Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Đặt tên con gái theo mỹ nhân xưa và các loài hoa

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202615 phút đọc4 lượt đọc
Đặt tên con gái theo mỹ nhân xưa và các loài hoa

Nữ hoàng Võ Tắc Thiên, mỹ nhân Vương Chiêu Quân hay từ nhân Lý Thanh Chiếu đều để lại những cái tên có thể mượn cho con gái ngày nay. Còn có một kho tên khác rộng lớn hơn: hoa Đỗ Quyên e ấp, hoa Trà nở mười tám sắc trong Thiên Long Bát Bộ, hoa Quế toả hương ngay cả khi đã rụng…


Mượn tên mỹ nhân trong lịch sử để đặt tên con gái

Danh nhân nữ so với danh nhân nam thì không nhiều nhưng có một số người đáng để tham khảo, người soạn đã tập trung được các tên của những danh nhân nữ, cung cấp cho độc giả có thể tham khảo.

Danh nhân họ Trương: Trương Anh Xuân liệt sĩ cách mạng thời kỳ cách mạng dân chủ; Trương Mạn Vân phu nhân của nhà cách mạng Lý Công Phác.

Danh nhân họ Vương: Mỹ nữ nổi tiếng triều Hán Vương Chiêu Quân, nghe nói cô ta có một sắc đẹp tuyệt vời. Nhà nghệ thuật biểu diễn điện ảnh Vương Nhân Mỹ, hoạ sĩ nổi tiếng Vương Thục Huy.

Danh nhân họ Lý: từ nhân đời Tống Lý Thanh Chiếu, nhà nghệ thuật biểu diễn tuồng Bắc Tiểu Bạch Ngọc Sương tên thật là Lý Tái Văn. Nhà viết kịch, viện trưởng viện kịch nghệ thuật nhân dân Lý Bá Siêu. Nhà văn hiện đại: Lý Tinh Hoa.

Danh nhân họ Triệu: anh hùng kháng chiến chống Nhật nổi tiếng Triệu Nhất Man. Tấm gương lao động toàn quốc Triệu Xuân Nga, Triệu Mộng Đào.

Danh nhân họ Lưu: một trong các nhà lãnh đạo trường Đại học Bắc Kinh thời kỳ cách mạng dân chủ Lưu Hoà Châu. Nhà động vật học hiện đại Lưu Ngọc Tố. Nhà dược vật học Lưu Lệ Lâm. Nhà địa lý học và hải dương học Lưu Ẩn Lan. Phó chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Lưu Thanh Dương.

Danh nhân họ Ban: nhà sử học thời Đông Hán là Ban Chiêu. Danh nhân họ Bào: nhà văn học thời Tống Bào Lệnh Huy. Danh nhân họ Thái: nhà thơ đời Đông Hán Thái Văn Cơ. Danh nhân họ Thuấn Vu: người con có hiếu nổi tiếng đời Tây Hán Thuấn Vu Đề Vinh. Danh nhân họ Đổng: tài nữ đời Minh Đổng Tiểu Uyển.

Danh nhân họ Quản: nữ hoạ sĩ đời Nguyên Quản Đạo Thăng. Danh nhân họ Thượng Quan: tài nữ đời Đường Thượng Quan Uyển Nhi, nhà nghệ thuật biểu diễn điện ảnh hiện đại Thượng Quan Vân Châu. Danh nhân họ Võ: nữ hoàng Võ Tắc Thiên đời Đường. Danh nhân họ Ngư: nhà thơ nữ đời Đường Ngư Thuyền Cơ. Danh nhân họ Ngu: sủng phi của Sở Bá Vương cuối đời Tần là Ngu Cơ.

Danh nhân họ Thạch: nhà văn thời cận đại Thạch Bình Mai. Danh nhân họ Soái: uỷ viên Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Soái Mạnh Kỳ. Danh nhân họ Diệp: nhà văn hiện đại Diệp Linh Phong. Danh nhân họ Bạch: nhà văn hiện đại Bạch Vi. Danh nhân họ Phùng: nhà văn học, nhà giáo dục Phùng Nguyên Quân.

Danh nhân họ Hướng: liệt sĩ Hướng Tú Lệ. Danh nhân họ Hoa: chuyên gia về tàu biển hiện đại Hoa Di. Danh nhân họ Giang: liệt sĩ Giang Trúc Duân. Danh nhân họ Hứa: anh hùng kháng Nhật Hứa Thành Thục. Danh nhân họ Nguyễn: diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời hiện đại Nguyễn Linh Ngọc.

Danh nhân họ Tôn: đạo diễn kịch nổi tiếng thời hiện đại Tôn Duy Thế. Danh nhân họ Nghiêm: nhà nghệ thuật biểu diễn kịch Hàng Mai thời hiện đại Nghiêm Phương Anh. Danh nhân họ Ngô: nhà giáo dục thời hiện đại Ngô Di Phương. Nhà tế bào học thực vật Ngô Tố Thuyên. Danh nhân họ Hà: nhà hoạ sĩ, cách mạng nổi tiếng Hà Thương Ngưng. Danh nhân họ Ngôn: nhà biểu diễn nghệ thuật kinh kịch hiện đại Ngôn Tuệ Châu.

Danh nhân họ Thẩm: nhân sĩ dân chủ Thẩm Tính Nguyên, uỷ viên hội phụ nữ toàn quốc Thẩm Tư Cửu. Danh nhân họ Lư: nhà văn hiện đại Lư Ẩn. Danh nhân họ Trần: liệt sĩ Trần Thiết Quân, nhà văn nhà kịch sử học Trần Hoành Triết. Danh nhân họ Phạm: diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời hiện đại Phạm Tuyết Minh. Danh nhân họ Lâm: diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời hiện đại Lâm Đới, nhà y học chuyên gia khoa phụ sản Lâm Xảo Trí.

Danh nhân họ Kim: nhà biểu diễn nghệ thuật nổi tiếng thời hiện đại Kim Vân Quý. Danh nhân họ Chu: diễn viên điện ảnh, ngôi sao ca nhạc Chu Tuyền. Danh nhân họ Hồ: uỷ viên Uỷ ban hiệp thương chính trị toàn quốc Hồ Tử Anh. Danh nhân họ Du: nhà ngôn ngữ học hiện đại Du Đại Chẩn. Danh nhân họ Diêu: nhà viết kịch hiện đại Diêu Thuỷ Quyên.

Danh nhân họ Đổ: nhà y học hiện đại Đổ Liên Anh. Danh nhân họ Cổ: nhà biểu diễn nghệ thuật kịch hiện đại Cổ Nguyệt Châu, liệt sĩ Cổ Chính Hồng, nhà diễn tấu đàn dương cầm Cổ Thánh Anh. Danh nhân họ Từ: nhà biểu diễn nghệ thuật hát và kể chuyện hiện đại Từ Lệ Tiên. Danh nhân họ Cao: liệt sĩ Cao Điềm Ba. Danh nhân họ Quách: liệt sĩ cách mạng Quách Long Chân.

Danh nhân họ Phố: phu nhân nguyên Soái Bành Đức Hoài bà Phố An Tu, nhà báo nổi tiếng Phố Hi Tu. Danh nhân họ Tiêu: nhà văn hiện đại Tiêu Hồng. Danh nhân họ Thôi: nhà sinh vật học hiện đại Thôi Chi Lan. Danh nhân họ Hàn: nhà biểu diễn nghệ thuật gõ phách tỉnh Hà Bắc thời hiện đại Hàn Tuấn Khanh. Danh nhân họ Thư: nhà biểu diễn nghệ thuật kịch, điện ảnh hiện đại Thư Tú Văn.

Danh nhân họ Tăng: uỷ viên thường uỷ hiệp thương chính trị toàn quốc Tăng Hiến Thục. Danh nhân họ Tạ: uỷ viên Uỷ ban chính trị pháp luật viện hành chính, chủ tịch tổng bộ liên minh Đài Loan Tạ Tuyết Hồng. Danh nhân họ Mộ Dung: diễn viên truyền hình, kịch nói hiện đại Mộ Dung Uyển Nhi.

Tham khảo tên của các nữ danh nhân trong lịch sử, không nhất thiết quá câu nệ vào tên họ, chỉ cần lấy tên nào bạn thích đổi thành tên họ của mình là được. Ví dụ như bạn họ Lý, bạn thích tên Tạ Tuyết Hồng, bạn có thể đặt cho con bạn cái tên như: Lý Tuyết Hồng. Đương nhiên trên cơ sở của các danh nhân phải có sự thay đổi, như bạn họ Dư bạn thích lấy tên là Huyền Cơ nhưng lại không muốn con bạn có tên giống với các danh nhân trong lịch sử, bạn có thể đổi hai chữ đồng âm sửa thành Dư Tuyên Cơ. Cũng có thể thay đổi những chữ cá biệt trong số những tên danh nhân trong lịch sử như nếu bạn họ Đồng bạn thích chữ Đồng Tiểu Uyển, bạn có thể đổi chữ "Tiểu" thành chữ "Hiểu" và bạn có tên Đồng Hiểu Uyển.

Đặt tên như vậy quá đơn giản và tiện lợi, lại có thể có được một cái tên lý tưởng.

Ý nghĩa phong phú của các loài hoa trong cách đặt tên

Ngoài tên người còn một kho tên rộng lớn không kém: tên các loài hoa, cỏ cây.

Từ thời cổ xưa tới nay người Trung Quốc rất thích lấy tên của các loài hoa để đặt tên, đặc biệt họ thích dùng hoa để so sánh với vẻ đẹp của người con gái, vì vậy mà con gái dùng hoa đặt tên cho mình rất nhiều. Trong có 10 loài hoa nổi tiếng con gái dùng nhiều nhất đó là: hoa Mai, hoa Đỗ Quyên, hoa Sơn Trà, hoa Cúc, hoa Lan, Mẫu Đơn, Sen, hoa Quế, Thuỷ Tiên, và cây Nguyệt Quý, nhưng ba loài hoa: Sơn Trà, Thuỷ Tiên và cây Nguyệt Quý có tần suất sử dụng không cao. Hoa được sử dụng nhiều nhất trong số mười loài hoa nổi tiếng này là: Mai, Lan, Cúc, có một số tên thuộc họ phổ biến trùng nhiều nhất, như: Thục Lan, Tú Lan... Còn chữ "Mai" nếu xem xét ở góc độ tên họ phổ biến, ta thấy người tên là Hiếu Mai không thể đếm hết. Hoa Cúc thường tập trung ở những người mang tên đơn như Lý Cúc, Vương Cúc, đồng thời những người trùng tên với hai tên này cũng rất nhiều. Điều này cho thấy mọi người rất yêu chuộng đối với những loài hoa này, và cũng cho thấy mọi người cũng không hiểu lắm đối với các loài hoa khác.

Khảo sát danh sách hộ tịch, việc dùng hoa đặt tên còn cần phải nghiên cứu thảo luận, đặc biệt là làm như thế nào để có thể dùng nhiều hơn nữa tên các loài hoa trong tên người đây là một vấn đề cần phải nghiên cứu, vì hoa ở Trung Quốc có hơn nghìn loài, loài nào cũng đẹp làm sao có thể chỉ dùng một vài loài để đặt tên mà không để ý tới các loài hoa khác.

Hiện nay rất ít nam giới dùng tên hoa làm tên cho mình, hình như chỉ dành riêng cho con gái vậy, quả thực đây cũng là quan điểm cần thay đổi. Ngày nay khái niệm hoa cỏ không hạn chế, có một số loài tuy không có hoa, nhưng vẫn là những loài cây được mọi người thích thưởng thức như: cây Trúc, cây Đa,... điều này khiến nam giới cũng có thể có những cảm nhận về các loài cây để đặt tên. Quan trọng ở đây là trong số các loài hoa cỏ nên tìm một chỗ của riêng mình.

Mọi người sở dĩ thích lấy tên hoa để đặt tên vì bản thân hoa có ý nghĩa phong phú, có thể nói mỗi loài hoa đều mang một ý nghĩa đặc biệt của nó. Cổ nhân từng nói: "Mai có cái cốt thanh tao, Lan có hương thơm phảng phất, Trà toát lên vẻ đẹp dễ duyên dáng, Mận mang trên mình một màu đặc trưng, Hạnh Kiều diễm trong cảnh mùa xuân, Cúc toát lên vẻ đẹp trong sương mùa thu, Thuỷ Tiên khoe cốt cách kiều diễm, Mẫu Đơn sắc màu mận mà, cây Ngọc dáng đứng đẹp đẽ, Sen Vàng nhuộm sắc bờ hồ, Đan quế toả hương thơm ngào ngạt dưới ánh trăng, Phù Dung đẹp cách lạnh lùng..." để miêu tả sự tinh tế, sự tuyệt diệu trong cái cốt cách, thần thái và ý nghĩa sâu xa của các loài hoa.

Từ góc độ ý nghĩa của các loài hoa, có loài hoa ung dung sang trọng, có loài hoa nho nhã trong trắng thanh cao. Hiện nay có không ít quốc gia có riêng quốc hoa (hoa tượng trưng cho đất nước) có thành phố có riêng hoa tượng trưng cho thành phố mình. Dù là hoa tượng trưng cho đất nước hay tượng trưng cho thành phố thì đều mượn ý nghĩa của hoa để miêu tả tính cách của quốc gia hay thành phố đó. Người Trung Quốc xưa nay đã tôn vinh hoa Mẫu Đơn là "quốc sắc thiên lương" (hoa tượng trưng cho sắc vẻ của đất nước), Nhật Bản tôn hoa Anh Đào là hoa tượng trưng cho đất nước. Người Philippin yêu thích loài hoa Bách Hợp, Chi Lê lại yêu thích hoa nhài... Những loài hoa này đều có quan hệ mật thiết tới nền văn hoá của những nước này, do vậy có thể thấy rằng lấy hoa làm tên có ý nghĩa là người đặt tên rất am hiểu và yêu quý các loài hoa. Lấy hoa để đặt tên, tuyệt đối không nên chỉ nhìn vào bên ngoài của hoa như vậy sẽ quá thiên về mặt hình thức.

Những loài hoa đầu tiên trong kho tên: Đỗ Quyên, Sơn Trà, Quế Hoa...

Nếu dùng hoa để đặt tên cho con, đầu tiên phải hiểu rõ tính cách đặc điểm của từng loài hoa — dưới đây là những loài hoa đầu tiên trong kho tên ấy.

Hoa Đỗ Quyên: Đỗ Quyên cũng gọi là ánh Sơn Hồng, hoa Ứng Xuân, Dương Trịch Trục, Sơn Thạch Lựu đều thuộc họ hoa Đỗ Quyên. Đỗ Quyên phân ra ba loại: họ Tùng Bách, nửa họ Tùng Bách và loại cây rụng lá. Loại này được phân bố ở các khu vực Hoa Hồng, Hoa Nam, và Tây Nam Trung Quốc, và đây là một trong những loài hoa nổi tiếng ở Trung Quốc, ở thành phố Đan Đông thuộc tỉnh Liên Ninh, thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, thành phố Vô Tích thuộc tỉnh Giang Tô, và Địa lý Vân Nam đều lấy hoa này làm tượng trưng cho thành phố mình. Trên thế giới có hơn 850 loài hoa Đỗ Quyên, Trung Quốc có khoảng 600 loài.

Hoa Sơn Trà: căn cứ theo lá hoa phân ra lá đơn, lá kép, lá nửa kép... theo hình dáng của hoa có dáng hoa mai, dáng hoa sen, hình sóng, dáng mẫu đơn... Theo màu sắc phân ra màu hồng đậm, hồng phớt, hồng đào, màu trắng ngọc, trắng sữa, ngoài ra còn có một số màu của hoa này thì lốm đốm, đường vằn trên cánh hoa. Trong số các màu của hoa này thì màu vàng là màu quý phái trang trọng nhất gọi là hoa "Kim Trà". Trong cuốn tiểu thuyết "Thiên Long Bát Bộ" đời nhà Kim đã miêu tả rất đặc sắc về loài hoa này: trên cây hoa Sơn Trà nở được 18 bông hoa màu sắc mỗi bông không giống nhau, hồng là hồng, tím là tím, không pha trộn lẫn lộn. Loại hoa này gọi là 18 học sĩ, còn gọi là 18 Thái Bảo, ngoài ra còn rất nhiều tên gọi khác, như: "Tất tiên nữ", "Hồng trang tố loả", "Phong trần tam hiệp", "Nhắn nhị mị", "Mãn nguyệt", "Lạc đệ tú tài"... Đời Kim Đường đã từng nói hoa Sơn Trà là loài hoa làm ngây ngất lòng người, không hổ là một trong những loài hoa nổi tiếng.

Dùng hoa Trà để đặt tên, tuy không thể đặt giống như cách mà đời nhà Kim đặt tên cho hoa, nhưng có thể học tập họ về cách tưởng tượng vô cùng phong phú và không kém phần lãng mạn của họ như: bạn họ Trương có thể đặt tên cho con gái bạn là Trương Trà Vận, nếu bạn họ Chu có thể đặt cho con bạn là Chu Kim Trà. Có thể dùng cách gọi khác của hoa Trà để đặt tên, như bạn có thể dùng cách gọi khác của hoa Sơn Trà là "Hải Hồng" để đặt tên gọi như Vương Hải Hồng, ý nghĩa của nó không phải là biển màu hồng mà là hoa trà màu hồng.

Quế Hoa: Quế Hoa cũng gọi là "Mộc Tê" và "Kim Túc" thuộc họ mộc Tê, ở các nước của Trung Quốc đều trồng loại hoa này, đây là một trong mười loại hoa quý của Trung Quốc. Hoa Quế là hoa tượng trưng cho thành phố Hàng Châu tỉnh Triết Giang, thành phố Quế Lâm tỉnh Quảng Tây và thành phố Hợp Phì tỉnh An Huy. Hình dáng của loài hoa này nhỏ, có màu vàng nhạt, có hương thơm. Vì chữ Quế đồng âm với chữ Quý, do vậy có người dùng âm quý, nếu ở trước nhà trồng hai cây hoa Quế, người ta gọi đó là "Lưỡng Quý Đương Đình" có ý chỉ nhà phú quý cát tường.

Cổ nhân có câu thơ nói rằng: "Quế Tử Nguyệt Trung Lạc, Thiên Hương Vân Ngoại Phiêu" đại ý là dù khi hoa Quế rụng nhưng hương thơm của nó vẫn còn phảng phất đâu đây. Như vậy có thể thấy hàm xúc sâu sắc ẩn chứa trong loài hoa này để từ đó ta có thể hiểu được ý nghĩa của nó như: Nhạc Quế Oanh, Lý Quế Trục, Tô Nguyệt Quế, Triệu Quế Khiêm.

Thuỵ Hương: hoa Thuỵ Hương cũng gọi là "Thuỵ Hương", "Thuỵ Lan", "Bổng Lai Tử" thuộc họ Thuỵ Hương. Mọi nơi ở Trung Quốc hầu như đều trồng loại cây này. Hoa Thuỵ Hương có màu trắng, màu hồng tím nhạt, hương thơm nồng đượm. Hoa Thuỵ Hương là hoa tượng trưng cho thành phố Nam Xương tỉnh Giang Tây Trung Quốc. Loài hoa Thuỵ Hương không những được các danh nhân cổ đại quý trọng gọi là "loài hoa thần kỳ có hương thơm khác lạ", mà còn được đích thân hoàng đế đặt tên, cũng vì thế mà nó mang rất nhiều sắc thái truyền kỳ. Do những người dùng tên loài hoa này làm tên rất ít, nên có thể dùng tên trực tiếp của loài hoa này để đặt tên như: Triệu Thuỵ Hoa, Tôn Thuỵ Hương, Tống Kim Thuỵ, Trương Tử Thuỵ...

Hoa Nhài: thuộc họ dị truyền, là loại cây leo. Loài hoa này xuất xứ ở ven bờ vịnh đại Đoả và Ai Cập. Từ khi người Trung Quốc mang loài hoa này về nước mình thì đã có trên 1000 năm. Hiện nay mọi nơi đều trồng, Hoa Nhài có màu Trắng, có hương thơm. Hoa nở vào tháng 6 gọi là "hoa Mai", hoa nở từ tháng 7 đến tháng 8 là "hoa Phù" hoa nở từ tháng 9 đến tháng 10 là "hoa Thu". Trong số này "hoa Phù" là hoa sống lâu nhất và có hương thơm lâu, là một trong những loại hoa có hương thơm nổi tiếng. Hoa Nhài có một cách gọi hay đó là "Nhân gian đệ nhất hương" (Hương thơm nổi tiếng nhất trong nhân gian).

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế