Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Đặt tên con bằng chữ Tuyết, Mưa, Mây, Băng và sương gió

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202611 phút đọc2 lượt đọc
Đặt tên con bằng chữ Tuyết, Mưa, Mây, Băng và sương gió

Một bông tuyết bay lơ lửng, một cơn mưa mùa thu se lạnh, một đợt sương đọng thành băng trên cành lá – những chữ mượn từ mưa gió nghe quen mà hoá lạ: Tuyết, Mưa, Mây, Băng, Lãnh, Ngưng… Có chữ bị dùng tới mức sáo mòn, có chữ mãi vẫn bị bỏ quên dù giàu hình ảnh chẳng kém…


Tuyết, Mưa, Mây và Gió: chặng cuối kho tên hiện tượng tự nhiên

Tuyết: tuyết là một hiện tượng thiên nhiên hay gặp nhất trong cuộc sống thường nhật. Ngày nay đặt tên cho con gái hay là con trai người ta hay dùng chữ Tuyết. Lấy chữ Tuyết để đặt tên có điểm hay nhưng cũng có điểm không hay. Hay ở chỗ âm đọc của Tuyết nghe hay, nội hàm cũng phong phú. Không hay ở chỗ chữ Tuyết đã có quá nhiều người sử dụng. Nếu sử dụng tiếp e rằng sẽ rơi vào sự "đồng hoá". Người viết bài này cho rằng: nếu không muốn lặp lại con đường cũ tốt nhất là bạn hãy bỏ đi những chữ mà người ta thường dùng để đặt tên cho bé như: Tiểu Tuyết, Tuyết Mai, Tuyết Bình, Tuyết Yến,… mà hãy tìm bước đột phá mới làm thay đổi cách thức đặt tên trước kia.

Khi lấy chữ Tuyết đặt tên bạn nên tiến sâu hơn một bước tìm hiểu nội hàm của Tuyết. Trước kia có một nhà thơ đời Đường đã miêu tả về tuyết trong bài "Tuyết Xuân" với nội dung như sau: "Năm mới khi tất cả các loài hoa đều tàn hết hương và mới chỉ có mầm non nhú lên gây sự ngạc nhiên thích thú của đất trời thì Tuyết trắng lại là sắc xuân của màn đêm, nó làm hoa bay trên các ngọn cây". Bài thơ đã miêu tả về tuyết xuân rất đẹp, rất có hồn và được đánh giá là rất có giá trị tham khảo. Khi chúng ta lấy chữ Tuyết để đặt tên thì không phải suy nghĩ để tìm chữ khác sao cho tương xứng mà còn phải gộp những mối liên hệ rộng lớn trong các hiện tượng tự nhiên như: Tuyết với các loài hoa cỏ cây cối, hay Tuyết với sông hồ biển để mở rộng phương diện chọn chữ. Ví dụ như: Trương Tuyết Dã, Trang Mục Tuyết…

Mưa: Mưa là một hiện tượng tự nhiên và được mọi người yêu thích đặc biệt là những người ở các khu vực quanh năm bị hạn hán cho nên lấy mưa làm tên không hề có chút gì là lạ lùng cả. Có điều lấy chữ Mưa (vũ) làm tên cũng có đôi khi không được thuận tai cho lắm. Ví dụ: cái tên "hạ vũ" tức là (mưa mùa hạ) thì sẽ nghe ra là "hạ vũ" (trời mưa). Vậy thì phải sử dụng chữ Vũ (mưa) này như thế nào mới gọi là hay? Người viết bài này cho rằng: lấy chữ Vũ (mưa) để đặt tên phải có chút lãng mạn chứ không thể chỉ đơn giản giải thích nội hàm của mưa là nước cứu hạn hán mà phải phát triển nhiều nghĩa cho mưa (vũ). Ví dụ như: Vương Vũ Đình, Trương Vũ Mạnh (có nghĩa là chồi non sau cơn mưa. Chồi non ấy có thể là của cây cối cũng có thể là của hoa cỏ. Tóm lại, mầm non sau cơn mưa là chỉ hi vọng sung mãn).

Đinh Vũ Thu: Mưa mùa thu tuy có chút se lạnh song nó dễ nảy sinh ra ý thơ hơn nữa mùa hạ.

Mây: Mây là một hiện tượng tự nhiên mà chúng ta thường gặp và cũng là chữ rất hay được dùng để đặt tên. Nhưng hiện nay dường như chữ "Vân" đã dùng quá nhiều. Vậy thì phải làm thế nào để vẫn có thể dùng chữ "Vân" để đặt tên vừa tránh được lạc hậu của tục lệ cũ? Người viết bài này cho rằng lấy "Vân" để đặt tên, có thể tưởng tượng "Vân" là sự hoá thân của lý tưởng cao đẹp. Ví dụ như: Lưu Vân Kiếm (tức là kiếm trong mây mà cũng đồng nghĩa với thiên kiếm, thiên kiếm thường dùng để diệt trừ điều xấu, là hoá thân của chính nghĩa).

Khương Vân Cầm (tức là đàn ở trong mây, đương nhiên đó là chỉ thiên cầm, mà thiên cầm thường là để chỉ âm thanh gì? Nhất định là để chỉ âm thanh thần tiên rồi).

Gió (phong): Phong là chữ thường dùng để chỉ tên. Bản thân nó cũng đã làm cho nhiều cái tên trở thành tên tục. Nội hàm của chữ "phong" vừa có thể nói là đơn giản, vừa không thể nói được như thế. Bởi vì nói là đơn giản do ai ai cũng biết gió là cái gì? Còn nói là không đơn giản là do trong hoàn cảnh không giống nhau thì "phong" cũng có những ý kiến không giống nhau có lúc "Đông phong và Tây phong" là đại diện cho hai thế lực chính trị khác nhau. Trong cách đặt tên thì nội hàm của Phong cũng vô cùng phong phú. Khi sử dụng Phong làm tên không thể dùng tên đơn bởi vì tên đơn không thể nói lên nội hàm phong phú của "Phong" mà phải trên phương diện ý phát triển ý của từ "Phong" để phối hợp chữ tương xứng. Như thế mới có thể không rơi vào tập tục đặt tên cũ. Ví dụ như: Trịnh Thu Phong, Lý Nho Phong…

Cụ, Phiêu và Tiêu: khí phách của những cơn cuồng phong

Cụ: "cụ phong" là chỉ sức gió ở cấp 12. Đối với hiện tượng tự nhiên mà nói thì "cụ phong" là cơn gió có sức mạnh rất ghê gớm. Nếu như bạn muốn đặt tên cho con mang tính hơi mạo hiểm thì bạn có thể tham khảo chữ "Cụ" này, số người lấy chữ "Cụ" đặt tên cho con rất ít khi nhìn thấy và khi tìm chữ khác để phối hợp tương xứng với chữ "Cụ" thì nội hàm của chữ ấy không được quá nông cạn. Ví dụ như: Trương Cụ Tuyết, Mạnh Cụ Châu, Lý Cụ Phong…

Phiêu: "Phiêu" có thể hình dung là hoa tuyết tung bay cùng với gió hoặc là mưa bụi nhẹ nhàng bay bay trong không trung. Ngoài ra chữ "Phiêu" còn có một nội hàm mà bạn có thể hình dung như là phong cách của một người nào đó không giống với đại đa số quần chúng, đó là sự thể hiện một phong cách phóng khoáng, tự nhiên và hoạt bát.

Nếu bạn muốn lấy chữ Phiêu để đặt tên bạn có thể phát triển và mở rộng nội hàm của các chữ như: Phiêu Dương (phấp phới, lay động, tung bay), Phiêu Sái (có nghĩa là tự nhiên, mềm mại), Phiêu Dật (tức là phóng khoáng, tự nhiên, hoạt bát). Ví dụ như: Triệu Phiêu Bình, Vân Phiêu Dật…

Bão (tiêu): Bão tức là cuồng phong, là gió bão. Trong khi đặt tên người ta thường dùng các chữ như: Bưu (cọp con hàm ý dáng vạm vỡ cao lớn), Tiêu (chỉ ngọn cây hoặc là những mốc lớn), còn chữ Tiêu (có nghĩa là bão) này rất ít khi dùng đến.

Nếu như bạn muốn lấy chữ Tiêu (tức là) Bão để đặt tên thì chữ "Tiêu" này sẽ phối chữ hay hơn chữ "Cụ" này mặc dù cả hai chữ đều có chung một nội hàm là chỉ gió mạnh và nổi cuồng phong để dẫn đến kết cục là bão lớn bởi vì chữ Tiêu là thanh bằng. Lấy chữ Tiêu (bão) để đặt tên thì rất có khí phách mà không lệ thuộc vào lề lối cũ. Ví dụ như: Triệu Nghiệp Tiêu (hàm ý chỉ sự nghiệp của con người này giống như cơn cuồng phong, rất phát đạt). Tôn Vũ Tiêu (ý vũ tiêu chính là gió vũ trụ). Bản thân vũ trụ không có gió thổi mạnh nhưng nếu như bạn muốn giống như vũ trụ có gió hay để cho gió của vũ trụ thổi mãi không ngừng. Như thế bạn là người muốn hơi cao, và trí hướng hơn xa xôi rồi đấy.

Chu Hưng Tiêu (hàm ý là cơn gió này không phải là cơn gió bình thường mà là cuồng phong, bão táp). Cơn gió có sức thúc đẩy lớn với xã hội. Nếu như có người nào đó hội đủ "Hưng phong" người đó tất yếu là người có tài.

Băng, Lãnh và Lăng: cái lạnh trong veo của tên con gái

Băng: lấy từ Băng để đặt tên thì mong muốn chủ yếu là cứng rắn và thuần khiết. Ví dụ như: La Băng Thuần, cái tên này rất phù hợp để đặt tên cho bé gái. Nếu như có một bé gái tên là Băng Thanh Ngọc Khiết, vậy thì tương lai của bé sẽ có một vẻ đẹp thánh thiện.

Nguỵ Xương Băng, mang ước mong thuần khiết.

Lãnh: Lãnh là chỉ một cá tính, nhưng chữ này cũng có thể sử dụng trong đặt tên chỉ có điều chữ tương đương với chữ Lãnh rất ít.

Nếu bạn lấy chữ Lãnh để đặt tên cho con thì rất là đặc sắc, nhưng lại tương đối khó để tìm được một từ phối hợp tương xứng và cũng khó giữ được lập trường ý nghĩa của tên bởi vì chữ Lãnh này, nội hàm không phong phú chỉ có nghĩa là ngược lại với Nhiệt (nóng) mà thôi. Người viết bài này cho rằng, khi dùng chữ Lãnh để đặt tên bạn nên để ý nghĩa của chữ phối hợp với từ lãnh này biểu hiện ra ngoài, ví dụ như:

Viên Lãnh Ngọc: cái tên này đương nhiên là chỉ tên của bé gái, nó mang nghĩa là người đẹp nhưng lạnh lùng hoặc là chỉ một người đẹp nhưng kiêu sa.

Cố Lãnh Mai: Mai được nở ra trong mùa đông mà mùa đông chả nhẽ lại không lạnh sao? Nếu như hoa Mai nở trong thời tiết nóng nực như vậy chỉ là hàng giả mà thôi. Nói như thế có nghĩa Lãnh Mai là cái tên rất đẹp.

Lăng: tức là băng hình cầu hoặc mang ý nghĩa là lên cao, ví dụ như là vút lên trời cao.

Nếu bạn lấy chữ Lăng để đặt tên thì nội hàm của nó vô cùng phong phú. Ví dụ nội hàm của các từ như: Lăng Vân, Lăng Tiêu đều là những tên gọi hay, với các tên tiêu biểu, Chương Lăng Xương, Lý Lăng Vân, Hồ Lăng Vũ…

Có hai chữ gần nhau nhất trong kho chữ mượn từ mưa gió sấm chớp: một hạt sương lặng lẽ đọng trên lá, một trạng thái đông cứng của đất trời.

Tùng và Ngưng: hạt sương trong kho tên trời đất

Tùng: Tùng có nghĩa là hạt sương và mưa nhẹ. Khi có sương đọng trên lá đấy là dấu hiệu của thời tiết se se lạnh, hạt sương là những hạt nước có ánh sáng, lạnh và màu trắng được ngưng tụ ở trên cành cây và lá cây mà người ta thường gọi là hạt sương đọng trên lá cây.

Trong cách thức đặt tên thì số người chữ "Tùng" (với nghĩa là cây Tùng) nhiều hơn số người sử dụng chữ Tùng (có cùng âm đọc là "Tùng" nhưng lại có nghĩa khác là hạt sương đọng trên lá cây). Và trong cuộc sống mọi người cũng đã quen với cách gọi là "thụ giác", "băng giao" chứ không gọi là "sương tùng" hay "vũ tùng" mặc dù về mặt nghĩa chúng đều chỉ "sương đọng trên lá cây". Nhưng dưới góc độ để tránh đi tư tưởng trọng danh thì sử dụng chữ "Tùng" trên lại là một biện pháp hữu hiệu bởi vì không những nó dễ phối chữ mà còn là tên hay nữa. Ví dụ như:

Triệu Bách Tùng (cây Bách là cây có sắc lá xanh sinh ra và lớn lên giữa mùa đông băng giá, nhưng trên các lá cây có sương đọng lại thì lẽ đương nhiên là đẹp rồi).

Trương Tùng Cảnh (miêu tả về quan niệm của người dân cấp Nhĩ Tân thuộc Đông Bắc Trung Quốc, họ cho rằng sương đọng lại trên các cành lá là cảnh tượng đặc sắc độc đáo. Nó tương đương với vẻ đẹp hùng vĩ lộng lẫy của đàn băng vậy).

Ngưng: Ngưng mang sắc thái ý nghĩa chỉ: ngưng tụ, đông lại và đóng băng. Trạng thái "ngưng" này có mối liên quan chặt chẽ với hiện tượng tự nhiên, ví dụ như: nước sau khi bị đông lại sẽ thành băng. Trong phương thức đặt tên thì chữ "Ngưng" này không hay dùng bằng một chữ đồng cách phát âm khác là "Ninh" (với nghĩa là an toàn, yên ổn). Chỉ có điều chữ "Ninh" vẫn không tránh khỏi cách thức đặt tên cổ hủ truyền thống bằng chữ "Ngưng". Bởi vì nếu bạn sử dụng chữ "Ngưng" để đặt tên có thể làm còn có nội hàm là "ngưng tụ, đọng lại", tiêu biểu là các tên: Trương Tuyết Ngưng, Lý Hương Ngưng.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế