Gia, Lý Điệp Tiên, Lý Mặc Thương, Lý Môn Tuyết, Lý Ngọc Giai, Lý Long Hữu, Lý Nguyệt Lâu, Lý Thuỷ Phách, Lý Duy Quỳnh, Lý Tự Thanh, Lý Long Sĩ v.v...

Ngoài ra, muốn đặt một cái tên không trùng với người khác cho con trai, đầu tiên phải tìm ra những chữ khác với mọi người, sau đó hợp thành những tổ hợp kỳ diệu, là có thể đạt được hiệu quả tương đối tốt. Nhưng đặt tên khác với mọi người, chú ý không nên dùng những từ quá xa lạ mà lại đạt mục tiêu kỳ lạ, không nên đặt một cái tên vừa khó nhớ vừa khó viết. Và cũng không thể vì muốn đạt mục tiêu kỳ lạ mà đặt tên có ý nghĩa kỳ dị, ví dụ thời Chiến quốc có nhà triết học Dương Chu, chữ Chu trong tên của ông rất đặc biệt, nhưng chữ Chu khi đọc lên nghe như âm "trư" (lợn), hai chữ ghép lại có nghĩa là đẹp lợn, nghĩa không hay. Còn có thừa tướng nước Tống là Ưu Tự, chữ Tự dùng rất khác người nhưng nó lại đồng âm với chữ Tử (chết), thế cho nên tên u ám. Chữ Trung Quốc rất nhiều, nhưng có thể so sánh những chữ có thể đặt tên với dân số Trung Quốc thì thế vẫn là ít. Chúng ta nên tìm cách mở rộng tầm suy nghĩ, cố gắng mất một chút thời gian công sức để tìm ra một tên hay đặt cho con.

Nói tóm lại, khi đặt tên cho con trai, tốt nhất chọn tên có tiếng vang, nhưng có thể đạt được điều đó ở nhiều phương diện khác nhau. Bạn có thể tìm một cái tên có khí phách, có thể tham khảo tên các danh nhân, cũng có thể tìm tên không giống với người khác. Chỉ cần tư tưởng được mở rộng một chút, thì việc đặt tên có tiếng vang cho con trai là việc không khó làm.

Mở đầu chọn tên con gái: mượn chữ có bộ "nữ" trong chữ Hán

Với con gái thì câu hỏi khác hẳn: làm sao để cái tên của con gái đẹp như chính ý nghĩa của nó.

Điều thường thấy trong việc đặt tên cho con gái đó là thường dùng những tên có thể nói lên vẻ đẹp của người con gái. Vậy một cái tên như thế nào mới cho chúng ta thấy được điều đó. Dưới đây là một số phương pháp đơn giản để giúp cho độc giả có thể tham khảo trong việc đặt tên cho con gái.

Trong chữ Hán, mỗi bộ có một trường nghĩa khác nhau, như bộ "mộc" ghép với bộ khác thường chỉ về các loài cây cỏ, bộ "nhân" khi ghép với bộ khác thường chỉ những gì liên quan đến người, bộ "thuỷ" khi đi với bộ khác thường chỉ những gì liên quan tới nước... Nên người Trung Quốc khi đặt tên cho con gái, phương pháp đơn giản nhất là tìm chữ bộ "nữ" (chỉ những gì liên quan đến con gái). Ví dụ như: Như, Nghiêm, Yên, Vũ, Diệp, Giao, Kiều, Loan, Tư, Oa, Cơ, Nhiều, Nhân, Thục, Na, Nhàn, Nga, Sính, Quyên, Mị, Yển, Ái, Vĩ, Thanh, Á, Tường, Thiều...

Chữ "Như" (có bộ "nữ" và bộ "khẩu"). Ý nghĩa của chữ này là "giống như". Trong khi đặt tên người ta thường lấy con người để so sánh với một sự vật nào đó, như một người tên là Vương Phụng Như thì ý nghĩa của tên này muốn hàm ý chỉ người này đẹp như chim Phượng, hay như Bạch Như Băng hàm ý chỉ giống như tuyết. Vì vậy chữ "Như" trong tên người cần thêm một chữ nữa để có thể lột tả được hết ý nghĩa của nó, đó chính là điều mà các bạn mong muốn con gái mình giống cái gì đó, và sau chữ đó sẽ thêm chữ gì. Ví dụ như bạn muốn con gái bạn giống như những viên ngọc bạn có thể đặt tên con là Bạch Như Ngọc hay là một số tên như: Lý Như Tĩnh, Kim Như Hà... đều là những tên rất hay.

Chữ "Nghiêm" có ý nghĩa là tươi đẹp, người mang chữ này trong tên người ta rất nhiều, nếu dùng tên đơn như Trần Nghiêm, Lý Nghiêm, Vương Nghiêm... thì việc trùng tên rất nhiều, do vậy khi đặt tên không nên dùng tên đơn mà cần thêm một chữ nào đó vào sau chữ Nghiêm như Trần Nghiêm Từ, Lý Nghiêm Nghi, Vương Nghiêm Ni...

Chữ "Yến" mang ý nghĩa là màu hồng tươi sáng. Trong cuốn tiểu thuyết "Thiên Long Bát Bộ" thời nhà Kim, Đường có cô gái tên là Vương Ngữ Yên, chữ "Yên" được dùng rất hay mà ý nghĩa của chữ này chính là chỉ những lời cô gái nói rất dí dỏm, tự nhiên để rồi làm cho người ta cảm thấy ai cũng đẹp. Bởi thế chữ "Yên" rất thích hợp trong việc dùng để đặt tên, cũng như dùng ở giữa hoặc sau đều hay, như Trương Tuyết Yên, Lý Yên Vân, Dương Thu Yên, Vương Sở Yên...

Chữ "Vũ" có thể hình dung người con gái có thân hình rất đẹp. Do cách đọc mà khi lấy chữ này đặt tên cần phải tránh những ý nghĩa khác nhau, nguyên nhân bởi đọc liền gây ra, đồng thời cũng phải xem chữ đó đọc lên có xuôi không.

Trong lịch sử có Vũ Mị Nương tức Hoàng hậu Võ Tắc Thiên, ba chữ Vũ Mị Nương của bà ta không mang họ, nếu thêm họ lại dùng hai chữ Vũ Mị thì nghe không hay trừ phi dùng bốn chữ. Nếu như "Vũ" đặt ở giữa kết hợp với tên loài chim, loài hoa nào đó hay sự vật nào đó đẹp thì nghe rất hay như Lý Vũ Quyên, Tống Vũ Xuân...

Chữ "Diệu" bản thân nó cũng là họ, do vậy trong tên người dùng chữ này không nhiều, trong tác phẩm "Hồng Lâu Mộng" có Diệu Ngọc nếu dùng chữ "Diệu" vào trong tên người cũng được. Khi dùng chữ này ở giữa sẽ có những tên rất hay, chỉ cần chú ý để cho người nghe cảm thấy thuận tai như: Lý Diệu Hồng, Khương Diệu Hương, Tôn Diệu Quyết, Thư Diệu Vân...

Chữ "Kiều" mang ý nghĩa chỉ người con gái dịu dàng, xinh đẹp và đáng yêu giống như một số từ yểu điệu, duyên dáng, kiều diễm, xinh xắn, dễ thương... đều là những từ rất hay. Dùng chữ "Kiều" đặt tên có thể bộc lộ một cách đầy đủ về đẹp của người con gái. Đặc điểm của chữ này có thể dùng hai chữ giống nhau để đặt tên như: Lý Kiều Kiều, cũng có thể dùng ở giữa như Hứa Kiều Dung, Giang Kiều Ngọc, Tấn Kiều Mi. Chữ "Kiều" để cuối cùng rất hay và thuận lợi như Văn Bích Kiều, Phạm Đình Kiều, Tiêu Tiểu Kiều, Tiêu Kiều...

Chữ "Giao" là chữ thường hay dùng trong việc đặt tên, mang ý nghĩa chỉ về đẹp bên ngoài của người con gái. Ý nghĩa của chữ này so với chữ "Kiều" có một chút khác biệt. Dùng chữ "Giao" để đặt tên hay hơn nhiều so với dùng những chữ Lệ, Mỹ, như Dương Liễu Giao, Lý Ngưỡng Giao, Lưu Thiên Giao...

Chữ "Tư" mang ý nghĩa chỉ người con gái có dung mạo và thân hình rất đẹp. Tuy nó là chữ thường dùng, nhưng tần suất xuất hiện ở trong Họ không nhiều. Kỳ thực nếu dùng chữ "Tư" trong tên người nghe rất hay, như Lê Tư, Trần Tư Tư, Diệp Tư Vi, Tế Yến Tư...

Chữ "Cơ" là một cách gọi đẹp đối với phụ nữ thời kỳ cổ đại, cũng có thể giải thích là người con gái sống bằng nghề ca hát. Trong tên gọi của người phụ nữ tộc người Triều Tiên Trung Quốc thường hay dùng chữ "Cơ", điều này có thể liên quan đến khả năng ca hay múa giỏi của họ, vì vậy việc lấy chữ "Cơ" đặt tên có thể làm cho mọi người liên tưởng tới khả năng ca hay múa giỏi của người đó, có một số tên của người phụ nữ tộc Triều Tiên nghe rất hay đồng thời có thể dùng để nghiên cứu, tham khảo như Phác Thuận Cơ, Kim Cơ, Ngân Cơ...

Chữ "Nhiều" và tổ từ "Kiều" mang ý nghĩa chỉ người con gái xinh đẹp kiều diễm. Nhưng những từ có thể kết hợp được với chữ "Nhiều" không nhiều, do vậy khi lấy chữ "Nhiều" để đặt tên nên xem xét liệu có thể kết hợp được không, đặc biệt là khi nói ra phải thuận mồm như: Tô Nhiều, Vương Nhiều...

Chữ "Thục" mang ý nghĩa chỉ người con gái đẹp, dùng chữ "Thục" đặt tên để kết hợp với nhiều chữ khác, đồng thời không bị trùng tên, như: Lý Uyển Thục, Thẩm Thục Quyên, Trương Thục Ái...

Chữ "Na" có câu nói "Thướt tha uyển chuyển" muốn chỉ người con gái xinh đẹp thướt tha. Chữ "Na" ở trong tên mang ý chỉ xinh đẹp dịu dàng. Chữ "Na" khi dùng đối với các danh nhân âm đọc tiếng Hán là "Na" không đọc "Núc" như: Lý Vân Na, Văn Lệ Na, Cao Na Tiền, Thẩm Na Na...

Chữ "Nhàn" mang ý nghĩa chỉ người con gái nho nhã thanh tao. Dùng chữ "Nhàn" để đặt tên chủ yếu mang ý nghĩa trên. Có thể dùng trực tiếp hai từ để đặt tên, cũng có thể đảo ngược một trong hai chữ như: Trương Tịnh Nhàn hay Trương Nhàn Tịnh, ngoài ra cũng có thể dùng chữ "Nhàn" ở giữa như Thẩm Nhàn Quân, Chu Nhàn Vân...

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế