Bài tổng quan
Tây Sơn, Cửu Hoa Sơn và Hoàng Sơn trong kho tên núi
Một nhà thơ đời Đường ngồi dưới chân núi ngắm chín đỉnh giống hoa sen rồi đổi hẳn tên ngọn núi; một vị hoàng đế truyền thuyết luyện đan trên đỉnh cao nhất – núi non không chỉ có đá và mây, mà còn giữ nguyên vẹn một kho tên cho người đời sau. Từ Tây Sơn canh giữ kinh thành đến Cửu Hoa Sơn mang dáng hoa nở, mỗi ngọn núi gói trong tên gọi của mình một tầng khí phách riêng…
Mục lục · 5 phần
- 01Mượn tên núi để đặt tên con: một hướng đi giàu khí phách
- 02Tây Sơn, Núi Quân Đô và Núi Yến: ba ngọn núi canh giữ kinh thành
- 03Cửu Hoa Sơn: ngọn núi hoá thân từ thơ Lý Bạch
- 04Tế Vân Sơn, Thanh Sơn và Tương Sơn: đạo quán, mộ phần thi tiên và chốn thanh vắng tu tâm
- 05Hoàng Sơn: núi đá luyện đan của Hoàng Đế Hiên Viên
Mượn tên núi để đặt tên con: một hướng đi giàu khí phách
Phần trên chúng tôi đã cùng các bạn nghiên cứu thảo luận vấn đề có liên quan đến việc lấy các hiện tượng tự nhiên để đặt tên cho bé và để giúp các bạn có những kiến thức sâu rộng hơn nữa trong cách thức đặt tên cho con chúng tôi xin mở rộng hơn phạm vi thảo luận, đó là việc lấy tên núi để đặt tên cho con nhằm một mục tiêu là giúp các bạn chọn được cái tên hay, có ý nghĩa để gọi cho đứa con thân yêu của bạn. Cái gọi là lấy sơn núi để đặt tên ở đây không những lấy chữ "Sơn" để làm tên gọi cho con mà còn sử dụng tên riêng của chúng hay những tên gắn liền với lịch sử của ngọn núi ấy làm tên đặt nữa.
Sử dụng chữ "Sơn" làm tên gọi ấy là những điều mà chắc hẳn bạn đã từng nghe qua, chứng kiến qua thậm chí có vài chữ "Sơn" đã trở thành tên thông thường như: Ngọc Sơn, Kinh Sơn, Trấn Sơn, Trương Sơn, Vương Sơn, Tiểu Sơn… Điều này có thể là do tên của sơn núi cũng mang tính khu vực bởi vì người dân ở một địa phương nào đó đều thân thuộc với tên núi của địa phương đấy. Do đó, họ mới sử dụng tên của các ngọn núi đó làm tên đặt cho con mình.
Nghiên cứu thảo luận về việc đặt tên cho con bằng tên của núi thì trước hết cần phải thông thuộc tên của ngọn núi ấy, phải hiểu rõ hàm ý chìm sau phía bên trong của tên ngọn núi ấy. Nói tóm lại, ngọn núi nào cũng có nội hàm, có khí phách riêng của mình. Do đó lấy tên núi để đặt tên có thể con bạn sẽ có các tên rất khí phách và ý nghĩa đấy.
Ở Trung Quốc có rất nhiều tên núi có thể dùng trong cách thức đặt tên, người viết bài này cũng đã thu nhập được một số, vậy xin giới thiệu ở đây để bạn đọc xa gần cùng tham khảo: Tây Sơn, Quán Đố Sơn, Yên Sơn, Thái Hành Sơn, Núi Bàn Sơn, Kiết Thạch Sơn (núi bia đá), Ngũ Đài Sơn, Thái Nhạc Sơn, Vũ Chu Sơn, Hằng Sơn, Thiên Sơn, Tùng Lãnh, Vân Đài Sơn, Kim Sơn, Trung Sơn, Tây Hà Sơn, Tinh Nham Sơn, Hổ Châu Sơn, Vân Long Sơn, Huệ Sơn, Tiêu Sơn, Kim Hoa Sơn, Thiên Đài Sơn, Nhạn Đãng Sơn, Cửu Hoa Sơn, Tiên Hoa Sơn, Tề Vân Sơn, Thanh Sơn, Tương Sơn, Hoàng Sơn, Giả Sơn, Cẩm Bình Sơn, Tương Sơn, Hoàng Sơn, Lư Sơn, Ứng Thiên Sơn, Hoắc Đồng Sơn, Ngọc Sơn, Thạch Trung Sơn, Đơn Nhai Sơn, Chi Phù Sơn, Thành Sơn, Nghi Sơn, Côn Du Sơn, Dịch Sơn, Thái Sơn, Lao Sơn, Quảng Vũ Sơn, Kinh Sơn, Ngoạ Long Sơn, Hào Sơn, Tung Sơn, Toán Sơn, Nhạc Sơn, Hành Sơn, Phục Bụ Sơn, Nam Khê Sơn, Độc Tú Sơn, Ẩn Sơn, Thiều Thạch Sơn, Tây Tiểu Sơn, Phong Đô Sơn, Thanh Thành Sơn, Kiếm Môn Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Long Sơn, Hoa Sơn, Tùng Sơn, Định Quán Sơn, Kiều Sơn, Li Sơn, Lam Điền Sơn, Kỳ Môn Sơn, Hồng Sa Sơn, Hạ Lan Sơn, Yên Chi Sơn, Côn Lôn Sơn.
Khi lấy Sơn để làm tên gọi, một mặt bạn phải chú ý chữ của tên núi nghe có hay không, mặt khác bạn phải để ý tên núi ấy có nội hàm như thế nào? Có những ngọn núi là núi chỉ sự nghèo nàn, ngoài đá ra chẳng còn điều gì cả, như thế dùng tên của ngọn núi ấy sẽ chẳng có nội hàm gì cả. Cổ nhân đã dạy rằng: "Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh, thuỷ bất tại thâm, hữu long tắc linh". Sau khi chúng ta đã có sự hiểu biết về tên núi của các địa danh, thì chúng ta nên hiểu hơn một chút về vấn đề đây tức là những ngọn núi ấy có hay là không có thần tiên?
Tây Sơn, Núi Quân Đô và Núi Yến: ba ngọn núi canh giữ kinh thành
Tây Sơn: Tây Sơn nằm ở phía Bắc thành Bắc Kinh, thuộc thái hành sơn mạch, là một điểm du lịch nổi tiếng của phía Tây của thành phố Bắc Kinh.
Tên riêng của ngọn núi Tây Sơn bao gồm: Vân Thuỷ Động, Lư Sư Sơn, Chính Chưa Tự, Vân Cư Tự, Thạch Kinh Sơn, Lôi Âm Sơn, Lôi Âm Động, Hương Sơn Tự, Ngưỡng Sơn Tây Ẩn Tự, Ngọc Tuyền Sơn, Ngoạ Phật Tự, Cảnh Thái Lăng…
Núi Ngọc Tuyền ở Tây Sơn có khung cảnh rất đẹp, nó gồm có ba động đá, trong động có nước, nước suối rất mát làm cho người khác cũng phải ngưỡng mộ. Trước phong cảnh hữu tình của Tây Sơn, chúng ta không hề có khó khăn gì về trở ngại khi kết luận là: Tây Sơn có nội hàm phong phú, và khi sử dụng núi Tây Sơn và tên núi Tây Sơn đặt tên là điều rất đương nhiên rồi. Ví dụ như: Trương Tây Sơn, Phạm Tây Sơn, Thạch Kinh Sơn, Vương Chính Quả…
Núi Quân Đô: núi Quân Đô nằm ở phía Tây thành Bắc Kinh, ngoài ra nó còn có một tên khác là Bắc Sơn (núi phía Bắc), thuộc yến sơn sơn mạch. Ở đây có khu danh lam thắng cảnh đẹp và hùng vĩ đến mức có sức hút lớn với các đoàn lớn, đó chính là Vạn Lý Trường Thành nổi tiếng trong lịch sử.
Tên chính thường gọi của núi Quân Đô là: núi Yến Vũ, Thứ Trung Miếu, Cư Dung Quan, Minh Thập Tam Long…
Cửu cư trung là một trong những cửu thành trọng yếu của Trung Quốc, là cửa bảo vệ cho phía Bắc thành Bắc Kinh, là con đường rất quan trọng trong giao thông. Trước kia nó thuộc một trong tám phong cảnh nổi tiếng của Bắc Kinh. Nếu bạn lấy tên Sơn Quân Đô đem kết hợp với tên khác thì nội hàm rất thể hiện khí phách. Ví dụ như: Vĩnh Quân Đô, Ly Ngân Sơn, Vạn Trường Thành…
Núi Yến: núi Yến thuộc tỉnh Hà Bắc và nằm ở phía Bắc của thành phố Bắc Kinh.
Tên chính của ngọn núi Yến này là: Cô Trúc Cố Thành, Mạnh Khương Nữ Văn, Cung Thành, Cổ Bắc Khẩu, Sương Linh Sơn, Sơn Hải Quan…
Lấy chữ xưng Tiên Phong để đặt tên: Trần Tiên Phong. Lấy chữ Linh Phong Tự để đặt tên: Trương Linh Phong. Lấy chữ Thuỵ Lộc Tự để đặt tên: Vương Thuỵ Lộc.
Cửu Hoa Sơn: ngọn núi hoá thân từ thơ Lý Bạch
Cửu Hoa Sơn: vốn có tên trước đây là Cửu Tử Sơn, nằm ở trong phạm vi huyện Thanh Dương phía Nam tỉnh An Huy. Có 99 ngọn núi chính là tháp Vương Phong, độ cao so với mặt nước biển 1342 mét, diện tích hơn 100m². Thời kỳ cực thịnh đã từng có hơn 300 miếu mạo, hiện còn giữ được 78 miếu mạo, Cửu Hoa Sơn có tên gọi là "Phật Quốc Tiên Thành" và "Đông Nam Đệ Nhất Sơn", là một trong những ngọn núi nổi tiếng có liên quan tới bốn dòng phái giáo lớn ở Trung Quốc.
Danh lam thắng cảnh ở đây là: Tử Minh đền đài, Tiên Nhân Phong, Thư Cô đàn, Địa táng động, Cung nữ tuyền, Yên toạ Nham, Đông Nhai thần tự, hoá thành Tự, thần Quang Lĩnh, Nhục thân bảo điện, Địa táng tháp, Thái Bạch thư đường, Thiên Trụ Phong, Bích đào Nham, Cẩm Y Thạch,…
Trước đời Đường Cửu Hoa Sơn đã từng gọi là Lăng Dương Sơn, Cửu Tử Sơn. Nhà thơ Lý Bạch đời Đường gặp gỡ những người bạn thân Cao Vân và Vi Quyền, cùng nhau ngồi dưới chân núi phía tây Cửu Hoa Sơn nhìn chín ngọn núi chính giống như những đoá hoa Sen, những nụ hoa sắp nở hướng lên trời, bèn đổi Cửu Tử Sơn thành Cửu Hoa Sơn đồng thời làm thơ để ghi lại sự việc này. Về sau Lý Bạch lại ở Cửu Hoa Sơn. Hiện nay số Cửu Hoa vẫn còn tồn tại: "Thái Bạch Thư Đường" bên cạnh có "Thái Bạch Tẩy Nghiên Trì".
Cửu Hoa Sơn là một thánh địa Phật giáo nổi tiếng của Trung Quốc. Những người đi theo Phật giáo có thể dùng Hoa Sơn, hay tên của những danh thắng ở đây để đặt tên. Ví dụ như dòng chữ Cửu Hoa Sơn làm tên: Triệu Cửu Hoa. Dòng chữ "Thần Quang Lĩnh" tên một trong những danh thắng ở Cửu Hoa Sơn làm tên như: Trương Thần Quang.
Tế Vân Sơn, Thanh Sơn và Tương Sơn: đạo quán, mộ phần thi tiên và chốn thanh vắng tu tâm
Tế Vân Sơn: Nằm ở phía tây thành huyện Hưu Ninh tỉnh An Huy, ngày trước gọi là Bạch Nhạc, là ngọn núi nổi tiếng có liên quan tới đạo giáo. Có 9 ngọn núi như Bạch Nhạc, Sư Sơn, Tượng Sơn... Ngọn núi cao nhất có độ cao 858 mét, diện tích khu danh thắng là 110 km². Núi non trùng điệp, dáng núi kỳ thú.
Danh thắng ở Tế Vân Sơn là: Tử Tiêu Phong, Ngọc Hư Cung, Tế Vân Nha, Thái Tố Cung, Thạch Kiều Nham, Thạch Môn Tự, Thê Chân Nham, Phương Lạp Trại, Hỗn Nguyên Động, Động Thiên Phúc Địa Từ…
Tế Vân Sơn ngoài phong thuỷ làm say đắm lòng người ra, còn có những truyền thuyết về đạo giáo cũng làm xúc động lòng người. Mặt khác xét về phương diện chữ, chữ "Tế Vân" chính là cao như Vân trên trời. Ý nghĩa này cũng rất hay. Ngoài Tế Vân Sơn ra, trong số các danh thắng của Tế Vân Sơn như Tử Tiêu Phong cũng là tên có âm đọc hay. Cũng thích hợp cho việc đặt tên, như: Dòng chữ Tế Vân Sơn đặt tên Trương Tế Vân; hay dùng Tử Tiêu Phong đặt tên: Dương Tử Tiêu.
Thanh Sơn: Nằm ở phía Đông Nam huyện Đường Đồ tỉnh An Huy, Núi non xanh tươi, hùng vĩ, do vậy mà có tên gọi là Thanh Sơn. Thanh Sơn cũng gọi là Tạ Công Sơn, giống như Lý Bạch chết rồi mới trở nên nổi tiếng.
Những danh thắng nổi tiếng ở Thanh Sơn như: Tạ Công Trạch, Lý Bạch Mộ, Long Sơn.
Chữ Thanh Sơn dùng trong tên người rất thường gặp nhưng, không nhất định. Người đặt tên đã biết ý nghĩa nội hạt của ngọn núi nơi mai táng nhà thơ Lý Bạch. Khi có ý nghĩa này rồi thì cái tên đó sẽ có được ý thơ trong đó. Nhưng những họ phổ biến không nên dùng chữ này bởi rất dễ bị trùng tên, còn họ không phổ biến có thể dùng, như: Hạ Thanh Sơn, Lâm Thanh Sơn.
Tương Sơn: nằm ở thành phố Hoài Bắc, tỉnh An Huy, độ cao so với mặt nước biển 342 mét. Phía trước có Hương Lô Phong, phía Tây có Điệp Thuý Phong, phía Đông có Bí Hà Động.
Những danh lam thắng cảnh ở đây là: Bác Cơ Mộ, Hoàn Đàm tàng thư xứ, Tương Sơn Miếu.
Phong cảnh ở Tương Sơn, có nhà thơ đời Thanh tên là Tả Mai đã từng làm bài thơ: "Du Tương Sơn": Tương Sơn danh thắng địa, cổ tự hà niên? Thụ quái danh nan thức, bia tàn ký thất truyền. Bạt khâm tam nguyệt hậu, trường khiếu vạn Phong Điền. Canh tưởng thanh u xứ, nhâm thi nguyệt ảnh viên." Nhà thơ đã miêu tả Tương Sơn rất là thanh vắng, âm u, là một nơi tốt cho việc tu tâm.
Chữ tương ở trong tên có rất ít người dùng, người không biết có núi này thì không biết dùng chữ Tương để ghép với chữ Sơn, vì vậy Tương Sơn là một cái tên hay, độc đáo, như Chương Sơn Tương, Trần Tương Sơn.
Càng vào sâu trong kho tên núi, càng gặp những ngọn núi mang cả một pho truyền thuyết sau lưng cái tên của mình.
Hoàng Sơn: núi đá luyện đan của Hoàng Đế Hiên Viên
Hoàng Sơn: Nằm trong phạm vi thành phố Hoàng Sơn tỉnh An Huy. Trước đây gọi là Y Sơn, sau đời Đường đã đổi thành Hoàng Sơn. Chu vi là 250km, ngọn núi cao nhất là Liên Hoa Phong, độ cao so với mặt nước biển là 1873 mét, núi non dựng đứng, hiểm trở.
Những danh thắng chủ yếu ở đây là: Hiên Viên Phong, Bạch Long Đàn, Luyện Đan Phong, Tổng Dược Khê, Hoàng Sơn Ôn Tuyền, Vọng Tiên Phong, Tiên Nhân Phong, Tiên Nhân Động, Thượng Thăng Phong, Mạnh Phong, Thuý Vi Tự, Kỳ Thạch Phong, Tuý Thạch, Tùng Cốc Yểm, Trịnh Công điếu đài, Thạch Môn Phong, Mai Hoa sơ nguyệt lâu, Văn Thục Viện, Từ Quang Các, Quang Minh Đỉnh, Thiên Đô Phong, Tiêm Giang Mộ, Thuỷ Tín Phong,…
Hoàng Sơn vẫn có tên gọi là Y Sơn, vì núi đá có màu đen lại có ánh sáng phản xạ nên được coi là một loại đá quý, nổi tiếng. Về sau tương truyền rằng Hoàng đế Hiên Viên luyện đan ở núi này, xưa người ta hay gọi là Hoàng Sơn. Theo ghi chép trong "Hoàng Sơn Đồ Kinh" đời Tống dưới Hiên Viên Phong có loài nấm màu tím "Chu Thư Dị Ký" viết rằng: Hoàng đế Hiên Viên đã hái nó. Hiện nay thường có loại nấm tím này, đỉnh núi có tên Thạch Toạ (chỗ ngồi của các vị tiên, và chỗ ngồi của các Hoàng đế). Từ Hà Khánh người đời Minh đã từng hai lần đi thưởng ngoạn Hoàng Sơn và đã viết "Du Hoàng Sơn nhật ký" và "Du Hoàng Sơn nhật ký hậu". Lần thứ nhất là vào tháng hai, đầu đội tuyết đi thưởng ngoạn Thang Tuyền, Từ Quang Tự, Sư Tử Lâm, Quang Minh Đỉnh… Lần thứ hai ông leo lên Hoàng Sơn, Ngọc Phong, Văn Thục Viện, Lịch Phong Hiểu. Bắt đầu xuất phát từ thác nước Nhân Tự, cuối cùng ông cũng leo lên được Thiên Đô Phong nơi mà vết chân của loài người chưa từng nhìn thấy. Ông đã thưởng ngoạn hết những thắng cảnh của "Thiên Thượng Thiên Đô", ông thấy vắng vẻ đẹp của Hoàng Sơn và những ngọn núi trên biển không có gì có thể so sánh nổi và ông đã ca tụng nó hết lời.
Dùng chữ Hoàng Sơn và tên của những danh thắng ở Hoàng Sơn làm tên thì nó có ý nghĩa rất phong phú, nhưng hai chữ "Hoàng Sơn" dùng trong tên không hay bằng tên gọi trước đây của nó (Y Sơn). Do vậy có thể dùng chữ Y Sơn làm tên như trong Y Sơn, Lý Y Sơn. Cũng có thể dùng tên của những danh thắng của Hoàng Sơn làm tên như dùng chữ Thiên Đô Phong làm tên: Vương Thiên Đô.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
