Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Hoa Cúc và hoa Lan, hai loài hoa danh giá trong tên con

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202614 phút đọc0 lượt đọc
Hoa Cúc và hoa Lan, hai loài hoa danh giá trong tên con

Có người từng chê hoa Cúc là loài hoa tục, nhưng ít ai biết hoa Cúc từng được gọi bằng tên nhã "kim cương bất hoại vương". Còn hoa Lan mang trong mình ba cách gọi tôn quý bậc nhất: Quốc Hương, Vương Giả Hương, Hương Tổ...


Cúc, Vũ Y Cam Lam và những đoá hoa mùa đông

Cúc: Cúc cũng có thể gọi là "Cúc Xuân", "hoa Mã lan đầu", Cúc thuộc họ Cúc, nguồn gốc của nó là của Tây Âu, nhưng hiện nay được trồng phổ biến ở các địa phương Trung Quốc. Chiều cao của Cúc vào khoảng 20 cm, hoa có sự đan xen lẫn nhau của các màu như: màu hồng, hồng đậm, màu trắng, và màu hồng nhạt. Cúc và cách gọi khác của Cúc là Cúc xuân đều có thể dùng để đặt tên. Ví dụ như: Trần Xuân Cúc, Tần Cúc...

Vũ Y Cam Lam: cũng có thể gọi là "Y Cam Lam", "rau hoa bao" hay "lá Đỗ Quyên". Vũ Y Cam Lam thuộc họ hoa thập tự, hình dáng của hoa giống như cây cải bắp và bên ngoài được bảo vệ một lớp lá nữa. Theo màu sắc của lá có thể phân chúng thành hai loại đó là: lá có màu đỏ tía và lá có màu trắng xanh. Từ đặc điểm này của hoa có thể thích hợp với tính cách mạnh mẽ, loài hoa này có vị trí rất quan trọng trong đàn hoa mùa đông.

Ở phương Bắc thì người ta ít khi nhìn thấy loài hoa này, để rồi do ngẫu nhiên mà được gọi là "lá Đỗ Quyên", lấy loài hoa này để đặt tên cũng rất ít gặp nhưng nó vẫn có thể lấy để đặt tên. Ví dụ như: Châu Cam Lam, Chu Cam Lam.

Đào Mĩ Nữ: còn có tên gọi là "Tú Cầu Tứ Quý", Đào Mĩ Nữ có nguồn gốc sản xuất từ Ba Tư nhưng hiện nay đã được trồng phổ biến ở Trung Quốc. Chiều cao của Đào Mĩ Nữ khoảng 30 đến 50 cm, màu sắc của hoa được chia thành màu trắng, màu phấn hồng và màu xanh sẫm. Thời gian từ khi hoa nở đến lúc tàn là tương đối dài, từ tháng 4 có thể nở tới ngày sương giáng. Nếu Đào Mĩ Nữ dùng trong đặt tên có thể gọi tắt thành Mĩ Đào. Ví dụ như: Hứa Mĩ Đào, Lâm Mĩ Đào, Lưu Mĩ Đào.

Hoa Anh Túc: cũng có thể gọi là hoa Lệ Xuân Túc Đỗ Quyên, xuân mãn viên. Nguồn gốc sản sinh ra loài hoa này ở Châu Âu, và hiện nay ở các địa phương Trung Quốc cũng có nuôi trồng loài cây này. Cây Anh Túc có chiều cao khoảng 30 đến 90 cm, hoa có rất nhiều màu sắc như: màu phấn hồng, hồng tía... chữ "Ngu" trong cụm từ "Ngu mĩ nhân" (hoa Anh Túc) này là chỉ cá tính cho nên gọi là ngu mĩ nhân thì cũng chẳng có vấn đề gì, chỉ có điều cách gọi khác của hoa Anh Túc này là "hoa Lệ xuân" lại có thể là một cái tên đẹp. Ví dụ như: Mao Lệ Xuân, Lâm Lệ Xuân...

Hoa Cúc: từ "phàm phu tục tử" đến một trong mười danh hoa

Hoa Cúc: hoa Cúc cũng có thể gọi khác đi là Hoàng Lan, tiết hoa thu Cúc... Nguồn gốc xuất xứ của loài hoa này là ở Trung Quốc, việc nuôi trồng loài hoa này đã có lịch sử tồn tại rất lâu đời, sau này được nhập khẩu vào các nước như: Triều Tiên, Bắc Kinh, Trung Sơn (Quảng Đông), Khai Phong (Hà Nam). Giống của hoa Cúc có tới hơn 3000 loài. Các loài Cúc tương đối nổi tiếng là Cúc Sư Kỳ, Cúc Long Đô, ở thành phố Thượng Hải, Cúc Mẫu đơn xanh được trồng ở Vũ Hán, Cúc thập trượng Châu Miên ở Thiên Tân, Cúc hình cầu được trồng ở Bắc Kinh. Đối chiếu theo thời gian hoa Cúc có thể chia thành: Cúc nở sớm, Cúc mùa Thu, và Cúc nở muộn hay còn có thể chia thành Cúc nở tháng 5, Cúc nở tháng 7, Cúc nở tháng 8. Dựa vào màu sắc của hoa có thể chia thành màu vàng, màu trắng, màu hồng, màu tím, màu xanh và màu đen. Hoa Cúc được xếp vào một trong 10 loài hoa đẹp nổi tiếng ở Trung Quốc.

Hoa Cúc tuy là một loài hoa nổi tiếng nhưng có một vài người lại cho rằng lấy Cúc để đặt tên thờ hơi tục, họ coi hoa Cúc như là loài "phàm phu tục tử". Cách quan niệm về hoa Cúc như thế là không công bằng. Bởi vì nếu đứng ở góc độ đặc tính của hoa Cúc mà nói thì hoa Cúc mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Hoa Cúc có tên nhã xưng là "Đán thọ khách" (tư liệu này được rút ra từ tư liệu của đời Tống trong "mộng lương lục. Tháng 9"). Hoa Cúc vẫn còn một cách nhã xưng khác là: "Kim cương bất hoại vương" (dựa theo "thanh dị lục"). Hoa kim cương bất hoại vương cũng là của đời Tống, còn có một nhà thơ đời Đường cũng làm thơ về hoa Cúc với nội dung là: hoa Cúc là loài hoa rụng muộn nhất so với các loài hoa khác, và khi nó rụng xuống thì ta có cảm giác cả dương gian này chẳng còn loài hoa để ta có thể thưởng thức nữa.

Hoa Cúc không được phú quý như hoa Đỗ Quyên cũng không thể sánh vai với vẻ đẹp quý phái, quyến rũ của hoa Lan. Nhưng nó là một loài hoa chịu được gió rét, gian khổ và cũng là loài hoa có thời gian dài hơn bất kỳ một loài hoa nào khác. Do đó không thể liệt nó vào hàng "phàm phu tục tử" được.

Lấy hoa Cúc để đặt tên không nhất thiết phải sử dụng toàn bộ tên gốc của nó, bạn nên khai thác ở cách dùng tên hoa Cúc trong văn viết. Ví dụ như: Cúc Môn, Cúc Đình, Cúc Long, cây Cúc... Ví dụ tên như: Lâm Hán Cúc, Vương Tuyết Cúc.

Hoa Lan đứng đầu trăm mùi hương

Hoa Lan: cũng có thể gọi là "U Lan", hoa Lan thuộc họ Lan, nguồn gốc của nó thuộc phía Nam sông Trường Giang của Trung Quốc, là một trong mười loài hoa nổi tiếng ở Trung Quốc, thành phố của loài hoa này là ở Triệu Hưng (Triết Giang). Hoa Lan nở khi còn xuân sớm, sắc hoa có màu xanh đậm hoặc màu lam pha vàng, mùi hương của nó nhẹ nhàng thoảng bay trong gió. Về giống cây thì hoa Lan rất phong phú. Theo thời gian hoa nở ta có thể chia thành 5 loài đó là "Lan mùa Xuân", "Lan mùa Hạ", "Lan mùa thu", "hán Lan" và "Sơn Lan". Dựa theo cánh hoa Lan chúng ta có thể phân thành 5 loại lớn đó là: hình cánh hoa Mai, hình cánh hoa Sen, hình cánh hoa Thuỷ Tiên, hình cánh hoa Hồ Điệp, hình cánh hoa Tố Tâm, mỗi cành hoa sẽ nở ra một bông hoa, thời gian hoa Lan nở vào trước hoặc sau mùa xuân.

Hoa Lan nở vào mùa hạ được gọi là huệ Lan hay còn gọi là "Lan cửu tiết", cuống của một cành có thể nở ra từ 7 đến 10 bông hoa, thời kỳ hoa nở vào khoảng trước hoặc sau mùa mưa, mùi hương thơm ngát. Hoa Lan nở vào mùa thu tức là Kiến lan; loài lan này có màu lá có màu xanh pha vàng; cuống hoa của mỗi một cành có thể nở từ 4 đến 10 bông; thời gian để nó ra hoa vào khoảng từ tháng 6 cho đến tháng 8 hay tháng 10 lá thu nhỏ lại, hoa có nhưng tháng này nở hoa rất ít.

Mặc Lan cũng có thể gọi là "Lan Báo Tuế". Mỗi cuống hoa có thể nở ra từ 5 đến 10 bông; thời gian hoa nở từ mùa đông cho đến xuân sớm. Giống của loài Lan này có hình dáng giống như Lan mùa thu, bao quát ở hương mùa thu. Thời kỳ hoa nở nhiều nhất thì cánh hoa cong lại, hoa nở từ mùa đông cho đến xuân sớm.

Hàn Lan: mỗi cuống hoa của hoa Hàn Lan có thể nở ra từ 5 đến 7 bông hoa, hoa tương đối nhỏ và có những màu như: màu vàng, trắng, xanh, hồng, tím,... thời gian từ mùa đông cho đến xuân sớm, hoa có mùi thơm mát.

Do có rất nhiều người thích hoa Lan như vậy cho nên số người lấy hoa Lan để đặt tên cũng nhiều. Nguyên nhân dẫn đến chữ Lan trở thành tên tục là do các chữ tu sức tập chung ý nghĩa quá nhiều cho chữ Lan. Ví dụ như: Quế Lan, Lan Hương, Thục Lan, Xuân Lan,... Những cái tên như thế không thể nói là nghe không hay được, chỉ có điều đã có quá nhiều người dùng chữ ấy để đặt tên. Nếu như bạn muốn khai thác nhiều chữ để tu sức cho chữ Lan thì phải đi sâu hơn nữa tìm hiểu những đặc tính, nội hàm văn hoá lẫn vị trí trong lịch sử của văn hoá các loài hoa của hoa Lan.

Hoa Lan có một vài cách gọi nhã xưng khác nữa, đó là: quốc Hương, Vương Giả Hương, Hương Tổ. Nguồn gốc có tên "Quốc Hương" được rút trong tư liệu "tả truyện tuyên công tam niên"; tên "vương giả hương" có nguồn gốc từ trong tư liệu "cầm tào ỷ lan tào"; còn tên tổ hương bắt nguồn từ "thanh dị lục" thời Tống.

Từ góc độ của ba cách gọi nhã xưng của hoa Lan, thì chữ có thể tu sức cho Lan gồm có các chữ sau: Vương, Quốc, Tổ. Tất cả các chữ này đều hàm nghĩa chỉ "thơm nhất". Điều này nói rõ rằng: mùi thơm của hoa Lan đứng thứ nhất trong các loài hoa.

Khi đã hiểu rõ các đặc tính của hoa Lan thì bạn có thể sử dụng dễ dàng loài hoa này để đặt tên. Ví dụ như: Lý Mặc Lan, Vương Hạ Lan, Trần Điệp Lan, Lý Từ Lan. Nếu bạn lấy đặc tính của hoa để đặt tên thì càng hay hơn, ví dụ như: Thẩm U Lan, Trương Hương Tổ.

Bên cạnh hoa Lan đứng đầu trăm hương còn có một nhóm hoa cỏ nho nhã, mỗi loài giữ riêng một cách gọi tên rất kín đáo.

Thược Dược, Ngọc Trâm và những cái tên nho nhã còn lại

Thược Dược: cũng có thể gọi là "tương ly", "mộng vi xuân", thuộc họ mao cấn, loài hoa này không những được trồng nhiều ở các khu vực Hoa Nam mà còn được trồng nhiều ở các tỉnh như: Tứ Xuyên, Giang Tô, Triết Giang, Sơn Đông, An Vi, là loài hoa cỏ nổi tiếng để thưởng thức, giống của loài hoa này có tới hơn 180 loài. Thược Dược có chiều cao từ 60 đến 120 cm, nó phân ra thành hoa đơn và hoa kép, hoa có các màu như: đỏ, trắng, tím, vàng, và có sự đan xen giữa màu vàng và màu trắng, các tư thế của hoa gồm có: hình hoa sen, hình hoa Cúc, hình tường vi, hình tú cầu...

Thược Dược có cách gọi nhã xưng là: "Hoa tướng" bởi vì tư thế của hoa Thược Dược giống như Đỗ Quyên nhưng hoa Thược Dược lại nở sau hoa Đỗ Quyên. Hơn nữa hoa Đỗ Quyên thuộc họ thân gỗ, còn Thược Dược lại thuộc họ hoa cỏ, cho nên có người đã gọi hoa Đỗ Quyên là hoa vương và hoa Thược Dược là hoa tướng.

Một cách gọi nhã xưng khác của cây Thược Dược là xuân "điện" có ý nghĩa đứng sau chốt trong hàng ngũ. Hoa Thược Dược là loài hoa nở vào cuối xuân cho nên người ta đặt cho hoa Thược Dược một tên nhã xưng là điện xuân. Và bởi hoa Thược Dược có ý nghĩa vô cùng phong phú cho nên lấy hoa Thược Dược để đặt tên rất có ý nghĩa. Chỉ có điều âm đọc của hai chữ Thược Dược nghe không hay lắm, bạn có thể lấy cách gọi nhã xưng của loài hoa này để đặt là "điện xuân". Ví dụ như: Chu Điện Xuân, Cung Điện Xuân, Tô Điện Xuân.

Ngọc Trâm: cũng có thể gọi là "hoa Bách Hạc", "Ngọc xuân bổng", thuộc họ cây Bách Hợp. Loài hoa này được trồng ở nhiều nơi trên đất nước Trung Quốc. Ngọc Trâm có chiều cao khoảng từ 75 cm trở lên, nở hoa màu trắng và nở vào ban đêm, mùi hương thơm ngào ngạt, giống khác của loài hoa này là: Ngọc Trâm lá nhỏ, Tử nhị..

Lấy hoa Ngọc Trâm để làm tên có thể đạt đến hiệu quả là bình thường nhưng không thể thô tục. Có vài người không thích đặt tên cho con mình vượt quá sự cao nhã hoặc giả có sự khác biệt với mọi người xung quanh thì Ngọc Trâm thuộc loại tên như thế. Ví dụ như: Tề Ngọc Trâm, Lưu Ngọc Trâm...

Hoa Trường Xuân: cũng có thể gọi là "hoa Sơn Phàm", "nhật nhật thảo". Xuất xứ đầu tiên của loài hoa này là ở phía Đông của Châu Phi nhưng hiện nay đã được trồng nhiều ở các nơi của Trung Quốc. Chiều cao của hoa Trường Xuân khoảng 60 cm, tán hoa của hoa Trường Xuân có màu đỏ sẫm của hoa Hồng, giống khác của loài hoa này có giống Bạch hoa và Bạch hoa Hồng tâm, các giống này vô cùng xinh đẹp nho nhã.

Hoa Trường Xuân là loài hoa có thuộc diện đẹp nhưng nhã nhặn. Nếu bạn thích con mình xinh đẹp nho nhã bạn có thể lấy tên của hoa Trường Xuân đặt cho con bạn. Chỉ có điều hai chữ Trường Xuân hơi thô tục nhưng bạn vẫn có thể lấy cách gọi tên khác của loài hoa này để đặt như hai chữ "Sơn Phàm". Ví dụ như: Tống Sơn Phàm, Kim Sơn Phàm...

Quế Trúc Hương: cũng có thể gọi là "hoàng tử la lan", "hoa nhĩ hoa", thuộc họ hoa thập tự, xuất xứ từ Nam Âu nhưng hiện nay đã được trồng ở các nơi trên đất nước Trung Quốc. Quế Trúc Hương có chiều cao từ 30 đến 60 cm, hoa được chia ra thành hoa cánh đơn và hoa cánh kép, có màu vàng, có mùi hương thơm ngát, sức sống của loài hoa này rất mạnh mẽ. Hai chữ "Quế Trúc" của Quế Trúc Hương là một cái tên hay, lấy từ Quế Trúc để đặt tên thích hợp cho nhiều họ. Ví dụ như: Tất Quế Trúc, Khổng Quế Trúc, Phan Quế Trúc...

Đoàn Khiên Ngưu: cũng có thể gọi là Phách Đông cà, thuộc họ cây cà, nó xuất xứ từ phía nam Châu Mỹ. Đoàn Khiên Ngưu có chiều cao từ 40 đến 60 cm, thời gian nở hoa tương đối dài, từ tháng 4 đến tháng 10 vẫn tiếp tục nở hoa, hoa thay đổi nhiều màu sắc như: màu trắng, màu phấn hồng, màu hồng đào, màu hoa hồng.

Đặc tính của Đoàn Khiêm Ngưu là sự phối hợp nhịp nhàng của 5 sắc màu và thời gian hoa nở dài. Những đặc tính này của hoa mang một ý nghĩa nhất định trong cách đặt tên. Bạn có thể gọi tắt cách gọi khác của loài hoa này là "phách đông" bởi vì loài cây này thuộc họ cà, chữ "cà" đứng phía sau từ "phách đông" đã nói rõ lên loài cây ấy thuộc họ "cà" cho nên có thể tỉnh lược đi. Lấy tên Đông Phách để đặt tên cho con có thể có một chút tính cách của nam. Ví dụ như: Triệu Phách Đông, Lưu Phách Đông, Trương Phách Đông. Còn đối với những người thích tên này đặt cho con nhưng lại sinh hạ con gái cũng có thể lấy loài hoa này đặt tên cho con.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế