Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Hoa Mai, Đỗ Quyên và hoa Hồng trong tên con gái

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202614 phút đọc1 lượt đọc
Hoa Mai, Đỗ Quyên và hoa Hồng trong tên con gái

Giữa mùa đông giá rét, chỉ có hoa Mai dám ngẩng đầu khoe sắc — cổ nhân từng ví nó cùng Tùng, Trúc là ba người bạn không rời nhau. Rồi đến Đỗ Quyên kiêu sa, Nguyệt Quế thơm hương và đoá Hồng mà người phương Tây gửi trọn trái tim...


Hoa Mai kiêu hãnh giữa giá rét và sắc hương Đỗ Quyên

Hoa Mai: hoa Mai cũng có thể gọi là "Xuân Mai", "Can Chi Mai". Nguyên liệu thuộc họ cây Tường Vi, hoa Mai là loại cây rụng lá, thân cao. Xuất thân của nó là được trồng ở phía Nam sông Trường Giang nhưng hiện nay đã được trồng phổ biến ở khắp các tỉnh thành Trung Quốc. Lịch sử về việc nuôi trồng và chăm sóc cây Mai đã có tới hơn 3000 năm. Hoa Mai cao khoảng 4 đến 10 mét, là một trong mười loài hoa được coi là nổi tiếng của Trung Quốc. Ở Trung Quốc các thành phố như: Nam Kinh, Vô Tích, Vũ Hán... được coi là "thành phố Hoa Mai". Hoa Mai nở hoa vào mùa đông hoặc đầu xuân, có hương thơm. Hoa Mai có rất nhiều loài, hiện nay ở đất nước Trung Quốc có tới 231 loài hoa Mai và có thể gộp thành hai loại đó là: hoa Mai để thưởng thức và hoa Mai dùng làm đồ ăn.

Hoa Mai là loài hoa mà từ màu sắc, mùi hương đến tư thế đều khiến cho các loài hoa khác phải ngưỡng mộ. Tính đặc thù của hoa Mai là chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt. Người ta thường ví cây Mai, cây Tùng, cây Trúc là ba người luôn ở bên nhau trong đêm giá rét. Ngoài ra hoa Mai còn có một tên gọi khác rất nho nhã, đó là "một cành xuân". Từ cổ chí kim đã có biết bao văn nhân, thi sĩ đã đem hết tâm huyết, tài thơ phú của mình làm thơ về cây Mai để cho thế hệ hậu sinh chúng ta cảm nhận một cách tinh tế hơn, văn hoá hơn khi đứng trước hoa Mai. Có thể nói, có rất nhiều người thích hoa Mai và cũng có rất nhiều người lấy hoa Mai để đặt tên, ví dụ như: Hiếu Mai, Đông Mai, Tú Mai, Ngọc Mai, Nguyệt Mai... những cái tên này hoàn toàn rất dễ nghe nhưng lại quá quen nên hoá ra bình thường. Vậy thì từ chữ "Mai" còn có chữ nào khác để làm từ đệm cho nó nữa không? Điều này có lẽ nên đi sâu, tìm hiểu kỹ hơn một chút ý nghĩa của hoa Mai.

Có một nhà thơ thời Tống đã miêu tả về hoa Mai như sau: trong khi các loài hoa khác phải cúi đầu khuất phục trước giá rét, tê tái của mùa đông khắc nghiệt thì chỉ có hoa Mai vẫn kiên cường ngẩng cao đầu, nở những bông hoa sặc sỡ sắc màu. Và sắc màu thanh khiết nhưng đầy tự tin ấy choáng ngợp không gian u tối, lạnh lẽo của đêm đông giá rét, nó như thắp sáng lên ngọn lửa sưởi ấm cho các loài hoa khác. Đến đời Tống có bài thơ "hoa Mai" của nhà thơ Vương An Thạch thì cốt cách kiên cường, hương thơm êm dịu của hoa Mai càng được đẩy lên cao hơn. Trong bài thơ, nhà thơ đã so sánh hoa Mai với tuyết, nhà thơ cho rằng: tuyết rất thanh cao và trong trắng nhưng đối với hoa Mai mà nói, hoa Mai không những có cái thanh cao, trong trắng kia của tuyết, hoa Mai còn có một mùi hương quyến rũ, hơn thế hoa Mai không những không bị hoà tan trong đêm tuyết trắng đầy trời mà hoa còn toả ra mùi hương thầm, lặng lẽ lan toả vào không gian. Như vậy cái giá lạnh khắc nghiệt của mùa đông không thể làm mất sắc màu của hoa, không thể túm gọn hương thơm của hoa mà trái lại càng tôn thêm "mai cốt cách" của hoa hơn.

Từ những góc độ khác nhau miêu tả về hoa Mai của các nhà thơ, nhà văn, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về loài hoa này, từ đó có thể giúp cho việc đặt tên được dễ dàng hơn. Ví dụ như: Vương Mai Thi, Lý Mai Đình, Lưu Mai Tuyết, Triệu Lãnh Mai... Nếu như bạn họ Mai, bạn có thể đặt tên cho con là: Mai Biên Dịch, bởi vì cổ nhân xưa đã có câu thơ rằng:

Cưu thời nguyệt sắc, toan cơ phiến nga, Mai biên xuy dịch.

với ý nghĩa thể hiện là kính Mai, yêu Mai.

Đỗ Quyên: cũng có thể được gọi là "cây Thược Dược", "hoa Vương", "hoa Lạc Dương", "hoa phú Quý" nó thuộc nguyên liệu cây Mao Cấn. Đỗ Quyên là loài cây rụng lá, nguồn gốc của loài hoa này thuộc vùng Tần Lãnh Trung Quốc, hiện nay được trồng ở các tỉnh Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Đông, các thành phố như: thành phố Lạc Dương của tỉnh Hà Nam, thành phố Hà Trạch của tỉnh Sơn Đông được gọi là "thành phố hoa Đỗ Quyên". Đỗ Quyên là một trong mười loài hoa nổi tiếng của đất nước Trung Quốc. Hiện nay hoa Đỗ Quyên có khoảng 462 loài, nơi trồng nhiều loài hoa này nhất phải kể đến các thành phố như: Hà Trạch, Lạc Dương, Bắc Kinh. Đỗ Quyên có thân cao khoảng 1 đến 3 mét. Nếu phân loại hoa Đỗ Quyên theo màu sắc thì Đỗ Quyên có các màu như sau: hoa màu đỏ, hoa màu tím, hoa màu trắng, hoa màu xanh, hoa màu vàng... Nếu phân theo hình dáng thì Đỗ Quyên có các hình dáng như: hình hoa Sen, hình hoa Cúc, hình hoa Tú Cầu... Đỗ Quyên được ca ngợi là loài "Quốc sắc thiên hương". Đỗ Quyên có thể sống được khoảng 100 năm, một cây hoa có thể nở được hơn 1000 bông hoa, không những thế nó còn là một loài hoa chịu được giá rét giống như hoa Mai vậy.

Từ cổ chí kim Đỗ Quyên rất được con người sùng bái, có một vài địa phương còn xây dựng thành "thánh địa" Đỗ Quyên để thưởng thức chúng, ví dụ như: vườn Đỗ Quyên ở công viên Vương thành của thành phố Lạc Dương thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Từ góc độ của những người thích Đỗ Quyên và cái tên nho nhã giản dị này thì việc dùng nó để đặt tên cho con thì rất đẹp, tên hoa Đỗ Quyên có thể dùng trực tiếp để đặt tên, ví dụ như: Bạch Đỗ Quyên, Hoàng Đỗ Quyên. Bạn cũng có thể lấy cách gọi nho nhã của Đỗ Quyên để đặt tên như: Chương Thiên Hương, Trịnh Thiên Hương.

Nguyệt Quế, hoa Hồng và Tường Vi trong tên con gái

Nguyệt Quế: Nguyệt Quế cũng có thể gọi là "hoa Trường Xuân", "Hồng Nguyệt Nguyệt". Nguyên liệu thuộc họ của cây Tường Vi, là cây lá rụng. Nguyệt Quế đã có hơn 2000 năm lịch sử về nuôi trồng ở Trung Quốc, là một trong mười loài hoa nổi tiếng của đất nước Trung Quốc, các thành phố như: Bắc Kinh, Thiên Tân, thành phố Trịnh Châu thuộc tỉnh Hà Nam, thành phố Thường Châu của tỉnh Giang Tô được mệnh danh là thành phố hoa Nguyệt Quế. Hiện nay, toàn thế giới có khoảng hơn 20000 loài Nguyệt Quế dựa theo loại hình nuôi trồng, có thể phân thành Nguyệt Quế hương thuỷ, Nguyệt Quế trường xuân, Nguyệt Quế thập tỉ muội, Nguyệt Quế vi hình... trong đó Nguyệt Quế hương thuỷ đã có hơn 10000 loại, có rất nhiều màu sắc như: màu trắng, màu phấn hồng, màu hồng đào, màu mận chín... Nguyệt Quế có khả năng chịu giá rét cao, thân cao của cây từ 2 mét trở lên.

Vào năm 1975 Hội liên hiệp - hiệp hội hoa Nguyệt Quế thế giới đã tổ chức bỏ phiếu mang tính quốc tế để chọn ra vòng Nguyệt Quế đẹp nhất trên thế giới, kết quả là: đứng thứ nhất là vòng Nguyệt Quế hoà bình, thứ hai là vòng Nguyệt Quế Vân Hương, thứ ba là vòng Nguyệt Quế minh tinh siêu cấp... Năm 1972 hiệp hội Nguyệt Quế nước Mỹ đã lấy chiều cao 9,4 phân là chiều cao cao nhất để đánh giá chiều cao của các loài hoa thì chiều cao của Nguyệt Quế hoà bình đạt tới 1,5 mét, và hiện nay tại đất nước Trung Quốc đang nuôi trồng để gây giống hoa "Nguyệt Quế hoà bình Bắc Kinh". Có thể nói hoa Nguyệt Quế là loài hoa rất nổi tiếng trên thế giới, nó vừa có hương, lại vừa có sắc. Nếu dùng hoa Nguyệt Quế để đặt tên thì đấy là một chuyện rất tuyệt vời nhưng do phát âm bằng tiếng Trung của hai chữ "Nguyệt Quế" nghe không được hay lắm cho nên bạn có thể lấy tên khác của Nguyệt Quế để đặt tên, ví dụ như: Hoàng Hoà Bình. Nếu hai chữ "Vân Hương" trong Nguyệt Quế Vân Hương được đi kèm với họ Phùng hay họ Tưởng thì rất hay, ví dụ như: Phùng Vân Hương, Tưởng Vân Hương.

Hoa Hồng: hoa Hồng nguyên liệu thuộc họ cây Tường Vi, nó là loài cây lá rụng và cần phải tưới nước đầy đủ. Nguồn gốc xuất xứ là từ các tỉnh Liêu Ninh, Sơn Đông nhưng hiện nay đã được trồng phổ biến khắp các địa phương của đất nước Trung Quốc. Các tỉnh như: Tây Tạng, Tây Cương, Ninh Hạ, Cam Túc, được coi là thành phố hoa Hồng, hoa Hồng cao khoảng 2 mét, cành hồng thường rất nhiều gai, hoa Hồng có rất nhiều màu sắc như: hồng tím, hồng trắng, hương thơm ngào ngạt, hoa Hồng có thể chế biến thành nước hoa. Đặc tính của loài hoa này là thích ánh sáng mặt trời và chịu được giá lạnh.

Dùng hoa Hồng là hoa văn đối với người Trung Quốc thường không được phổ biến nhưng đối với người phương Tây thì hoàn toàn ngược lại, họ quan niệm rằng hoa Hồng là loài hoa hàm chứa tình cảm nhiều nhất, đặc biệt là giữa hai người yêu nhau, họ thường hay tỏ tình cảm với đối tượng của mình bằng cách tặng hoa Hồng. Lấy hoa Hồng để đặt tên có thể mang nghĩa là: có cái tình sâu nặng, có cái đẹp và cả mùi thơm nữa. Ví dụ như: Phạm Mai Hương, Hứa Mai Khả...

Tường Vi: Tường Vi cũng có thể gọi là hoa Tường Vi, nó thuộc loài cây lá rụng. Trên khắp đất nước Trung Quốc đều trồng loại hoa này, hoa Tường Vi có màu trắng hoặc màu phấn hồng, các dạng khác của hoa Tường Vi có: Tường Vi thập tỉ muội, Tường Vi phán đoàn, có người còn gọi Tường Vi là "hoa Tường Vi dại". Có người đã hợp nhất mười hai loài hoa thành "mười hai người khách" thì trong đó có hoa Tường Vi, trong sổ ghi chép của đời nhà Minh viết:

Tống Chương Mãn Thúc đã gọi Đỗ Quyên là khách quý, Mai là thanh khách, Thuỵ Hương là giai khách, Đinh Hương là tố khách, hoa Sen là tịnh khách, Nhài là viễn khách, Thược Dược là cận khách.

Qua đây có thể nhận thấy Tường Vi là loại cây không chịu được trong phòng ấm mà thích dãi dầu với mưa nắng, rèn rũa để có sức sống mạnh mẽ.

Những người thích tính cách này của Tường Vi thì có thể lấy Tường Vi để đặt tên cho con. Đứng trên phương diện phát âm mà nói thì chỉ dùng chữ "Tường" hay trực tiếp dùng hai chữ "Tường Vi" để đặt tên cho con đều được. Ví dụ như: chỉ dùng chữ "Tường" để đặt tên cho con như sau: Trương Tường Anh, Trần Tường Tán. Nếu trực tiếp dùng hai chữ "Tường Vi" để đặt tên cho con thì càng đơn giản hơn, ví dụ như: Lâm Tường Vi, Vân Tường Vi...

Có sắc vàng của Mai vàng, của hoa Đón Xuân, và sắc trắng tinh khiết của Bạch Ngọc Lan.

Mai vàng, hoa Đón Xuân và sắc trắng tinh khiết Bạch Ngọc Lan

Mai vàng: Mai vàng cũng có thể gọi là "Hoàng Mai", "Hương Mai". Nguyên liệu thuộc họ Mai, là loại cây lá rụng, cần tưới nước thường xuyên. Xuất xứ đầu tiên là thuộc vùng Trung bộ Trung Quốc nhưng hiện nay các nơi khác cũng đã trồng loại cây này. Thành phố được gọi là "thành phố hoa" là thành phố Trấn Giang thuộc tỉnh Giang Tô Trung Quốc. Mai vàng cao khoảng 5 mét, hình dáng giống cây Mai, hoa có màu vàng, mùi hương rất ngào ngạt, tuổi thọ của cây có thể lên tới trên 1000 năm. Đặc tính của cây thích ánh sáng, chịu giá rét và khô hạnh tốt.

Mai vàng còn có một cách gọi nhã xưng nữa là Tố Nhi. Hiện nay lấy Mai vàng đặt tên cho con không nhiều nhưng lấy tên nhã xưng của Mai vàng đặt tên thì không phải là hiếm thấy, ví dụ như: Vương Tố Mai, Lý Tố Mai. Thực ra so với tên Mai vàng thì không thể hay bằng, ví dụ như: Vương Lạp Mai, Lý Lạp Mai, bạn cũng có thể gọi bằng cách khác như: Triệu Hoàng Mai...

Hoa Đón Xuân: hoa Đón Xuân cũng có thể gọi khác là "Kim Mai, Kim Yêu Đới". Các địa phương của Trung Quốc cũng nuôi trồng loài hoa này. Thành phố trồng nhiều hoa này nhất là Bằng Tường thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Hoa cao khoảng 5 mét, nở hoa màu vàng, hoa này có khả năng chịu rậm và chịu lạnh tốt. Do hoa này nở vào tháng hai, lúc chớm xuân nên người ta gọi nó cái tên "hoa đón xuân". Hiện nay nhiều người lấy tên "Nghênh Xuân" để đặt tên cho con. Nếu như bạn thực sự thích loài hoa "Nghênh Xuân" này, muốn dùng hoa này để đặt tên cho con, bạn có thể dùng cách gọi khác của hoa Nghênh Xuân để đặt tên cho con như: "Kim Mai" chẳng hạn. Ví dụ như: Lý Kim Mai, Chương Kim Mai, Chu Kim Mai...

Bạch Ngọc Lan: Bạch Ngọc Lan cũng có thể gọi là "hoa ứng xuân" hay là "hoa vọng xuân". Nguyên liệu thuộc họ mộc lan, loài cây lá rụng thân to. Các khu vực như: Hoa Trung, Hoa Đông và Hoa Bắc Trung Quốc đều trồng loại cây này.

Loài cây này có lịch sử vun trồng là 2500 năm và thành phố Thượng Hải là thành phố của hoa Bạch Ngọc Lan này. Cây có thân cao khoảng 15 đến 20 mét. Kích thước của hoa tương đối to, màu trắng tinh khiết như Ngọc và hương thơm quyến rũ như Lan. Giống của cây Bạch Ngọc Lan gồm có: Ngọc Lan nhị Kiều, Mộc Lan, Ngọc Lan Thiên Mục, Ngọc Lan hoa Sen...

Ngọc Lan là loại cây trồng có tuổi thọ cao, tại thôn Cam Tuyền, huyện Thiên Thuỷ tỉnh Cam Túc có một làng tên là Ngọc Lan, trong làng có hai cây Bạch Ngọc Lan đứng cách nhau khoảng 5 mét, tương truyền rằng hai cây này đã có trên 1000 năm lịch sử, thân cao 25 mét, diện tích của cây là 2 mét, hằng năm cứ vào trước hay sau mùa xuân lại nở hoa.

Do Bạch Ngọc Lan có màu trắng tinh khiết như Ngọc, hương thơm như Lan, sức sống như cây Tùng cây Bách, vì vậy mà rất phù hợp trong việc chọn để đặt tên cho con. Lấy Ngọc Lan để đặt tên có thể trực tiếp lấy họ thêm vào "Ngọc Lan" hoặc "ứng xuân" hay "vọng xuân". Ví dụ như: Đinh Ngọc Lan, Cát Ứng Xuân, Thạch Vọng Xuân, Ninh Vọng Xuân...

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế