Bài tổng quan
Nga Mi Sơn, Hoa Sơn và cửa ải Kiếm Môn hiểm trở
Một ngọn núi mang dáng hoa sen giữa trời Tây, một cửa ải sắc như lưỡi kiếm từng được Gia Cát Lượng cắt quân trấn giữ, một đỉnh núi Phật giáo cao hơn ba nghìn mét – núi non trong kho tên này kể những câu chuyện đế vương, đạo sĩ và thiền sư. Từ Nga Mi Sơn linh thiêng đến Hoa Sơn hùng vĩ của Ngũ Nhạc, mỗi cái tên đều mượn được khí phách ngàn năm của núi…
Mục lục · 8 phần
- 01Nam Khê Sơn và Độc Tú Sơn: dòng suối tiến cống và ngọn núi giữa lòng Quế Lâm
- 02Ẩn Sơn: ngọn núi giấu mình giữa bốn hồ nước
- 03Phong Đô Sơn: nơi hai vị tiên đời Hán luyện đan đắc đạo
- 04Thanh Thành Sơn: động trời thứ năm của đạo giáo Trung Hoa
- 05Kiếm Môn Sơn: cửa ải sắc như kiếm do Gia Cát Lượng trấn giữ
- 06Nga Mi Sơn: một trong bốn ngọn núi Phật giáo lớn nhất Trung Hoa
- 07Hoa Sơn: đỉnh Tây Nhạc mang dáng hoa sen nở
- 08Lũng Sơn: ngọn núi nhớ nhà trong điển cố "Đắc Lũng Vọng Thục"
Nam Khê Sơn và Độc Tú Sơn: dòng suối tiến cống và ngọn núi giữa lòng Quế Lâm
Nam Khê Sơn: Nằm ở phía Nam Thành phố Quế Lâm, phía Đông tiếp cận với Ly Giang, phía Đông Bắc có Nam Khê. Núi có hai đỉnh đứng sừng sững, đá hầu như có màu trắng, sau khi mưa bắt đầu hửng nắng, màu sắc của đá vẫn đẹp, mọi người gọi là: "Nam Khê Tân Văn", là phong cảnh của Quế Lâm.
Những danh lam thắng cảnh chủ yếu ở Nam Khê Sơn: Bạch Long Truyền, Bạch Long Động, Lưu Tiên Nham,…
Vào đời Đường năm Bảo Lịch có người tên là Lý Bột chuyên ghi chép lịch sử ở Quế Châu, đã khai thác phong cảnh ở Ẩn Sơn và ở Khê Sơn. Dưới chân núi gần cây cầu tướng quân ở Nam Khê có một dòng nước đã có từ lâu đời, có tên là Bạch Long Tuyền, tương truyền rằng dòng nước này chính do Lý Bột đưa về, nước ở đây trong và mát lại có vị ngọt, đặc biệt có thể dùng để đun sôi pha với trà. Thời trước quan lại đã từng dùng dòng nước này để tiến cống, do vậy nó còn có tên gọi "Cống truyền". Bạch Long động, động liên nguyên nham, nam thông qua để động ở trong núi bên trong có những cảnh quan như Long Vương Điện, Nguyệt Cung, Ngọc Duẩn nghênh xuân, Thọ tinh hạ Sơn,…
Dùng Nam Khê Sơn để làm tên có hai đặc điểm nổi bật: thứ nhất có ý nghĩa phong phú; thứ hai mới lạ đồng thời rất nho nhã thanh cao, như Trần Nam Khê, Vương Nam Khê.
Độc Tú Sơn: Nằm ở giữa thành phố Quế Lâm, là ngọn núi chính của Quế Lâm, thế núi sừng sững, hang động có nhiều hình dáng kỳ lạ đẹp nhất.
Những danh thắng chủ yếu ở đất Tú Sơn là: Nham công độc thủ Nham, Ngũ Vĩnh Đường, Đại Viên Tự, Tịnh Giang Vương Phủ,…
Việc dùng chữ Độc Tú Sơn làm tên, trong lịch sử đã có tiền lệ, như Trần Độc Tú, tên của anh ta rất có ảnh hưởng trong thời kỳ lịch cận đại. Nhưng ngoài những người mang họ Trần ra có người tên là Độc Tú, người có họ khác gọi là Độc Tú lại không nhiều, vì vậy những họ khác vẫn có thể dùng chữ Độc Tú làm tên, như Lâm Độc Tú, Tần Độc Tú.
Ẩn Sơn: ngọn núi giấu mình giữa bốn hồ nước
Ẩn Sơn: Nằm ở phía Tây thành Quế Lâm, trước đây Ẩn Sơn còn gọi là Bàng Long Sơn và cũng gọi là Triệu Ẩn Sơn. Ngày xưa dưới núi đã từng có bốn hồ vòng quanh, núi ẩn trong hồ do vậy có tên gọi là Ẩn Sơn (núi Ẩn). Ở Ẩn Sơn có sáu động, đường qua các động liền nhau và thông suốt.
Các danh thắng chủ yếu ở Ẩn Sơn - Mộng Tuyền, Bạch Tước Động, Gia Liên Động…
Dùng chữ Ẩn Sơn để đặt tên thường thì có mang một chút cảm giác thần bí và nhẹ nhàng, thâm trầm, như Triệu Ẩn Sơn, Long Ẩn Sơn.
Phong Đô Sơn: nơi hai vị tiên đời Hán luyện đan đắc đạo
Phong Đô Sơn: Cũng gọi là Bình Đô Sơn, nằm ở huyện Phong Đô tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Nằm giáp với Trường Giang, thế núi không cao nhưng rừng lại rậm rạp. Tương truyền rằng nơi đây là nơi Vương Bình Phương và Âm Trường Sinh người đời Hán đã biến thành tiên. Trong đạo giáo gọi là "Bình Đô Phúc Địa".
Danh lam thắng cảnh chính ở đây là: Phong Đô Quang, Ngũ Tầng Động, Nại Hà Kiều, Vọng Hương Đài,…
Vương Bình Phương và Âm Trường Sinh là những vị tiên giỏi phép thuật ở đời Hán trong truyền thuyết đạo giáo. Tương truyền rằng hai vị tiên này đã đắc đạo thành tiên ở Phong Đô Sơn. Ngày nay phong cảnh ở Phong Đô Sơn rất đẹp, nó có năm tầng động là giếng luyện đan của hai vị tiên này, khi luyện đan thường có khí Vân từ trong động bay lên do vậy mà cũng có tên gọi là Ngũ Vân Động. Tương truyền Lữ Động Tân đã từng đến Phong Đô Sơn thăm những vị tiên và đã để lại những dòng chữ đề "Đạo Sơn Động Thiên", "Tổng Chân Quyền Tiên Chi Phủ".
Thanh Thành Sơn: động trời thứ năm của đạo giáo Trung Hoa
Thanh Thành Sơn: Nằm ở phía Tây Nam cách Thành phố Đô Giang Yển 16km, tỉnh Tứ Xuyên, người xưa gọi đây là Trương Nhân Sơn, Tích Thành Sơn. Trong núi rừng cây xanh tốt, trông giống dáng thành từ, nên gọi là Thanh Thành, ngọn núi chính là Đại Diện Sơn, độ cao so với mặt nước biển là 1300 mét. Xung quanh có 36 ngọn núi khác, là một trong những ngọn núi nổi tiếng ảnh hưởng tới đạo giáo Trung Quốc.
Những danh thắng chủ yếu ở đây là: Trương Nhân Phong, Kiến Phúc Cung, Ngọc Nữ Động, Thiên Sư Động, Thanh Đô Quan, Mẫu Đơn Bình, Trường Sinh Quan,…
Truyền thuyết Hoàng đế đã phong Thanh Thành Sơn là Ngũ Nhạc Tương Nhân, cũng gọi Thanh Thành Sơn là Trương Nhân Sơn. Tương truyền núi này có 36 quả núi, 72 hang động nhỏ, được gọi là Thập đại động Thiên Chi Đệ Ngũ (động xếp thứ năm trong mười động trời), đặt tên là "Bảo Tiên Cửu Thất".
Dòng chữ Thanh Thành Sơn làm tên, ý nghĩa chính của nó chính là động xếp thứ năm của đạo giáo, như Lưu Thanh Thành, Triệu Thanh Thành.
Kiếm Môn Sơn: cửa ải sắc như kiếm do Gia Cát Lượng trấn giữ
Kiếm Môn Sơn: Nằm ở phía Bắc tỉnh Tứ Xuyên. Người xưa gọi Kiếm Môn Sơn là Cao Lương Sơn, Lương Sơn. Có Đại Kiếm Sơn và Tiểu Kiếm Sơn. Ngọn núi chính là Đại Kiếm Sơn, cao trên tầng Vân, các cạnh núi rất sắc tựa như kiếm, vách núi hiểm trở, dựng đứng như cửa, vì vậy có tên gọi là Kiếm Môn. Danh thắng chủ yếu ở đây là: Thạch Ngưu Đạo, Ngũ Phụ Sơn, Kiếm Môn Quan, Khương Duy Thành,…
Vào thời kỳ Tam quốc, Gia Cát Lượng là thừa tướng nước Thục, ông thấy địa thế của Kiếm Môn Sơn rất hiểm trở, đã truyền lệnh cho quân sĩ trấn giữ nơi này và lập huyện Kiếm Môn. Thời kỳ Nguỵ Văn Đế đã từng phái quân đến đánh nước Thục, quân đại tướng Khương Duy xuất và Trương Dực, Liêu Hoá đã hợp lực ở Kiếm Các đánh lui quân Nguỵ, ngày nay Kiếm Môn Quan có di chỉ "Khương Duy Thành".
Dùng chữ Kiếm Môn Sơn để làm tên mang ý nghĩa chỉ khí chất của đấng trượng phu, khi dùng có thể lược bớt chữ "Môn", trực tiếp dùng chữ Kiếm Sơn là được, như Úc Kiếm Sơn, ở núi Kiếm Sơn.
Nga Mi Sơn: một trong bốn ngọn núi Phật giáo lớn nhất Trung Hoa
Nga Mi sơn: Nằm ở phía Tây Nam thành phố Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên, trước đây có tên gọi là Hoàng Nhân Sơn, Đại Quang Ẩn Sơn. Là một trong bốn ngọn núi nổi tiếng có liên quan đến phật giáo của Trung Quốc. Cả khu vực núi bao gồm Đại Nga, Nhị Nga, Tam Nga và Tứ Nga. Đại Nga có hai ngọn núi đối nhau như Nga Mi, vì vậy gọi là Nga Mi Sơn. Ngọn núi chính là Vạn Phật Đỉnh, độ cao so với mặt nước biển 3099m. Thời kỳ đầu của đạo phật ở đời Thuỳ Đường không thịnh lắm, mãi về sau Phật giáo dần dần mới thịnh.
Những danh thắng chủ yếu ở đây là: Thụ Đạo Đài, Cửu Lão Động, Cát Tiên Động, Ca Phụng Đài, Phổ Quang Điện, Trường Lão Bình, Sơ Điện, Vạn Niên Tự, Mộc Bì Điện, Bảo Trưởng Phong, Trung Phong Tự, Trần Thuỷ Trì, Hổ Ứng Phong, Hùng Hoàng Thạch, Chân Nhân Động, Bạch Thuỷ Tự, Thần Dương Điện, Hổ Độ Kiều, Đại Nga Thạch, Bạch Long Trì, Phù Hổ Tự, Kim Đỉnh, Cổ Đức Lâm,…
Truyền thuyết Tiên Thiên Chân Thánh của đạo giáo tên là Hoàng Nhân Lạc sự hoá thân của Thiên Vương thời kỳ nguyên thuỷ. Khi Hoàng đế ở dưới núi Nga Mi đã từng hỏi vấn đề này, sau Thuần Dương Điệp của Nga My Sơn có một đài Thu Đạo, bên phải của đài có động Thiên Nhân là động xếp thứ bảy trong số ba sáu hang động của Đạo Thủ, có tên là "Linh Lăng Thái Diệu Chi Thiên" do truyền thuyết về Hoàng Nhân truyền đạo, vì vậy mà Nga Mi Sơn cũng có tên gọi là "Hoàng Nhân Sơn".
Danh lam ở Nga Mi Sơn rất nhiều, dùng chữ Nga Mi Sơn làm tên mang nhiều ý nghĩa, mà còn có khí phách, cái khí phách này chủ yếu xuất phát từ sự hấp dẫn ngay bên trong của Nga Mi Sơn như: Phan Nga Mi, Tống Nga Mi.
Hoa Sơn: đỉnh Tây Nhạc mang dáng hoa sen nở
Hoa Sơn: Nằm ở phía Tây tỉnh Thiểm Tây, cũng có tên là Thái Hoa, Hoa Nhạc. Là Tây nhạc trong số những ngọn núi nổi tiếng của Ngũ nhạc, độ cao so với mặt nước biển là 2200 mét.
Có ba quả núi chính: Phía Tây là Triều Dương, Tây là Liên Hoa, phía Nam là Lạc Anh, ở giữa là Ngọc Nữ Phong, phía Bắc dựa vào Vân Đài Phong, nếu nhìn từ xa trông giống như bông hoa sen tươi, nên cũng có tên gọi là Hoa Sơn. Địa thế núi của Hoa Sơn cũng hiểm trở, di tích miếu mạo rất nhiều. Những danh lam chủ yếu gồm có: Liên Hoa Phong, Ngọc Tỉnh, Đào Lâm Tắc, Ngọc Nữ Phong, Mao Nữ Phong, Tây Nhạc Miếu, Công Chủ Phong, Bạch Lộc Khám, Hoàng Thần Cốc, Động Nguyên Thạch Thất…
Liên Hoa Sơn thuộc núi phía Tây của Hoa Sơn, độ cao so với mực nước biển là 2083 mét, trước Thuý Vân Cung trên đỉnh núi có tảng đá lớn trông giống hoa sen, trước Trấn Nhạc Cung ở giữa ngọn núi Ngọc Nữ và Lạc Anh có độ sâu là 30 mét, chu vi của nó 15 mét, có truyền thuyết trong giếng xuất hiện rất nhiều hoa sen trắng.
Dùng chữ Hoa Sơn và tên của những danh thắng nơi đây để đặt tên, có thể mượn khí phách hùng vĩ của Hoa Sơn, để biểu hiện cá tính của mình, như: Chương Hoa Sơn, Vương Hoa Sơn. Lấy chữ Hoa Nhạc tên gọi khác của Hoa Sơn làm tên, như Chương Hoa Nhạc, Cao Hoa Nhạc. Cũng có thể lấy chữ Tây Nhạc làm tên, như Lưu Tây Nhạc, Quách Tây Nhạc.
Lũng Sơn: ngọn núi nhớ nhà trong điển cố "Đắc Lũng Vọng Thục"
Lũng Sơn: Nằm giữa huyện Tự Trị dân tộc hồi Trương Gia Xuyên, huyện Thanh Thuỷ tỉnh Cam Túc ở huyện Bảo Kê, huyện Lũng tỉnh Thiểm Tây. Cũng có tên gọi là Lũng Thủ, Lũng Đầu. Thế núi hiểm trở, là một trở ngại lớn ở phía Tây đồng bằng Quan Trung.
Danh lam thắng cảnh chủ yếu ở nơi đây là: Vạn Thạch Đàm, Ô Yết Đình,… Có một điển cố "Đắc Lũng Vọng Thục" nói rằng vào năm thứ tám Kiến Vũ dưới triều vua Đông Hán Vũ Đế thì Quỳ Khiêu tạo phản, làm tể tướng Vương Nguyên chiếm mất Lũng Sơn, sau này bị Tể Tôn đánh lại, năm thứ tám Kiến Vũ Lưu Tú Thân đánh Quỳ Khiêu. Sau này người đời sau khái quát lại là "Đắc Lũng Vọng Thục".
Tần Thuỷ Hoàng từng nói rằng Lũng Sơn là tăng môn của nước Tần. Dùng chữ Lũng Sơn để đặt tên, hàm ý của nó là "Luyến gia chi sơn" (núi nhớ nhà). Người dùng chữ này làm tên là người sống có tình cảm nội tâm, chữ Lũng và chữ Long có âm đọc gần giống nhau, vì vậy dùng trong tên người rất độc đáo và hay như Triệu Lũng Sơn, Chu Lũng Sơn.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
