Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Linh Chi trong huyền thoại Bạch Xà và những loài cỏ thơm

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202612 phút đọc0 lượt đọc
Linh Chi trong huyền thoại Bạch Xà và những loài cỏ thơm

Chuyện xưa kể con rắn trắng liều mình đi ăn cắp thảo tiên để cứu chồng, và vị thảo tiên ấy chính là Linh Chi — từ đó cái tên trở nên nổi tiếng khắp mọi nơi. Bên cạnh Linh Chi là một mảnh vườn cỏ thơm với Ngải, Giao, Khung, Vĩ...


Đoạn, Du và Sát: những cái tên mang âm đọc tốt lành

Đoạn: cây thân gỗ lá rụng, nở hoa màu vàng hoặc màu trắng, kết quả hình cầu hoặc hình trứng, gỗ dùng nhiều việc, sơ trong vỏ cây có thể làm dây thừng. Cây Đoạn không phải cây thường gặp, cũng không có bao nhiêu người dùng Đoạn làm tên bởi vì cách đọc chữ Đoạn này chữ ghép khó. Dùng chữ Đoạn làm tên phải cẩn thận suy nghĩ về ý nghĩa của nó. Ví dụ: Lưu Đoạn Hoa, Lý Đoạn Hoa, Triệu Đoạn Dự.

Du: Cây Du là cây thân gỗ lá rụng, lá hình trứng, quả hình đồng tiền, âm đọc của chữ Du thuộc loại tốt lành bởi vì người Trung Quốc cho là giàu có mới có dư. Từ đó chữ Du (cây Du) đồng âm với dư (dư thừa) đều là những chữ tốt lành. Quả cây Du hình đồng tiền (Du Tiền) còn có ý là (Dư Tiền). Dùng Du làm tên nên lợi dụng âm đọc tốt lành của nó để từ đó lấy được tên tốt lành. Ví dụ: Triệu Hữu Du, Lý Thanh Du, Tống Phó Du.

Sát: cây gỗ Sát, thân gỗ lá rụng, lá to như bàn tay, gỗ rắn chắc có thể dùng làm thuyền, xây dựng... Có lẽ cây Sát ẩn trong rừng rậm, không ai biết, hoặc thường gặp không biết. Tóm lại trong tài liệu về tên họ khó có thể tìm thấy người tên Sát. Thực tế tên Sát không phải là không hay mà cách đọc khác biệt. Dùng Sát đặt tên nghe rất có đặc điểm. Ví dụ: Tề Đồng Sát, Lý Sát Diệp.

Cử cao thượng, Tân, Chử và Thích âm thầm bền bỉ

Cử: Cây Sồi rừng hay còn gọi là Thuỷ Thanh Phong, thuộc họ thân gỗ lá rụng cao hơn 20 mét. Lá hình lá Liễu hoặc hình tròn bầu, hoa có hình sợi dạng bông mọc ở ngoài, quả cứng, thân gỗ thường dùng làm tà vẹt đường ray. Tà vẹt đường ray thường được mọi người kính trọng, nó là kẻ âm thầm cống hiến, không bao giờ biết kêu và mệt mỏi, hơn nữa lại có thể chịu được áp lực hàng nghìn Kg. Qua đó người quân tử nên chọn phẩm chất cao thượng, cũng có nghĩa là tên Cử rất thích hợp dùng để đặt tên cho bé trai, hy vọng sau này bé sẽ là người cao thượng. Ví dụ: Trương Chấn Cử, Triệu Đoạn Cử...

Tân: Cây chữ Tân là một nhánh của họ nhà cây Táo, thực ra nó nhỏ hơn màu hồng, sau khi quả chín chuyển sang màu tím. Ngày nay trong khi đặt tên cho bé trong các loài cây ăn quả thì mọi người vẫn thường đặt chữ Bình (táo) còn chữ Tân vẫn chưa được mọi người biết tới, thậm chí nó còn chưa được sử dụng rộng rãi như chữ Bân.

Chử: cây Chử thuộc về họ nhà thân gỗ xanh, lá dài hình bầu dục, hoa vàng sắc xanh, quả hình cầu, thân gỗ cứng. Chữ Chử và chữ đồng âm với nhau mà bé gái gọi lại thích hợp gọi là Chu, còn bé trai lại thích hợp gọi Chử, Chử còn hàm chứa ý nghĩa là cứng cáp, là một tên cây rất dễ dùng để đặt tên cho người. Ví dụ: Trương Minh Chử, Lâm Trạch Chử...

Thích: thuộc họ thân gỗ nhỏ, lá rụng, cành bóng trơn, lá hình bàn tay, mùa thu đổi màu thành màu đỏ hoặc vàng. Nở hoa màu xanh vàng, kết quả thân gỗ thẳng. Cây Thích là loại cây rất âm thầm, kín đáo ở trong rừng, không hay tranh giành cao thấp. Nhưng mùa xuân nở hoa, mùa thu kết trái, tính cách bền vững kiên cường. Dùng tên cây Thích để đặt tên, cần phải đặc biệt chú ý về vấn đề phối hợp âm thanh. Ví dụ: Vương Thích Lâm, Trương Văn Thích, Tôn Như Thích.

Tượng, Học, Duyên và Đàn: những tên từ cây cối

Tượng: cây cao su thân gỗ thường xanh, cành nhỏ vươn dài, lá dài hình dục, hoa màu trắng, hương thơm, quả hình cầu. Có nguồn gốc từ Ba Tư. Hiện nay được trồng ở nhiều hơn ở vùng nhiệt đới, là loại cây cung cấp nhựa cao su. Cây cao su trong mắt người dân hiện nay dường như chỉ có ý nghĩa là một loại cây cung cấp nhựa cao su, ngoài ra chẳng có hàm nghĩa gì khác. Thực ra không phải như vậy, cây cao su còn là một loại cây chứa đựng rất nhiều ý nghĩa ở bên trong. Một nhà thơ nổi tiếng đã làm một bài thơ về cây cao su, dùng một loạt từ tượng hình như "cành đồng, ngọn thép giống như kiếm, giống như dao"... để miêu tả cây cao su. Có lẽ vì cây cao su có những điểm thanh cao thoát ra khỏi những ý nghĩ dung tục đời thường. Bởi vậy khi đặt tên cho bé, bạn có thể suy nghĩ tới giá trị phong phú nằm bên trong nó. Ví dụ: Mã Tượng Hoàng, Triệu Tượng Phong.

Học: cây Học thuộc họ thân gỗ lá rụng hoặc gỗ tiêu, lá hình trứng, hoa màu vàng nhạt, quả cứng hình cầu, vỏ cây có thể dùng làm chất nhuộm màu đen, chất gỗ cứng. Còn có một loại cây gọi là Mộc Lạc, cũng là thân gỗ lá rụng, cao gần 30 mét, lá hình bầu dục, hai bên mép lá có hình răng cưa, mặt sau lá có lông trắng, kết quả hình bầu dục. Dùng chữ Học đặt tên bao gồm hai loại cây rất hiếm, có thể ngăn phòng trừ được việc trùng tên. Danh hoạ lấy bút danh là Học cũng khá nhiều bởi vậy nên chú ý phối hợp chữ. Ví dụ: Điền Học Lâm, Vương Học Tích.

Duyên: cây tương Duyên thuộc về họ thân gỗ nhỏ xanh, có gai ngắn, lá hình trứng dài. Đài hoa ở trong màu trắng, bề ngoài màu tím nhạt. Quả màu vàng nhạt hình bầu dục, trông rất đẹp. Chữ Duyên phát âm giống với chữ Viên, cả hai từ đều rất dễ nghe. Nhưng nếu bạn sợ đặt tên bé là Viên dễ trùng tên, thì bạn có thể chọn tên Duyên. Ví dụ: Vương Lệ Duyên, Đinh Nhất Duyên, La Chính Duyên.

Đàn: hay còn gọi là Thanh Đàn, thuộc họ thân gỗ lá rụng, lá hình trứng, hoa đơn tính, quả và cánh hình tròn, chất gỗ cứng, thường dùng để chế tạo nhạc cụ và đồ gia dụng. Cây đàn khá nổi tiếng, có lúc nó được ví như sự cao quý, cao sang. Nếu gia đình nào có đồ gia dụng bằng gỗ đàn là nhà ấy khá giàu có. Ngoài ra còn loại gỗ đàn hương cũng thuộc loại gỗ lương cao quý. Nói tóm lại gỗ đàn được mọi người rất ưa chuộng. Dùng chữ đàn đặt tên cho bé rất có sức hút độc đáo. Chữ đàn ngoài có ý nghĩa hay khi đọc âm cũng rất dễ nghe. Ví dụ: Lý Tử Đàn, Lâm Hương Đàn.

Bên cạnh cây cối còn có một mảnh vườn khác: những loài cỏ thơm nhỏ bé nhưng ẩn chứa nhiều tầng nghĩa.

Cỏ thơm: Ngải, Giao, Dụ và Cấp

Ngoài các loài cây, người xưa còn lấy các loài cỏ thơm để đặt tên cho con. Ví như tên của diễn viên Hồng Kông Vương Minh Toàn cũng là một loài cỏ thơm, chữ chi trong tên Triệu Nhã Chi cũng là loại cỏ tiên. Đây đều là những ví dụ điển hình cho việc lấy loài cỏ thơm để đặt tên. Tác giả đã thu thập được một số loài cỏ thơm sau, mời các bạn tham khảo: Ngải, Giao, Dụ, Thổ, Thiên, Cấp, Chi, Dĩ, Khung, Hương Nguyên, Vĩ, Vân, Ký, Lịch, Trường, Kim, Thị, Khiêm, Hộ, Mạc, Đồng Lô, Lệnh, Nhĩ, Tây, Di, Nhàn, Hành, Toàn, Tận, Trầm, Hồng Thời, Thanh, Lăng, Phi, Minh, Tương Đình, Bổn.

Ngải: cũng có thể gọi là Ngải Cao là loài thực vật đã sinh sôi nảy nở từ nhiều năm nay, lá có khí thơm, có thể làm một trong những vị thuốc, có hiệu quả cầm máu. Trong văn chương chữ Ngải được coi như một loài vừa đẹp vừa hữu dụng. Ngải dùng để đặt tên, có ba điểm tốt sau: một là âm của nó nghe hay, hai là đồng âm với từ "yêu", viết ít nét và ba là có hàm nghĩa nhất định. Ví dụ: Lý Ngải Long, Lưu Ngải Châu.

Giao: có một loại thực vật từ lâu đời nay được gọi là tần Giao, lá xanh, hoa tím, rễ có thể lấy làm dược liệu. Khi đặt tên cho con, từ Giao rất hiếm được dùng, có lẽ là do mọi người chưa hiểu lắm về loại này. Nét viết chữ Giao đơn giản, đồng âm với chữ "Kiều" chứ không phải là chữ "Cửu" khá dễ nghe, rất phù hợp để đặt tên và còn là chữ dễ kết hợp. Ví dụ: Khương Đằng Giao, Dương Giao Lâm.

Dụ: là loài thực vật cỏ từ nhiều năm nay, lá hình trứng nhánh dài, cuống hoa màu vàng, đài hoa màu xanh. Chữ Dụ dùng đặt tên thường dùng để đặt tên đệm. Ví dụ: Lâm Dụ Minh, Trương Dụ Thanh.

Cấp: có một loại thực vật gọi là cỏ cập cập, lá nhỏ hẹp mà dài hoa màu xanh nhạt. Cỏ cập cập có thể sống ngay cả trên sa mạc khô cằn, sức sống của nó thật lý tưởng. Khó mà có được một loài cỏ nào không sợ phong ba bão táp như vậy, tính cách không sợ gian khổ này rất đáng kính trọng, khi dùng để đặt tên cho con, nó cũng ngầm mang hàm ý như vậy. Dùng chữ Cấp đặt tên có thể đặt nó ở giữa để tránh âm cụt. Ví dụ: Tạ Cập Thanh, Đào Cập Phong.

Chi huyền thoại rắn trắng, Dĩ bí ẩn và những loài cỏ ít trùng tên

Chi: Linh Chi là loài thực vật khá quen thuộc, bề ngoài nhìn giống như nấm mạ, màu nâu hoặc màu tím đậm, có tác dụng làm thuốc bổ. Thời xa xưa Linh Chi dùng để tượng trưng cho niềm may mắn, mạnh khoẻ. Họ còn coi Linh Chi là tiên thảo có thể cứu mạng. Đặc biệt là trong truyện (Bạch Xà) có chi tiết con rắn trắng ăn cắp thảo tiên, càng làm cho Linh Chi nổi tiếng khắp mọi nơi. Tên Linh Chi cũng được đặt cho con trẻ khá phổ biến, khiến cho chữ Chi trở nên thông dụng, có một số người không muốn đặt tên cho con mình nữa vì cho là nó khá tục. Tác giả cảm thấy đặt tên cho con cũng có tính thời đại, ở thời này thì nó bình thường, là mới mẻ nhưng cũng có lúc nó sẽ khác đi. Giống như chữ Chi nếu cứ dùng phối hợp chữ một cách thông thường thì đương nhiên nó sẽ tục. Ví dụ: Ngọc Chi, Lan Chi, Tố Chi, Thục Chi... Nhưng nếu bạn tận tâm suy nghĩ một chút thay đổi những từ ấy đi thì bạn vẫn đặt được tên hay. Ví dụ: Trương Phật Chi, Trương Duyện Chi.

Dĩ: là một loại thực vật thường thấy trong sách cổ, không ai nói được chính xác nó như thế nào, không có ghi chép gì về nó. Bạn tưởng tượng ra nó như thế nào thì nó sẽ như thế ấy. Nếu dùng nó để đặt tên thì tỷ lệ trùng tên sẽ rất thấp. Ví dụ: Trương Dĩ Hồng, Vương Dĩ Bang.

Khung: thực vật xuyên khung sản ở Tứ Xuyên, Vân Nam là loài thực vật nổi tiếng, chủ yếu là do nó giá trị làm thuốc rất cao. Xuyên Khung là loài thực vật có từ rất lâu đời, lá mỏng trúc xuống như lông, hoa màu trắng, quả hình bầu. Chữ Khung đọc cùng với chữ "huynh", không phải đọc là "cung", khi dùng chữ Khung đặt tên nên chú ý tới sự kết hợp âm. Ví dụ: Triệu Thế Khung, Vương Khung Thục.

Hương: là một loài cỏ được ghi chép lại trong sách cổ có ý nghĩa giống như hương thơm. Hương thơm dùng để đặt tên đã khá phổ biến, giờ đây có thể dùng chữ Hương (quê hương) dùng để đặt tên sẽ có ý nghĩa hơn. Ví dụ: Lưu Hương Vũ, Trương Hương Du, Tế Ngọc Hương.

Nguyên: Nguyên Nhĩ là loài thực vật cỏ sẽ kết thúc vòng đời của mình trong vòng một năm, lá đan chen nhau, hình dạng lông ở lá và búp đều có mùi đặc thù, nở hoa li ti màu trắng, quả hình tròn. Chữ Nguyên nét chữ ít, đọc âm cũng rất thích hợp để đặt tên. Ví dụ: Lý Nguyên Cát, Phổ Hương Nguyên.

Vĩ: là từ thường hay gặp trong cuộc sống, bởi vì là loài thực vật phổ biến. Nhưng dùng để đặt tên thì ít thấy. Có lẽ là họ Vĩ khá phổ biến không giống như từ Vĩ trong từ vĩ đại. Xét về nội dung hàm chứa trong chữ Vĩ, tác giả cho rằng loài cỏ vĩ tuy là phổ biến nhưng nó là loài cỏ không dễ bị dẫm đạp vì trong bão táp, băng tuyết, không lùi bước, là hàng xóm gần nhà hoa sen rất thanh tao mà không dung tục. Bởi vậy dùng chữ Vĩ để đặt tên cũng rất hay. Ví dụ: Triệu Y Vĩ, Lưu Nghệ Vĩ.

Vân: có một loại thực vật gọi là Vân Hương, là loài thực vật lâu năm cành thẳng, lá dài tròn, nở hoa vàng, toàn thân toát ra mùi thơm. Vân Hương là loài cỏ cực kỳ thơm, hơn nữa phát âm cũng dễ nghe, dùng tên loài cỏ này để đặt thì khá lý tưởng. Hiện nay chữ Vân dùng để đặt tên cũng khá nhiều, dễ dùng tới trùng tên, không bằng chúng ta hãy lấy tên loài cỏ Vân Hương này để đặt tên, sẽ có nhiều ý nghĩa mới. Ví dụ: Lý Hương Vân, Dư Thanh Vân, Triệu Vân Phi.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế