Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Những chữ bộ vương quý phái để đặt tên con gái

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202617 phút đọc4 lượt đọc
Những chữ bộ vương quý phái để đặt tên con gái

Chữ Quỳnh tưởng mang nghĩa nghèo khó vì đồng âm với chữ Cùng, nhưng thực ra lại gợi dáng dấp giàu sang quý phái — nhà văn Quỳnh Dao đã làm cho cái tên này nổi tiếng khắp nơi. Chữ Đường đẹp và có ý nghĩa nhưng chẳng mấy ai dám dùng, chỉ vì không hiểu hết giá trị của nó. Hành trình tìm một viên ngọc đặt tên cho con gái vẫn còn tiếp diễn…


Thêm những chữ bộ "vương" quý phái để đặt tên con gái

Từng chữ như một viên ngọc, mỗi chữ lại kèm một mẹo phối chữ tránh trùng tên.

Chữ "Hồn": là một loại Ngọc, chữ "Hỗn" là chữ đa âm có hai âm đọc là "Hùi" và "hún" (đọc theo âm tiếng Hán). Chữ "Hỗn" dùng trong tên nên dùng âm "hùi" song song sẽ kết hợp chữ "Hỗn" và chữ "già" với nhau chẳng hạn Triệu Già Hỗn, kết hợp với những chữ chỉ ngọc như: Lý Linh Hỗn, Vương Quỳnh Hỗn.

Chữ "Nhĩ" chỉ cái hoa tai được làm từ ngọc trai hay đá ngọc. Hiện nay một số người muốn dùng chữ có âm của chữ "Nhĩ" (viết khác chữ trên) để đặt tên. Khảo sát từ các tài liệu về hộ khẩu những người có tên là Nhĩ căn không ít đó là sở thích của mỗi người. Những người viết cho rằng chữ có âm đọc là "ẽi" phải kể đến chữ "Nhĩ" nó phù hợp với tên của con gái, vì nó giống như chữ Thoa trong tên Tiết Bảo Thoa vậy, vừa đáng giá vừa là vật trân trọng giữ gìn như: Trương Nhĩ Đan, Lý Nhĩ Ni, Triệu Nhĩ Chu...

Chữ "Cũng" là một loại ngọc ngoài ra có một loại cây gọi là Cũng Đồng, vì vậy mà chữ "Cũng" cũng có thể giải thích là một loài cây. Chữ "Cũng" đọc âm "Cũng" (chữ viết khác) xét về phương diện này chữ "Cũng" dường như không thích hợp với tên có ba chữ. Diễn viên tướng thanh (loại hình nghệ thuật như trẻ môi, trẻ gậy trong chèo, tuồng) có tên đơn là Phùng Cũng, đọc lên còn thuận miệng, nếu mà ba chữ lại không thuận miệng. Nhìn từ góc độ tránh trùng tên không nên đặt tên đơn, nhưng tần suất xuất hiện chữ "Cũng" trong tên hiện vẫn thấp, đây có thể coi là một chữ đặc thù dùng trong tên đơn. Con gái thích nam tính hoá qua việc đặt tên, đồng thời trong tên có hàm ý chỉ ngọc, dùng chữ "Cũng" để đặt tên phải chú ý khi đọc liền với chữ "Cũng" phải thuận miệng như: Tần Cũng, Dương Cũng...

Chữ "Châu" chỉ châu báu ngọc trai, tần suất sử dụng chữ này trong tên gọi rất lớn, nhưng vẫn có nhiều người thích đặt tên cho con trùng tên và mang chữ "Châu" này, có điều phải chú ý đến việc trùng tên nếu không có thể làm cho tên của đứa trẻ trở nên bình thường không độc đáo. Từ góc độ ý nghĩa của từ có một số chữ kết hợp với chữ này có thể có những tên hay hơn nữa khảo sát những tên này trong danh sách hộ tịch lại không có sự trùng tên như: Lâm Châu, Lý Ánh Châu...

Chữ "Dao" chỉ một loài vỏ trai, vỏ ốc có thể dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ. Chữ "Dao" và chữ "Dao" (cùng âm khác cách viết) dùng tên của âm đọc chữ này rất thường gặp như chữ Dao (âm đọc là "Yào"), Nghiêu (âm đọc tiếng Hán là "Yáo"), Diệu (âm đọc tiếng Hán là "Yào"), đều là những chữ dùng để đặt tên rất nhiều. Trong một số chữ đồng âm, sự xuất hiện của chữ "Dao" trong tên rất lớn. Chữ "Dao" dùng ở cuối tên nghe rất hay như: Câu Thuỷ Dao, Vương Thụ Dao, Kim Diệp Dao...

Chữ "Lang": chỉ một loại ngọc, âm đọc của chữ này trong tên của con gái không thường gặp, nhưng vì chữ "Lang" chỉ một loại ngọc nên vẫn có thể dùng trong tên của cô gái. Điều cần chú ý những chữ kết hợp với chữ này trên phương diện về âm đọc phải hài hoà và thuận mồm như: Tiến Lang Ngọc, Tôn Lang Thuần, Lý Lang Cúc.

Chữ "Uyển" chỉ một loại ngọc đẹp, chữ "Uyển" và những chữ đồng âm với nó đều rất thích hợp trong việc dùng để đặt tên, so với tần suất sử dụng chữ đồng âm với chữ này nhưng cách viết rất thấp. Điều đáng thấy đó là nội hàm trong chữ này rất phù hợp với tên con gái, và có thể kết hợp với nhiều chữ khác như: Lưu Uyển Thanh, Châu Bích Uyển, Tế Uyển Tuyên...

Chữ "Quỳnh" cũng chỉ một loại ngọc, chỉ dùng những thứ đẹp và tinh tế. Dùng chữ Quỳnh để nói câu thành ngữ "Nhà vàng Diệp Ngọc" miêu tả ngôi nhà tráng lệ, sang trọng, và câu thành ngữ nói đến loại rượu ngon đều nghe rất hay. Tên Quỳnh Dao một nhà văn nổi tiếng ở Đài Loan càng làm cho chữ "Quỳnh" trở nên nổi tiếng mọi nơi. Nhưng khảo sát cái tên này trong danh sách hộ tịch của những họ phổ biến như: Trương, Vương, Lý, Triệu, Lưu những người dùng chữ "Quỳnh" với chữ "Cùng" (nghĩa là nghèo) mà người dùng ít, thực tế dùng chữ "Quỳnh" không những không bao hàm ý nghèo mà còn thể hiện được cái dáng dấp giàu sang quý phái như: Tất Dịch Quỳnh, Lý Quỳnh Vũ, Thịnh Quỳnh Dao...

Chữ "Diệu" là một loại ngọc. Dùng chữ này để đặt tên thường thấy rất ít, chữ đồng âm với chữ này mà thường dùng là chữ Nghiêm và chữ Viêm, cũng không ít người dùng chữ Nghiêm này. Còn dùng chữ Viêm chỉ là số ít, vì những chữ này kết hợp với chữ này rất bình thường rất khó tìm ra trong đó cái tên mà khiến người khác khen hay. Do vậy có thể thấy rằng dùng chữ "Diệu" để đặt tên cho con chỉ cần tránh được những chữ bình thường trong việc ghép chữ là có thể đạt được hiệu quả vừa không bị trùng tên vừa có ý nghĩa hay như: Trần Diệu Duyệt, Lý Diệu Trác, Trương Diệu Kỳ...

Chữ "Thâm" ý chỉ châu báu. Xét trên góc độ về ý nghĩa của chữ "Thâm" rất thích hợp trong việc dùng đặt tên, nhưng do sự hạn chế âm đọc của chữ này, những chữ kết hợp với chữ "Thâm" thường không có liên quan với nhau mà hàm nghĩa của chúng đồng thời cùng tồn tại. Chính như vậy có thể mở rộng phạm vi chọn chữ như: Lưu Di Thâm, Trương Kỳ Thâm...

Chữ "Kỳ" là một loại ngọc đẹp. Xét từ góc độ âm đọc chữ này rất dễ kết hợp với chữ khác. Khảo sát trong danh sách tài liệu hộ tịch, không hiểu lý do gì mà chữ "Kỳ" dùng đặt tên đơn nhiều. Quả thực những chữ kết hợp với chữ này nhiều hơn nữa những chữ kết hợp với chữ này đều là tên đẹp như: Lý Tử Kỳ, Lưu Ngọc Kỳ, Tống Thiên Kỳ...

Chữ "Anh" cũng là một loại ngọc đẹp, cũng có thể giải thích là màu sắc của ngọc đẹp. Phát âm của chữ "Anh" rất hay, hợp với việc đặt tên, có điều người dùng chữ này hiện quá ít. Tên người mang chữ "Anh" (chữ viết khác) khảo sát trong danh sách tư liệu hộ tịch có rất nhiều họ có tên trùng mà ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Người viết cho rằng xét từ góc độ về mặt ý nghĩa của chữ thì ý nghĩa của chữ "Anh" không kém gì so với chữ "Anh" (chữ viết khác) kia, dùng đặt tên còn thấy hay hơn như: Trương Tường Anh, Vương Anh Phàm, Lưu Cát Anh...

Chữ "Lâm" là viên ngọc đẹp, xét từ góc độ khảo sát danh sách tư liệu hộ tịch việc dùng chữ này đặt tên rất phổ biến, đồng thời cũng rất dễ trùng tên, nhưng cách đọc và ý nghĩa của nó thì rất nhiều người thích. Như vậy, nếu muốn dùng chữ này mà không bị trùng tên phải làm thế nào, phân tích từ góc độ khảo sát trên danh sách hộ tịch, những người dùng chữ "Lâm" đa số đều là tên đơn như: Vương Lâm, Lý Lâm và có đến hàng ngàn hàng vạn người, còn người dùng chữ Lâm với ba chữ đa số họ đã kết hợp với những chữ đã có thông thường, do vậy để tránh trùng tên phải chọn lựa chữ nào mà âm đọc mới lạ, hay đồng thời phải thuận mồm như: Trương Thì Lâm, Lý Lâm, Tôn Lâm Tiêu...

Chữ "Kỳ" (chữ khác) chỉ một loại ngọc đẹp, cũng có ý nghĩa chỉ tên đẹp, khác người. Chữ "Kỳ" với chữ "Kỳ" (khác cách viết) đều có âm đọc hay và mang ý nghĩa hay, nhưng có điều người sử dụng chữ này cũng nhiều. Mặt khác chữ "Kỳ" thích hợp với người có tính cách mạnh mẽ, chỉ cần phối hợp chữ sao cho hợp lý là có tên đẹp như: Lý Kỳ Nhã, Lưu Lý Gia, Tôn Kỳ Điệp, Ngô Tiến Kỳ, Trương Dung Kỳ, Tạ Thục Kỳ...

Chữ "Côn" là một loại ngọc, chủng loại ngọc này rất nhiều, có rất nhiều tên gọi hay, "Côn" là loại ngọc được biết đến không nhiều, không bằng sự nối tiếp của chữ "Côn" trong tên Núi Côn Lôn một nơi ai cũng biết tới. Nhưng chữ Côn trong tên Côn Lôn thích hợp với tên của Nam, còn "Côn" (chỉ ngọc) hợp với tên con gái, mà hơn nữa chữ Côn (chỉ ngọc) về âm đọc có kiêm luôn khí phách của chữ Côn (trong Côn Lôn). Do vậy dùng chữ này đặt tên sẽ có cái tên cứng rắn nhưng vẫn toát ra vẻ dịu dàng của người con gái như: Triệu Côn Du, Trương Côn Kỳ, Lý Côn Tiêu...

Chữ "Cư": Cư là một loại ngọc được trang trí đeo trên người của người xưa. Tần suất sử dụng chữ này trong tên cực thấp, người ngày nay rất hiếm khi nhìn thấy loại ngọc này đeo trên người. Xét từ góc độ này mà nói, nó chỉ là ngọc có thể đeo trên người nhưng tất nhiên phải là ngọc đẹp. Đặt tên không cần theo đuổi một cái tên hay, nổi tiếng điều quan trọng là đặt tên đó phải tồn tại. Chữ "Cư" chỉ loại ngọc rất hiếm, chữ "Cư" trong tên người lại càng ít thấy khi nhìn, hai điều này có thể thấy dùng chữ này đặt tên rất hay, độc đáo. Dùng chữ này không nhất thiết tìm những chữ nào phải có hàm nghĩa kết hợp với nó, nhưng chú ý âm đọc, vì có nhiều chữ đọc giống âm này, để tránh sự phát sinh ý nghĩa khác, chữ "Cư" tốt nhất nên đặt ở giữa hoặc cuối nghe hay như: Vương Cư Đồng, Trương Cư Tuyết, Lý Cư Sang...

Chữ "Sắt": Sắt là một loại nhạc khí thời kỳ cổ đại, là một loại nhạc khí có dây. Hiện nay dùng tên của các loại nhạc khi đặt tên chủ yếu dùng chữ "Cầm" và nó cũng được tính là chữ thường dùng trong tên họ. Nếu khảo sát trong danh sách hộ tịch chữ "Sắt" không phải là chữ thường dùng, người dùng chữ này đặt tên rất ít. Sở dĩ chữ này dùng ít trong tên người là do âm đọc của nó giống âm chữ khác mà âm chữ đó không phải chữ thích hợp với chữ "Sắt" này. Dùng chữ Sắt đặt tên, âm chữ ở cuối tên nên là chữ có âm bằng hoặc chữ có âm hướng đi lên như: Trương Sắt Cầm, Lý Sắt Tiêu, Chu Sắt Đạo...

Chữ "Viên" là một loại khuyên ngọc, chữ "Viên" trong tên người có tần suất sử dụng không cao hơn so với tần suất sử dụng chữ "Viên" (chỉ con gái đẹp), nhưng về ý nghĩa nội hàm mà nói không kém gì so với chữ "Viên" đó. Chỉ vì chữ Viên đồng âm với chữ Yuàn và âm đọc hướng xuống, do vậy không nên dùng ở cuối tên, tốt nhất nên dùng ở giữa như: Cao Viêm Uyển, Vương Viên Lệ, Trương Viên Công...

Chữ "Du" chỉ loại ngọc đẹp, cũng có thể giải thích là màu sắc của ngọc. Dùng chữ Du đặt tên và dùng những chữ chỉ những loại châu báu, ngọc đá để kết hợp, như vậy ngọc có thể luôn thấy nhau toả sáng cho nhau như: Phùng Long Du, Lý Lâm Du, Vương Bích Du. Nếu không dùng chữ chỉ ngọc để kết hợp cũng có thể có được tên hay như: Tống Du Huy, Vương Du Kính, Triệu Đan Du...

Chữ "Khôi" mang ý nghĩa chỉ sự quý hiếm, "Khôi bảo" là một thứ đặc biệt quý giá, trong tên người, người dùng chữ này không nhiều, vì chữ "Khôi" đọc âm "gùi" (nghĩa âm Hán việt là "Quy"), do vậy mà khó ghép chữ, nam giới không thích dùng chữ "Khôi" còn con gái nếu dùng chữ này tạo thành tên nghe rất hay như Khôi Lệ, tên này hình dung sự vật đẹp khác thường. Khôi Vĩ tên này mang ý nghĩa chỉ tính cách người này rất đặc biệt hay lời văn lời lẽ rất hay. Do vậy có thể thấy rằng dùng chữ "Khôi" để đặt tên hoàn toàn có thể làm được như: Bành Khôi Thu, Thẩm Khôi Lệ, Trịnh Khôi Mạnh...

Chữ "Đường" chỉ một loại ngọc. Trong những chữ có liên quan đến ngọc, âm "Đường" rất dễ ghép chữ, dùng trong tên nghe rất hay, nhưng không biết tại sao trong danh sách tư liệu hộ tịch có rất ít người dùng chữ Đường để đặt tên có thể do mọi người không hiểu ý nghĩa của chữ này mà không dám dùng để làm tên. Người viết cho rằng không cần biết giá trị của ngọc như thế nào, chỉ cần là ngọc sẽ có vẻ đẹp bên trong của nó. Chữ này vừa hay lại vừa ý nghĩa, không dùng nó thì thật đáng tiếc.

Dùng chữ "Đường" đặt tên có thể lợi dụng được độ vang của âm này như: Tạ Uyển Đường, Đường Tiểu Đường, Trương Úc Đường...

Chữ "Dao" (chữ khác) là một loại ngọc rất đẹp, Đàn Dao Cầm mà người xưa dùng chính là một loại Đàn có khảm ngọc. Dao Trì trong truyền thuyết thần thoại là nơi Tây Vương mẫu ở. Dùng chữ "Dao" làm cho tên giàu sắc thái lãng mạn: Dao Trì, Tống Dao Cầm, Trương Dao Gấm, Lý Dao Mai, Chu Dao Trầm. Dùng những chữ tô điểm cho ngọc để tô điểm cho chữ Dao như: Lý Anh Dao, Trương Bích Dao, Vương Trường Dao...

Chữ "Chương" là một loại mỹ nghệ bằng ngọc thời cổ đại. Trong tên người thường gặp nhất là chữ "Chương" (khác cách viết), và con trai đã dùng rất nhiều. Chữ "Chương" thì con gái dùng không nhiều có thể do Chương là một loại mỹ nghệ bằng ngọc và chữ kết hợp với nó vẫn có hạn chế. Nhưng lấy ý nghĩa của hai chữ này và sự tồn tại của nó vẫn có thể tìm được không ít chữ có thể ghép với chữ này như: Ngô Chương Bính, Lý Chương Y, Lưu Thuỷ Chương.

Chữ "Tuyền" chỉ một loại ngọc đẹp. Thời kỳ cổ đại người ta gọi ngôi sao thứ nhất đến ngôi sao thứ tư trong chòm sao Bắc đẩu là Tuyền, vì phát âm của chữ này nghe hay, hàm ý sâu sắc, hơn nữa ảnh Trịnh Chu Tuyền nổi tiếng cũng dùng chữ này làm tên, làm cho nó ai ai cũng nhận ra. Hiện nay số người dùng chữ này làm tên rất nhiều, đặc biệt là tên đơn dùng rất phổ biến. Từ góc độ để tránh trùng tên nếu dùng chữ "Tuyền" thì những chữ kết hợp với nó phải là chữ mà tên xuất hiện sự đối lập ít như: Trương Thu Tuyền, Triệu Văn Tuyền, Vương Tuyền Mai..

Chữ "Cầu" là một loại ngọc đẹp. Chữ này thích hợp dùng trong việc đặt tên, dù đặt giữa hay cuối thì tên đọc lên vẫn xuôi như: Lưu Cầu Đổ, Vương Cầu Tú, Trương Cầu Văn, Vương Du Cầu, Trương Định Cầu, Đinh Lê Cầu...

Chữ "Hoàng" là loại ngọc bán nguyệt. Tần suất sử dụng chữ này trong tên rất cao, điều này có thể do vấn đề về âm đọc của nó. Âm đọc của chữ Hoàng đồng âm với chữ "Hoàng" (màu vàng) xét về phương diện màu sắc màu được dùng nhiều nhất trong tên người là Hồng, Tử, Lam còn chữ Hoàng (màu vàng) dùng rất ít, quả thực trong tên người có âm đọc là Hoàng thì không có gì là lạ, thời nhà Thanh có Hoàng đế mới được phép mặc áo màu vàng, có thể thấy màu vàng cũng là màu có địa vị. Con gái dùng chữ "Hoàng" đặt tên, nếu dùng chính xác sẽ có cái tên hay như: Kim Lê Hoàng, Tần Hoàng Châu, Đào Hoàng Dung...

Chữ "Thôi" dùng để miêu tả màu sắc tươi sáng của châu ngọc. Chữ này khi đọc lên hơi không thuận miệng, nhưng trong danh sách tư liệu hộ tịch có rất nhiều người dùng chữ này làm tên, từ những tư liệu này thấy rằng có một số người dùng chữ này làm tên không phải là dùng chữ này để nói về ngọc mà là dùng nó để nói về người hay vật, một vài cái tên này giàu sức tưởng tượng, rất hấp dẫn đặc sắc. Do đó chúng ta có thể dùng chữ "Thôi" và tự tìm cho mình một chữ mà mình thích để ghép với nó như: Trương Thôi Đồng, Vương Thôi Anh, Chu Thôi Tuyền...

Chữ "Anh" (chữ khác) chỉ một loại đá giống ngọc, ngoài ra có từ gọi là chuỗi hạt ngọc là đồ trang sức làm từ ngọc và đeo ở trên cổ, có lẽ có một chút giống như dây chuyền hiện nay. Tần suất sử dụng của chữ này trong tên người cũng không cao, nếu bạn thích chữ mang âm này, có thể tránh chữ Anh (khác cách viết) đó tần suất trùng cao, dùng chữ Anh thay thế, như vậy có thể tránh được sự trùng tên một cách hiệu quả và không bị mất đi sự độc đáo của tên đó như: Vương Lạc Anh, Lý Anh, Chương Vân Anh...

Chữ "Phác": là loại đá ngọc, cũng là loại ngọc không chạm trổ, có câu nói là ngọc nguyên chất để nói về đẹp tự nhiên của nó. Chữ này là chữ thường gặp trong tên người, nam giới dùng nhiều nếu con gái dùng chữ này tốt nhất nên đặt nó ở giữa điều này để làm cho chữ "Phác" ở trong tên có ý nghĩa sâu sắc. Nếu dùng nó ở cuối tên sẽ làm người ta lầm tưởng là tên con trai như: Trương Phác Trác, Lý Phác Tâm, Vương Phác Bảo...

Chữ "Lộ" chỉ loại ngọc đẹp. Xét từ góc độ nội hàm và âm đọc của chữ này, chữ này rất thích hợp dùng trong tên người. Nhưng trong danh sách tư liệu hộ tịch người gọi là Lộ rất nhiều, bất kể họ gì cũng gọi là Lộ Lộ, do vậy bạn chỉ cần đặt tên là Lộ Lộ thì sẽ có mấy chục người trùng tên với bạn. Vì vậy bạn vẫn phải tìm chữ nào thích hợp với chữ Lộ thì mới được. Như: Trương Lộ Quyên, Bạch Lộ Bình, Cao Hồng Lộ, Lý Lộ Hàm...

Chữ "Toàn": Toàn là cái muỗi bằng ngọc dùng trong cúng lễ thời cổ đại mang ý nghĩa đưa đồ ăn lên trời. Nếu như bạn tin tưởng tôn giáo, có thể dùng chữ này đặt tên. Con gái dùng chữ này làm tên nên đặt nó vào giữa, như: Tế Toàn Tiên, Chương Toàn Kỳ, Vương Toàn Hương...

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế