Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Từ ca ngợi vẻ đẹp và bộ vương trong tên con gái

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202616 phút đọc2 lượt đọc
Từ ca ngợi vẻ đẹp và bộ vương trong tên con gái

Có một cô bạn học tên là Hoàng Nhân Quyết, xinh đến mức bạn bè trong lớp đều bảo cô không hổ danh tuyệt thế giai nhân. Người xưa đặt tên con gái, ngoài mượn những chữ ca ngợi vẻ đẹp trực tiếp, còn có một cách khác tinh tế hơn: chọn đúng chữ Hán mang bộ "vương" — vốn là gốc của chữ Ngọc…


Những từ ca ngợi vẻ đẹp phụ nữ dùng để đặt tên con gái

Đặt tên cho con gái bằng việc dùng những từ ca ngợi miêu tả người con gái đẹp, thường làm cho người nghe cảm thấy hay và không quên được, những từ này dùng để miêu tả về đẹp của người con gái rất nhiều. Dưới đây là một số từ cung cấp cho các bạn có thể chọn lựa trong việc đặt tên như: Khuynh Thành, Bế Nguyệt, Tu Hoa, Trầm Ngư, Nhu Mỹ, Nhu Mỵ, Tú Mỹ, Mỹ Lệ, Uyển Ước, Đoan Trang, Nhân Tĩnh, Nhân Nhã, Thông Tuệ, Ôn Uyển, Kiều Diễm, Thanh Lệ, Thanh Xã, Nhiều Mỹ, Băng Thanh Ngọc Khiết, Kiều Mỹ, Thanh Linh Như Thuỷ, Thiên Kiều Bách My, Tú Cốt Thanh Tú, Đình Đình Ngọc Lập...

Trên đây là một số từ rất đẹp, như "Trầm Ngư" và "Lạc Nhạn" là hai từ dùng cho người đẹp thời cổ đại, nhưng khi dùng loại từ trên để đặt tên phải biết con gái của mình sau này lớn lên là một cô gái xinh xắn mới được.

Làm thế nào dùng những từ miêu tả người con gái đẹp để đặt tên? Đầu tiên phải chú ý đến từ mình chọn với giới tính, khi đọc phải thuận mồm.

"Khuynh Thành" từ này dùng để miêu tả vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của một người con gái. Xem xét về phương diện âm đọc nếu bạn họ Tần đặt tên cho con là "Tần Khuynh Thành" khi đọc lên không thuận miệng đồng thời không hay. Nếu bạn họ Hoa, đứa trẻ tên là "Hoa Khuynh Thành" lại rất đẹp.

"Bế Nguyệt" người xưa thường thích dùng những từ như "Bế Nguyệt, Tu Hoa" để hình dung vẻ đẹp của người con gái. Nhưng có điều dùng từ "Bế Nguyệt" làm tên, với một số tên họ không thích hợp như: Tất, Bì, Mã, Ngưu... Khi đi với những chữ này rất dễ xảy ra nhiều ý khác, đọc liền cũng không hay. Ngược lại như họ: Trương, Vương, Lý, Triệu, Lưu... lại đều có thể kết hợp với từ "Bế Nguyệt" làm tên, đặc biệt "Văn Bế Nguyệt" là một cái tên rất hay.

Dùng những từ ca ngợi, miêu tả người con gái đẹp để đặt tên không nhất thiết quá câu nệ vào từ gốc, nhưng trên cơ sở của những từ này có sự thay đổi, vì có một số từ trực tiếp dùng ở trong tên người nhưng nghe không thường dùng, như tên là Mỹ Lệ thì không thường dùng, hay như tên là Ung Dung nghe không hay, có thể hợp hai từ này lại, nhưng hai từ Ung Dung và Mỹ Lệ nếu đặt một mình ở trong tên người thì nghe không hay, cần phải thay đổi một chút, như gọi là Ung Lệ, Trương Ung Lệ đương nhiên sẽ hay hơn Trương Mỹ Lệ, thêm vào đó nó lại mang trong đó một ý nghĩa nhất định, khả năng trùng tên rất thấp.

"Nhu Mị" từ này dùng trong tên người sẽ có một chút kiều cường, nhưng nếu dùng đảo ngược lại là "Mị Nhu" để đặt tên thì cũng rất mới mẻ, các tên họ như: Trương, Vương, Lý, Lưu kết hợp với "Mị Nhu" để đặt tên sẽ nghe rất hay. Họ kép mà dùng chữ này cũng được như Đông phương Mị Nhu.

"Tú Mỹ" từ này có thể dùng làm tên, nhưng chữ "Tú" là chữ thường dùng trong tên, các tên họ như: Trương, Vương, Triệu, Lưu tốt nhất không nên dùng, vì rất dễ trùng tên, ngược lại các tên họ như: Phạm, Nhiệm, hoàn toàn có thể dùng được như: Phạm Tú Mỹ, Nhiệm Tú Mỹ.

"Điềm Tĩnh" từ này có nghĩa là yên tĩnh, người con gái dùng từ này để đặt tên là người rất nho nhã, lịch sự, như Trương Điềm Tĩnh sẽ hay hơn Trương Tĩnh. Cũng có thể dùng Tĩnh Điềm làm tên như: Dương Tĩnh Điềm nghe cũng rất hay.

"Ôn Nhu, Uyển Ước" hai từ này trực tiếp kết hợp với họ đều không hay. Có thể dùng Nhu Uyển hay Uyển Ôn. Hay như Lý Uyển Ôn, Tạ Ôn Uyển đều là những tên biểu hiện tính cách dịu dàng, uyển chuyển của người con gái.

"Diễm Nhược Minh Hà" câu thành ngữ này nhằm so sánh vẻ đẹp của người con gái với những chòm mây sáng trên bầu trời, khi đặt tên có thể dùng ngay từ Minh Hà hay Diễm Hà làm tên, như Giang Diễm Hà nghe rất hay. Nhưng điều phải chú ý ở đây là chữ Hà sử dụng trong tên nhiều họ phổ biến không nên dùng.

"Nhân Tĩnh và Nhân Nhã" là hai từ miêu tả phong cách phong thái của người con gái, nếu thay đổi, kết hợp hai từ này thì có thể dùng được trong tên. Từ "Nhân Tĩnh" làm tên nghe không hay, đổi thành "Tĩnh Nhân". Trương Tĩnh Nhân, Triệu Tĩnh Nhân lập tức thanh cao, nho nhã đồng thời rất hay. "Nhân Nhã" có thể trực tiếp dùng trong tên, cũng có thể đổi thành "Nhã Nhân" như Mục Nhã Nhân, Hứa Nhã Nhân.

"Thông Dĩnh, Thông Tuệ" là hai từ cận nghĩa chỉ sự thông minh lanh lợi của người con gái, trong đó từ Dĩnh và Tuệ là hai chữ thường dùng trong việc đặt tên ngày nay, đặc biệt là tên đơn, xác suất trùng lên Lý Dĩnh, Vương Dĩnh, Lý Tuệ rất lớn. Để tránh trùng tên, các họ không phổ biến có thể trực tiếp dùng Thông Dĩnh, Thông Tuệ để làm tên như Mai Thông Dĩnh, Phan Thông Tuệ, họ phổ biến có thể thay đổi một chút như Lý Dĩnh Thông, Trương Tuệ Thông. Như vậy, có thể giảm được phần lớn khả năng trùng tên.

"Sính Đình và Niểu Na" là những từ miêu tả dáng dấp của người con gái, nhưng nếu dùng Sính Đình để đặt tên sẽ không hay bằng dùng "Đình Đình" chỉ điều từ "Đình Đình" chỉ bị trùng tên. Từ Niểu Na dùng để đặt tên cũng không hay bằng nếu như dùng "Na Na", nhưng các bé gái còn có thể gọi là "Na Na" khi lớn lên rồi lại nghe không hay. Vì vậy dùng hai từ này để đặt tên phải thay đổi một chút thành "Na Đình" hay "Đình Na" như Liễu Đình Na.

"Kiều Diễm" miêu tả vẻ đẹp của người con gái, có thể trực tiếp làm tên, nhưng nên biến đổi một chút thì sẽ hay hơn. Như: Lý Kiều Diễm hay không bằng Lý Diễm Kiều, họ kép cũng có thể lấy từ "Diễm Kiều" Âu Dương Diễm Kiều nghe có cảm giác hay hơn Âu Dương Kiều Diễm.

"Linh Tú" là từ miêu tả người con gái thông minh xinh đẹp, những người có tên là Lý Linh Tú, Vương Tú Linh rất nhiều, ngoài ra có khi còn tách đôi làm tên như "Linh" hay "Tú" ví dụ tên gọi là Chung Linh, Dương Tú. Có thể thấy rằng hai chữ này rất thích hợp dùng với tên của con gái. Nhưng dù là Linh Tú hay Tú Linh, hoặc dùng đơn "Linh", "Tú" đều rất dễ trùng tên, do vậy trước và sau hai chữ Linh và Tú thêm chữ thích hợp sẽ làm cho ý nghĩa của tên sâu sắc hơn, đồng thời cũng giảm bớt sự trùng tên như: Trương Linh Kính, Hồ Linh Phi, Dương Thâm Tú.

"Băng Thanh Ngọc Khiết" là câu thành ngữ chỉ cái phẩm chất thuần khiết của người con gái, Băng Thanh, Ngọc Khiết có thể chia ra và dùng trực tiếp trong tên người như: Dương Băng Thanh, Trương Ngọc Khiết. Cũng có thể chọn lựa chữ trong đó để đặt tên như: Dương Ngọc Băng, Kim Thanh Ngọc, Lý Khiết Băng.

"Kiều Mị" miêu tả tư chất tốt đẹp của người con gái có thể dùng trực tiếp đặt tên. Nếu như thay đổi Kiều Mị thành Mị Kiều, thay đổi thanh 4 của chữ cuối cùng thành thanh 1 thì nghe sẽ hay hơn như: Lý Mị Kiều, Lâm Mị Kiều...

"Thanh Linh Như Thuỷ" miêu tả người con gái trong trắng thuần khiết như nước. Dùng nó đặt tên và chú ý dùng chữ "Như". Ví dụ: Triều Như Thanh, Dương Như Thuỷ, Lý Như Linh, hoặc có thể thay đổi chữ "Như" thành chữ "Nhược" cùng nghĩa nhưng không cùng âm, như Chu Nhược Thanh, Giang Nhược Thuỷ, Trương Nhược Linh..

"Ôn Như Như Mộng" miêu tả sự dịu hiền có một chút mơ mộng của người con gái. Dùng để đặt tên như: Lý Như Mộng ngoài ra còn có thể dùng hai chữ như: Như Vân Mộng Như.

"Thiên Kiều Bách Mị" trên cơ sở nhẹ nhàng, mềm mại thêm thành phần tu sức. Từ "Thiên" và từ "Bách" xuất hiện không nhiều trong tên, trên thực tế không phải không sử dụng được. Còn nhớ tôi có người bạn học cấp một tên là Sử Thiên Thiên, nghe tên cũng hay. Do vậy có thể thấy lấy tên là Bách Kiều hay Thiên Kiều đều có thể được như Lâm Bách Kiều.

"Tú Cốt Thanh Tú" miêu tả các phẩm chất đức hạnh tốt đẹp và dung mạo đẹp đẽ thanh thoát của người con gái. Trong đó chữ "Cốt" không thích hợp cho việc đặt tên, nhưng Thanh Tú, Tú Thanh hay Thanh Tú đều có thể dùng được trong tên người như: Lý Thanh Tú, Trương Thanh Tú. Tần suất sử dụng chữ Thanh Tú trong tên họ rất cao, các họ phổ biến lấy nó làm tên rất dễ xảy ra trùng tên, tên họ không phổ biến hay tên lục kép hoàn toàn có thể sử dụng như: Điêu Thanh Tú.

"Nộn Liễu Phất Thuỷ" miêu tả dáng vẻ nhẹ nhàng của người con gái, ngoài ra còn hàm chứa sự dịu dàng của người phụ nữ. Khi đặt tên có thể dùng Phất Liễu, sở dĩ lấy chữ Liễu để miêu tả sự dịu dàng như Ôn Phất Liễu, Dương Phất Liễu.

"Phiêu Dật Thanh Tú" so với "Thanh Tú" thì sắc thái lãng mạn đã tăng thêm có thể dùng chữ "Dật Thanh" hoặc "Thanh Dật" để đặt tên như: Tô Dật Thanh, Triệu Thanh Dật,... khi nghe có cảm giác nhẹ nhàng và có nhiều ý vị.

"Đình Đình Ngọc Lập" miêu tả thân hình thon thả và xinh đẹp của người con gái. Có nhiều con gái tên là "Đình Đình" nhưng nghe nhiều rồi cảm thấy bình thường, không hay. Thực ra chữ "Đình" vẫn có thể dùng, chỉ cần tránh tên đơn hay chữ kép thường gặp (Trương Đình, Trương Đình Đình), thay đổi một chút sẽ có những tên hay mới lạ như: Trương Đình Ngọc, Trương Vũ Đình...

Có thể thấy rằng, từ dùng để miêu tả về đẹp của một người con gái rất phong phú giúp cho bạn có thể lựa chọn, song để có được một cái tên hay và ý nghĩa điều này còn phụ thuộc vào cách suy nghĩ của mỗi người trong chúng ta.

Chọn chữ có bộ "vương" mang ý nghĩa cao quý cho tên con gái

Nếu bộ "nữ" gợi vẻ dịu dàng, thì bộ "vương" — vốn là gốc của chữ Ngọc — lại gửi gắm một điều khác: sự quý phái.

Những chữ có bộ vương làm bộ thủ trong tiếng Hán thường có một phần ý nghĩa, những viên Ngọc đẹp có giá trị trong đó có một cái tên thích hợp cho con gái, thường có những chữ sau: Cửu, Mã, Vĩ, Phân, Quyết, Kha, Long, Sau, Linh, Trân, Phách, Mán, Pha, Già, Hồn, Nhĩ, Cũng, Dao, Chu, Lang, Uyển, Quỳnh, Thâm, Kỳ, Anh, Lâm, Côn, Cư, Sắt, Viêm, Du, Khôi, Đường, Dao, Chương, Tuyền, Cầu, Hoàng, Thời, Phác, Lộ, Toàn.

Chúng ta sẽ nghiên cứu cách dùng những chữ trên đây trong việc đặt tên.

Chữ "Cửu" là một loại đá có màu đen nhạt rất giống Ngọc. Theo khảo sát nghiên cứu tài liệu trong hộ tịch ở thành phố Bắc Kinh, những người dùng chữ "Cửu" (nghĩa khác chữ "Cửu" trên) rất nhiều, số người dùng chữ "Cửu" rất hiếm, điều này cho thấy chữ "Cửu" này nên khai thác và sử dụng trong việc đặt tên. Ta thấy rằng từ góc độ nghĩa của chữ, chữ "Cửu" có nghĩa đẹp, rắn chắc, tên của người con gái mang hai tầng nghĩa này thì đã rất đầy đủ. Âm đọc của chữ "Cửu" cũng phù hợp với người con gái thích tên họ giống tính cách con trai.

Chữ "Mã" là một loại đá mã não. Đá mã não là một loại khoáng vật đẹp như Ngọc, dùng chữ "Mã" để đặt tên ít nhiều cũng có một chút gì đó mới lạ, nghe rất là thú vị, như Triệu Mã Ngọc, Lý Kiều Mã, Lạc Mã Lệ.

Chữ "Vĩ" là một loại ngọc nổi tiếng, mang ý nghĩa quý hiếm và đắt tiền. Dùng chữ này đặt tên có rất nhiều chữ có thể kết hợp với nó như: Lưu Vĩ Lăng, Lý Vĩ Đồng, Triệu Tích Vĩ, Trương Vĩ.

Chữ "Tán" là tên gọi của một loại ngọc. Hiện nay mọi người dùng chữ "Phần" nhiều hơn, nhưng dù sao chữ "Tán" hay và đẹp hơn chữ "Phần". Chữ "Tán" là chữ có nhiều âm đọc, khi nói đến đá ngọc phải đọc âm "bìn" âm Hán việt là "Tán". Nhưng người viết cho rằng dùng chữ "Phần" để đặt tên cũng khá hay, vì đa số mọi người không biết ý nghĩa đích thực khi gọi tên, hơn nữa lại phải phân biệt ra âm đọc của những chữ đa âm. Viết kết hợp với chữ "Phần" rất dễ rơi vào trường hợp lâu ngày thành bình thường không hay, do vậy phải chú ý tránh những chữ kết hợp với chữ "Phần" như: Tuyết, Thục, Ngọc,... tốt nhất không nên dùng, có thể dùng tên như Lý Song Phần, Vương Cảnh Phần, Lưu Tự Phần.

Chữ "Kha" chỉ một loại đá giống Ngọc. Trong tài liệu về nhân khẩu dùng chữ này đặt tên đa số là tên đơn như: xa Kha, Lý Kha. Nhưng chữ này nếu dùng trong tên có ba chữ sẽ hay hơn, hàm ý sâu hơn, ngoài ra nếu dùng ở giữa hoặc ở cuối đều có thể được như Lý Kha Trương, Vương Kha Mai, Lý Mai Kha, Trương Ngọc Kha...

Chữ "Quyết" chỉ hai miếng Ngọc ghép lại với nhau. Còn chữ thời trung học, một người bạn cùng trường tên là Hoàng Nhân Quyết. Do chữ "Quyết" có âm đọc trùng với chữ cùng âm đọc là Quyết (chữ khác) người bạn đó rất xinh vì vậy có rất nhiều người trong lớp nói người ta không hổ danh là tuyệt thế giai nhân trong lòng mọi người. Khi đó, tôi đã có một ấn tượng rất sâu sắc với chữ "Quyết" này. Dùng chữ "Quyết" để đặt tên, họ không phổ biến có thể dùng tên đơn, họ phổ biến có thể dùng ba chữ. Đồng thời chú ý chọn lựa chữ vào sau cho nó thích hợp như: Vưu Kha, Long Kha, Lưu Văn Kha, Dương Nhuận Kha...

Chữ "Long": chữ "Long" thường có tổ từ là Long Thông, Linh Long, hình dung tiếng vàng ngọc va vào nhau kêu loảng xoảng. Dùng chữ "Long" để đặt tên, mang hàm ý của âm thanh đó. Chữ "Long Thông" có thể trực tiếp làm tên như: Lý Long Thông, cũng có thể kết hợp với chữ khác để đặt tên như: Lý Kim Long, Ư Thích Long, Kim Long Xán...

Chữ "San": về đẹp của San từ luôn làm cho người ta cảm thấy thích thú, vì vậy người dùng chữ này đặt tên cũng khá nhiều. Để nghiên cứu chữ này người viết đã tra cứu rất nhiều tài liệu nhân khẩu và đã thấy rằng không cần biết họ gì, mỗi một tên họ đều có tới mười mấy người tên là "San San", tần suất của loại tên này làm chúng tôi không nghĩ tới. Do vậy có thể thấy rằng tên gọi trùng "San San" rất bình thường. May mà âm đọc của nó có thể kết hợp được với nhiều chữ khác, nên dùng nó để đặt tên quả thật không phải là chuyện khó như: Tô San Na, Lý San Tuyết, Hứa Uyên San...

Chữ "Linh": là từ tượng thanh, miêu tả tiếng ngọc va vào nhau. Có câu thành ngữ "Tinh xảo thanh thoát" để nói lên sự tinh tế tinh xảo của đồ vật, nhưng những họ phổ biến thường dùng trong tên người như họ: Trương, Vương, Lý, Triệu,...dùng với chữ "Linh" để đặt tên rất dễ trùng tên, những họ không phổ biến có thể tránh được việc này như: Sao Cương Linh, Tân Linh Ngọc, Trang Linh Tích...

Chữ "Trân": chỉ những thứ quý giá, đây là một trong những chữ có tần suất sử dụng rất cao. Hiện nay, mà còn tập hợp trong một số tên như: Tú Trân, Thục Trân, Ái Trân, Bảo Trân, Tổ Trân, do vậy muốn tránh trùng tên chỉ cần chọn lựa kỹ càng chữ muốn kết hợp là được như: Trương Khê Trân, Lý Trân Quân, Ư Trân Tuệ, Vương Đình Trân...

Chữ "Phách": chỉ một loại đá trổ Phách, có thể chế tạo thành các loại hàng thủ công mỹ nghệ, đồ trang sức quý. Chữ "Phách" trong tên người không thường gặp, nhưng dùng chữ này đặt tên rất hay như: Trương Phách Dung, Lưu Văn Phách, Dương Phách Du, Đồng Ngọc Phách...

Chữ "Mân": là một loại đá giống ngọc, hiện nay dùng chữ này để đặt tên rất ít, mà chữ đồng âm với chữ này lại được dùng rất nhiều, trùng tên rất nhiều như tần suất trùng tên của Lý Thục Mẫn gặp mấy lần so với tên Lý Thục Mân. Kỳ thực chữ "Mân" bao hàm ý nghĩa chỉ sự rắn rỏi, xinh đẹp, dùng chữ "Mân" có thể có một cái tên rất nho nhã, cao sang như: Lý Mân Trúc, Triệu Mân Uyên, Vương Trác Mân.

Chữ "Già": là một loại đồ trang sức của phụ nữ thời cổ đại. Tần suất sử dụng chữ này trong tên rất thấp, nhưng tên đồ trang sức làm tên không phải là không có thể. Chữ "Thoa" trong tên Tiết Bảo Thoa "Hồng Lâu Mộng" chính là tên của một loại trang sức (trâm cài tóc), nghe rất hay, nên việc dùng tên đồ trang sức để đặt tên là có thể được. Chữ "Già" dùng trong tên có thể kết hợp với những chữ mang hàm ý chỉ ngọc, đá như: Lý Già Phần, Trương Già Du, Vương Nhuận Già.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế