Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Ly Sơn, Côn Luân Sơn và núi thiêng của Tần Thuỷ Hoàng

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202611 phút đọc0 lượt đọc
Ly Sơn, Côn Luân Sơn và núi thiêng của Tần Thuỷ Hoàng

Một bữa tiệc trong lịch sử khiến hai chữ Hồng Môn còn vang mãi đến ngày nay, một ngọn núi tiên nơi Tây Vương Mẫu ngự trị trong thần thoại, một rặng núi được gọi là xương sống nối liền cả một vùng đất rộng lớn – núi non trong kho tên này kể chuyện đế vương và thần tiên. Từ Ly Sơn nơi chôn cất Tần Thuỷ Hoàng đến Côn Luân Sơn huyền thoại, mỗi ngọn núi đều mang một tầng lịch sử riêng để gửi vào tên con…


Kiều Sơn: nơi an táng Hiên Viên Hoàng Đế, thuỷ tổ Trung Hoa

Kiều Sơn: Nằm ở phía Bắc thành huyện Hoàng Lăng, tỉnh Thiểm Tây. Thế núi cao, hiểm trở trông giống như chiếc cầu, trên có tên gọi là Kiều Sơn. Phong cảnh ở Kiều Sơn rất đẹp, nhờ có Lăng Hoàng Đế mà trở nên nổi tiếng. Danh lam thắng cảnh chủ yếu ở Kiều Sơn là: Hoàng Đế Lăng, Hiên Viên Bách, Hán Vũ Kỳ tiên đài, Hán Vũ Quải Giáp Bách, Hiên Viên Hiếu…

Hiên Viên Hoàng Đế là một trong ba vị hoàng đế trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc (Phủ Hi, Thần Nông, Hoàng Đế), được tôn là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa. Sau khi họ chết đi được chôn ở Kiều Sơn. Hoàng Đế Lăng ở giữa bình đài thuộc đỉnh núi Kiều Sơn, mộ cao 3,6 mét, dài 48 mét, ngoài tên Kiều Sơn ra còn có tên gọi là Kiều Lăng.

Dùng chữ Kiều đặt tên mang hàm nghĩa phong phú, ngoài ra âm đọc cũng có sự mới lạ, độc đáo, như Tôn Kiều Sơn.

Ly Sơn: lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng và bữa tiệc Hồng Môn

Ly Sơn: Nằm ở phía Nam thành huyện Lâm Đồng tỉnh Thiểm Tây, là nhánh núi của Tần Lãnh, độ cao so với mặt nước biển hơn 800 mét. Hình núi giống ngựa ô, vì vậy có tên gọi là Ly Sơn. Đời Đường đã từng thay tên là Hội Xướng Sơn, Chiêu Ứng Sơn.

Những danh thắng chủ yếu ở đây là: U Vương Phong hoả đài, Ly Sơn lão mẫu điện, Ly Sơn Thang, Phần Thư Khanh, Khanh Nho Cốc, Tần Thuỷ Hoàng Lăng, Hồng Môn, Lộ đài thần miếu, Hoa Thanh Cung, Cửu Long Thang, Triều Nguyên Các, Quái Phỉ Trì, Trường Sinh Điện…

Phong trào đốt sách chống nho giáo nổi tiếng trong lịch sử, tương truyền xảy ra ở Ly Sơn. Trên Ly Sơn có một hang động mọi người gọi là Phần Thư Khanh. Phía dưới núi mặt hướng Tây có thôn Hồng Khánh cách huyện Lâm Đồng 10 km, có Khanh Nho Cốc, tương truyền đây là nơi Tần Thuỷ Hoàng phát động phong trào chống nho giáo. Tần Thuỷ Hoàng vào năm 246 trước Công Nguyên cho xây Lăng Mộ ở Ly Sơn, xây dựng mất 37 năm. Lăng của Tần Thuỷ Hoàng dựa vào Ly Sơn, Bắc Phần Công Vị Hà.

Trước hơn 2000 năm Sở Hán đánh nhau đã xảy ra câu chuyện nổi tiếng ở Hồng Môn An. Hồng Môn An chính là thôn Hồng Môn Bảo cách Ly Sơn về phía Đông Bắc khoảng 6 km, mảnh đất này vốn dĩ là con đường rất rộng, sau bị mưa xói mòn, trông giống như thông câu (sông đào ở tỉnh Hà Nam – Trung Quốc), phía Bắc đường bị đứt ra giống như cái cửa, do vậy mà người ta gọi là Hồng Môn. Những câu chuyện trong lịch sử liên quan đến Hồng Môn rất nhiều, dùng chữ Ly Sơn để đặt tên có ý nghĩa dư âm vô cùng lớn về chữ "Ly" và chữ "Lệ" có cùng âm đọc do vậy mà nghe thấy rất hay như Khương Ly Sơn, Hoá Ly Sơn.

Lam Điền Sơn: mỏ ngọc và lời khen "Lam Điền sinh ngọc"

Lam Điền Sơn: Nằm ở phía Đông Nam huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây. Trong những ngọn núi xuất phát từ Lam Khê, trong chữ Khê trước đây xuất phát từ Bích Ngọc (một loại ngọc) vì vậy Lam Điền Sơn cũng gọi là Ngọc Sơn. Những danh thắng chủ yếu ở đây là: Lam Điền Quan, Lam Kiến…

Ở Lam Khê trước là nơi sản xuất ngọc rất đẹp, do vậy mà gọi là Lam Điền Bích. Căn cứ vào ghi chép "Giang Biểu Truyện". Thời kỳ Tam quốc Gia Cát Cẩn chi tử "Thiếu hữu tài danh, biện luận ứng cơ, mạc dư tương đối". Tôn quyền thấy thế núi kỳ lạ, nói với Cẩn rằng: "Lam Điền sinh Ngọc, chân bất hư dã". Tôn Quyền lấy Lam Điền Sinh Ngọc để so sánh với cha con Gia Cát Cẩn, về sau trở thành câu thành ngữ.

Chữ Điền trong tên người rất thường gặp, rất dễ trùng tên, nhưng lấy chữ Lam Điền Sơn làm tên thì khả năng trùng tên là rất thấp. Hơn nữa hai chữ Lam Điền rất dân dã, có một số người thích dùng những tên mang ý nghĩa dân dã để đặt tên cho con mình, nhưng cũng không muốn bị trùng tên, chọn dùng hai chữ Lam Điền là rất thích hợp như: Phùng Lam Điền, Bành Lam Điền.

Kỳ Sơn: ngọn núi khơi nguồn dòng nước Hán Thuỷ

Kỳ Sơn: Nằm ở huyện Lễ tỉnh Cam Túc, là mảnh đất bắt nguồn từ Đông Tây Hán Thuỷ, phía Nam giáp với Hán Thuỷ. Kỳ Sơn cũng được coi là núi nổi tiếng trong lịch sử. Dùng chữ Kỳ Sơn làm tên đương nhiên là lấy tên của núi nổi tiếng trong lịch sử để làm tên như: Chu Kỳ Sơn, Trương Kỳ Sơn.

Ô Sa Sơn: núi cát vang tiếng sấm bên hang Mạc Cao

Ô Sa Sơn: Nằm ở phía Đông Nam huyện Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc, Ô San Sơn cũng là Thần Sa Sơn, Sa Giác Sơn. Phía Đông gắn với đỉnh núi Mạt Cao Quật Nham, phía Nam chạy đến tận Đông Hà Khẩu, cả ngọn núi hầu như được tạo thành từ đất cát. Danh lam thắng cảnh chủ yếu ở đây là: Tam Nguy Sơn, Vương Mẫu Cung, Mạc Cao Quật, Nguyệt Nha Tuyền…

Ô Sa Sơn có một hiện tượng tự nhiên rất độc đáo, mọi người khi giẫm đạp lên trên mặt của Sa Sơn, núi phát ra một âm thanh giống như sấm đánh vậy. Ở những vách núi bị đứt đoạn dưới chân núi phía Đông của Ô Sa Sơn có một cái hang nổi tiếng gọi là Thiên Phật Động. Hang cao trên dưới năm tầng, chiều dài Bắc Nam hơn 1600 mét, được xây dựng vào năm thứ hai triều Tần, về sau được xây dựng qua các triều vua cho đến thịnh Đường. Hiện nay còn tồn tại khoảng 492 hang động, các bức tượng màu có hơn 2000 bức, các bức tranh tường chiếm khoảng 4,5 vạn m², các kiến trúc bằng gỗ ở đời Đường Tống có 6 cái, là kỳ quan của lịch sử nghệ thuật thế giới.

Phàm là những chữ "Sa", "Kiều", "Á" xuất hiện trong tên người đến có cái hay, thú vị của nó, dùng chữ Ô Sa Sơn làm tên cũng vậy nó mang một dư âm mới lạ, như Lỗ Ô Sa, Khâu Ô Sa.

Hạ Lan Sơn và Yên Chi Sơn: đỉnh tuyết trắng trên con đường tơ lụa

Hạ Lan Sơn: Nằm ở phía Tây Bắc thành phố Ngân Xuyên tỉnh Ninh Hạ, thế núi hiểm trở, chiều dài hơn 200 km, chỗ rộng nhất là 50 km. Những danh lam thắng cảnh là: Tống Hạ Tị Thử Cung, Tây Hạ Vương Lăng…

Dùng chữ Hạ Lan Sơn để đặt tên, xét về bề ngoài là lấy hoa Lan làm tên trên thực tế lấy chữ Sơn làm tên. Nếu như dùng cho con gái, đó sẽ là cái tên mang ý nghĩa trong sự dịu dàng có một cái gì đó biểu hiện tính cách của người đàn ông như: Hạ Hà Lan, Miên Hà Lan.

Yên Chi Sơn: Nằm ở phía Đông Nam huyện Sơn Đan tỉnh Cam Túc, chân núi phía Nam Bắc có một con đường tơ lụa vào thời Hán Đường, là hẻm núi giúp cho việc qua lại ở Hà Tây. Đỉnh núi tuyết trắng bao phủ, chân núi cỏ mọc phì nhiêu. Danh lam thắng cảnh chính ở Yên Chi Sơn là: Tiên Thành Di Chỉ, Hiệu Trường Hồ…

Ở trên Yên Chi Sơn có một loại thảo mộc, nước của nó có thể dùng làm son (bôi má, bôi môi hoặc để vẽ tranh bút nho) dành cho phụ nữ. Do vậy ngoài tên Yên Chi Sơn ra còn có tên gọi Yên Chỉ Sơn. Chữ Yên Chỉ Sơn cũng là một cái tên nói lên trong cái dịu dàng, hàm ý trong của nó lại chỉ ngọn núi cao hùng vĩ như: Hứa Yên Chi, Tuyết Yên Chi.

Côn Luân Sơn: núi tiên của Tây Vương Mẫu trong thần thoại

Côn Luân Sơn: Nằm ở phía Đông của cao nguyên Tây Khởi Pha Mễ Nhĩ xuyên ngang Tân Cương, Tây Tạng. Tổng chiều dài khoảng 2500 km. Thế núi to lớn hùng vĩ. Độ cao so với mặt nước biển trên 5000 mét, trước đây đã từng có tên gọi "Côn Luân Thiên Trụ". Những danh lam thắng cảnh chủ yếu ở đây là Quần Ngọc Chi Sơn, Hắc Thuỷ…

Côn Luân Sơn trong truyền thuyết thần thoại được miêu tả là núi tiên nơi các vị tiên ở. Theo truyền thuyết trong núi có tầng lầu Cửu Trùng, Dao Đài Thập Nhị, Quang Bích Chi Đường, là nơi cư trú của các vị tiên và Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu là nhân vật thần thoại ở Tây vực trong truyền thuyết. Hoà Điền Sản Ngọc, ngày nay vẫn còn mỏ khai thác ngọc cỡ lớn. Hoà Điền Ngọc còn gọi là Côn Luân Ngọc, Côn Sơn Ngọc.

Dùng chữ Côn Luân Sơn để đặt tên, nó mang ý nghĩa chỉ con người có khí phách lớn do vậy nó thích hợp với tên con trai. Ví dụ như: Cao Côn Luân, Thường Côn Luân.

Núi Vụ Ninh: ánh sương ngũ sắc trên núi Yên

Núi Vụ Ninh: Là đỉnh núi chính ở núi Yên, cao so với mức nước biển 2116 m nằm ở phía Bắc huyện Hưng Long tỉnh Hà Bắc và tiếp giáp với huyện Mật Vân – Bắc Kinh. Mùa hạ có sương mù bao phủ khi ánh nắng mặt trời chiếu vào thì ánh ngũ sắc toả ra ngập trời do vậy mới có tên là Vụ Linh. Các điển cố như nàng Mạnh Khương khóc Trường Thành, Trần Vương tác kinh, Lý Quảng bắn đá đã mang đậm màu sắc văn hoá của núi Yên.

Vì vậy có thể nói lấy núi Yên và danh thắng của núi Yên để đặt tên là rất có ý nghĩa. Ví dụ: Núi Yên có tên: Cao Yên Sơn, công thành có Tô Cộng Thành, núi Vụ Linh có: Mã Vụ Linh, Thành Cổ Trúc có: Tần Cổ Trúc.

Thái Hành Sơn: xương sống nối liền Hoa Bắc, quê hương của Nữ Oa

Thái Hành Sơn: nằm ở phía Đông của tỉnh Sơn Đông và phía Tây của tỉnh Hà Bắc, là ranh giới của bình nguyên Hoa Bắc và cao nguyên Hoàng Thổ. Trong tỉnh Hà Bắc, phía Bắc của Thái Hành Sơn liền với Tây sơn Bắc Kinh, từ phía Nam đến bờ sông Chương, kéo dài và mấy trăm dặm. Có nhiều trời ngại nổi danh như: Tử Kinh Quan, Đường Phi Hồ, Đảo Mã Quan. Trong đó có các thành phố như Thanh Qua Trang, Hình Đài, Hàm Đan.

Những danh lam thắng chủ yếu ở Thái Hành Sơn có: Oa Hoàng Giang, suối bản, núi Trà Lộc, Hiên Viên Đài, Thành Sí Vưu, Phẫu Sơn, Vọng Đô Sơn, Tán Hoàng Sơn, Đàn Sơn, Cẩu Hạ Bộ, Cố đô Triệu Hàm Đan, Hồng Pha Đài, Ma Kê Sơn, Đại Vương Thành, Miếu Biển Thước, Đường Hầm Hồi Xa, Tùng Đài…

Cổ nhân từng gọi Thái Hành Sơn "Hoàng Mậu Chi Sơn". Theo "Địa lý Thông Thuyết, Thập đạo Xuyên Khảo" truyền lại rằng "Núi nổi danh ở Hà Bắc là Thái Hành Sơn, nằm ở phía Tây Bắc huyện Hà Nội thuộc Hoài Châu nối liền Hà Bắc tới Châu Chư, là xương sống nối liền thế giới, một cái là Vương Mẫu, một cái là Mờ Oa, phía trên có đền Nữ Oa. Truyền thuyết nhân gian về núi Thái Hành có rất nhiều như "Hoàng đế chiến Si Vưu", "cuộc chiến của Hoàng Viêm", "Hàm Đan Học bộ, tương tương hợp"… đều là những chuyện xuất phát từ Thái Hành Sơn. Trong lịch sử Trung Quốc từ Thái Hành Sơn không ít các anh hùng hào kiệt đã xuất thân từ đây.

Lấy Thái Hành Sơn và các danh thắng của nó để đặt tên có thể hiểu hơn nội dung chi tiết của các truyền thuyết có liên quan đến lịch sử. Người đặt tên không nhất thiết phải nói rườm rà ở đây chỉ có thể đưa ra những ví dụ về họ tên đơn giản như: Thái Hành Sơn thì có: Khương Hành Sơn, suối biển thì có: Trịnh Biển Tuyền, Trác Lạc Sơn thì có: Mã Trác Lộc, Phẫu Sơn thì có Mục Hồng Pha. Tùng Đài thì có Triệu Tùng Đài.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế