Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Đặt tên con bằng chữ cỏ cây hiếm gặp: Ký, Lịch, Nhĩ, Hàm

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202613 phút đọc0 lượt đọc
Đặt tên con bằng chữ cỏ cây hiếm gặp: Ký, Lịch, Nhĩ, Hàm

Có lời nhắc khéo: đặt tên mà cứ theo đám đông thì chẳng khác gì ai cũng mặc chung một kiểu áo, sớm muộn sẽ hoá lập dị. Ba mươi mấy chữ cỏ hiếm gặp — từ Nhĩ, Toàn đến Hàm chỉ hoa sen — mở ra nhiều lựa chọn khi đặt tên con theo cây cỏ...


Ký, Lịch, Trữ: những chữ cỏ hiếm gặp trong sổ hộ tịch

Ký: trên sách vở thường gọi là Lãng thay cho Ký. Lãng là thực vật sống, có vòng đời một năm, sống ở đầm, rễ cắm xuống bùn, lá sát mặt nước. Khi đặt tên rất ít người dùng tên Ký nhưng tên Lãng thì rất nhiều. Bởi vậy bạn có thể dùng từ Ký để đặt tên. Từ Ký phát âm là Tích, chữ này tương đối khó phát âm, khi phối âm thường đi kèm với những từ âm nối. Ví dụ: Chu Ký Châu, Lý Ký Chấn, Lưu Ký Liên.

Lịch: có loại thực vật gọi là Đình Lịch, vòng đời trong một năm lá hình quả trứng hoặc hình bầu dục, nở hoa vàng nhỏ, quả để làm thuốc. Chữ Lịch ít thấy người dùng khi đặt tên, nó đồng âm với từ Lợi, Lệ. Chữ Lợi, Lệ đã được dùng nhiều, nếu thay vào đó từ Lịch sẽ ít bị trùng tên, hơn nữa nghe mới mẻ lại hàm chứa nhiều ý nghĩa. Ví dụ: Lý Lịch Như, Bạch Lịch Bình.

Chỉ: Bạch Chỉ là loại thực vật cỏ lâu năm, nở hoa trắng, quả hình bầu dục, to và thô, có giá trị dược liệu. Chỉ là chữ không thông dụng lắm, nhưng cũng đã được một số người dùng đặt tên, có hiệu nữ nổi tiếng thời xưa cũng tên là Chu Chỉ Nhược. Dùng chữ Chỉ đặt tên, có thể đặt nó vào giữa sẽ dễ nghe hơn. Ví dụ: Trương Chỉ Thanh, Giang Chỉ Vân.

Trường: là loại cây thực vật có trong sách cổ, hiện nay rất khó hình dung ra hình dáng của nó như thế nào. Khi dùng đặt tên nó đồng âm với chữ thường, Trường (dài) chữ Trường hiện nay đã được dùng rộng rãi, nó có thể đứng giữa hoặc cuối. Ví dụ: Vương Đức Trường, Lý Trường Ích, Trương Hải Trường.

Thung: có một loại thực vật gọi là Cỏ Thung Dung, là thực vật có vòng đời một năm, thường ký sinh ở rễ cây Cúc, thân mềm lá dẹt màu nâu vàng, hoa màu tím. Toàn thân cây dùng để làm thuốc. Chữ Thung khi đặt tên hiếm thấy người dùng, nhưng âm tiết của nó rất thích hợp dùng để đặt tên. Ví dụ: Thẩm Thung Dung, Trương Dục Thung.

Cẩm: là loại thực vật thuộc nhà Họ Vĩ. Thường được nói tới trong sách cổ, đọc trùng âm với Cẩm (đàn). Qua âm đọc của nó rất phù hợp đặt tên. Ví dụ: Dương Hộ Cẩm, Lý Nghiệp Cẩm, Vương Vĩ Cẩm.

Thị: Hoàng Thị là cỏ thực vật lâu năm, lá nhỏ hình bầu, nở hoa vàng nhỏ, rễ dùng làm thuốc. Trong loài cỏ thơm, Thị là thứ phổ biến, tuy ít người dùng đặt tên nhưng nhìn từ góc độ nội dung và âm đọc thì dùng chữ Thị đặt tên rất hay, đồng âm với chữ Kỳ, là chữ dễ phối hợp. Ví dụ: Chu Lý Thị, Lý Nhĩ Thị.

Khiêm: là loại cỏ thực vật có vòng đời một năm, sống trong hồ nước, toàn thân mọc gai, lá tròn giống như lá Sen, nổi trên mặt nước. Hoa màu tím. Khiêm là loại cỏ trong nước, khi dùng đặt tên cũng nên xét tới sự phối hợp cùng nước. Ví dụ: Lưu Khiêm Liên, Lý Vũ Khiêm, Triệu Khiêm Trạch.

Trữ: Trữ gai là loại cỏ sinh trưởng lâu năm, thân trắng cao 7 m, lá hình quả trứng hoặc hình trái tim, nở hoa xanh, sức sống bền bỉ, là nguyên liệu quan trọng trong ngành dệt. Chữ Trữ ít nét viết hơn chữ Trợ, âm đọc dễ nghe, tỷ lệ dùng chữ Trữ đặt tên còn thấp nên không sợ trùng tên. Ví dụ: Trương Thanh Trữ, Trương Lãng Trữ.

Mậu, Long, Mục và Linh: cẩn thận với những chữ đồng âm

Hộ: Hộ Vĩ là thực vật sinh trưởng lâu năm, sống ở bờ nước, lá nhọn, hoa tím ở phía dưới cánh hoa có nhiều sợi tơ dạng lông. Hộ là chữ thường được dùng đặt tên. Nhưng xem ra nó vẫn chưa quen thuộc lắm, dùng chữ Hộ đặt tên không sợ bị trùng tên. Ví dụ: Trương Kiến Hộ, Điều Hộ Điền.

Mậu: không phải tên của loài cỏ nhưng nó là tính từ thường dùng để tả về cây cỏ như: xanh tốt, phì nhiêu, um tùm nên nó được liệt vào hàng cây cỏ. Diễn viên nổi tiếng: Châu Thời Mậu, tên Mậu ấy nghe rất hay. Nhưng tác giả cho rằng chữ Mậu này dùng để đặt tên đệm thì hay hơn nhiều. Ví dụ: Lý Mậu Hồng, Vương Mậu Thần.

Long: cũng là tính từ thuộc về cây cỏ như Mậu, Long này đồng âm với Long (rồng). Chữ rồng hiện nay đặt tên khá nhiều, bởi vậy ta dùng chữ Long thảo này sẽ hay hơn nhiều. Ví dụ: Lưu Sung Long, Trương Chỉ Long, Lý Long Mai.

Mục: Linh Lãng là loại thực vật cỏ lâu năm, lá dài, nở hoa hình bướm, màu tím, cũng có thể gọi là Linh Lãng tím. Khi đặt tên ta hiếm thấy chữ Mục mà chỉ thấy chữ Mộc. Thực ra chữ Mục có ý nghĩa hơn chữ Mộc nhiều, bởi vì chữ Mộc còn có nghĩa là "đần" đầu óc không sáng suốt. Mà chữ Mộc lại đồng âm với chữ Mục, mà Mục lại không có nghĩa gì xấu. Bởi vậy dùng chữ Mục đặt tên rất hay. Ví dụ: Trương Tử Mục, Hàn Mục Thanh, Lý Mục Tử.

Khoảnh: hay còn gọi là Thanh Má, là cỏ có vòng đời trong vòng một năm, lá bản bốn, hình trái tim, có lông mềm. Nở hoa màu vàng. Chữ Khoảnh đồng âm với chữ Thịnh, xét về mặt âm thanh rất dễ và thích hợp để đặt tên, xét về mặt ý nghĩa thì nó rất bền chặt và kiên cường. Do đó dùng chữ Khoảnh đặt tên sẽ rất hay. Ví dụ: Trương Khoảnh Kiệt, Triệu Khoảnh Huệ.

Cò: là cỏ thực vật sinh trưởng lâu năm, sinh sống trong đầm nở hoa màu tím hồng. Cò phát âm giống như chữ "Cô" (cô nương), trong khi đặt tên người ta hay nghĩ tới chữ cô này chứ chưa thấy xuất hiện chữ cò như trên. Trong cuộc sống hiện thực có tên một số người nghe rất lạ nhưng dần cũng thành quen. Chữ Cò mới nghe sẽ thấy kỳ lạ, nhưng khi đặt tên cố tìm ra âm phối hợp thích hợp, thì khi đọc tên sẽ thuận miệng hơn. Ví dụ: Điền Phong Cò, Lâm Nhất Cò, Hán Cò Thuần.

Linh: là loài thực vật thuộc loại khuẩn ký sinh trên cây sung hình giống như cây cam nhưng vỏ màu nâu đen hoặc màu phấn hồng, có giá trị về dược liệu. Trong loài cỏ thơm thì cỏ Linh này thuộc vào loại cỏ có giá trị, có thể được gọi là loại cỏ kỳ diệu. Bởi vì cách phát âm và ý nghĩa của nó đều rất có ý nghĩa hay, nên đặt tên cho con bạn bằng chữ Linh này rất lý tưởng. Ví dụ: Vương Kỳ Linh, Lý Tùng Linh, Lã Hồng Linh.

Nhĩ, Tây, Di và Đồng: những cái tên tránh trở thành lập dị

Nhĩ: là loại thực vật, bên trên chữ này có bộ thảo nói lên rằng nó liên quan tới thảo, trên thực tế nó là một hình dung từ dùng cho cây cỏ, để tả những cây cỏ hình dáng mềm mại, nhỏ nhắn. Hiện nay xuất hiện một hiện tượng xem người khác đặt tên là gì, thì mình cũng dùng chữ ấy để đặt tên. Dùng chữ mới sẽ sợ bị mọi người chê cười, không dám khác mọi người. Kết quả là mọi người chỉ dùng quanh quẩn mấy chữ nên bị lặp lại khá nhiều. Thực ra khi đặt tên không được mang tính quần chúng, nó sẽ giống như mặc quần áo, nếu không khác giống mọi người nó sẽ biến thành lập dị. Ví dụ: Trương Nhĩ Dung, Lưu Dung Phương.

Tây: Tây thảo là loài sinh vật lâu năm, rễ cụm, thân có gai, lá luân sinh, hình trái tim hoặc hình quả trứng, hoa màu vàng, quả màu hồng hoặc màu đen hình cầu. Rễ có thể dùng để làm thuốc nhuộm đỏ, cũng có thể làm vị thuốc, phát âm của chữ Tây rất dễ nghe, dùng chữ Tây đó để đặt tên nghe sẽ nho nhã hơn. Ví dụ: Lý Tây Vân, Tăng Tây Kiến.

Di: là chữ đa âm tiết, chỉ mầm cỏ khi mới mọc, khi đọc là Nghị thì nó lại có nghĩa là diệt trừ loài cỏ dại ở đồng ruộng. Khi đặt tên có thể lấy âm Nghị, câu này vừa dễ nghe lại vừa dễ phối âm. Ví dụ: Chu Kinh Di, Chu Thuỷ Di.

Đồng: còn gọi là loài thực vật có vòng đời từ một tới hai năm, lá hình dài dạng lông, nở hoa trắng hoặc vàng. Búp và lá đều có mùi thơm đặc thù, có thể ăn được. Âm đọc của từ này cũng dễ nghe. Ví dụ: Lý Hương Đồng, Trương Cát Đồng.

Toàn, Giang, Tầm: những cái tên mơ hồ lại giàu sức tưởng tượng

Nhàn: là tính từ tả cây cỏ, khi dùng đặt tên, âm đọc nghe nhã nhặn, hơn nữa âm đọc trùng không nhiều. Hiện nay dùng chữ Nhàn đặt tên khá nhiều nhưng chỉ có đơn âm như: Dương Nhàn, Ngô Nhàn, nhưng số lượng trùng tên của ba chữ rất ít. Ví dụ: Liễu Như Nhàn, Lý Hương Nhàn.

Hành: là cây cỏ sinh vật lâu năm, lá hình tròn, nổi trên mặt nước, rễ cắm sâu dưới nước, nở hoa màu vàng, kết quả tròn bầu. Hành là thực vật mặt nước, có một số loại giống như hoa Sen, nhưng Hành không được nổi danh như hoa Sen. Bởi vậy tỷ lệ người dùng chữ này để đặt tên rất thấp. Nhưng khi phát âm chữ Hành nghe rất thích hợp để đặt tên. Ví dụ: Chu Hành Quân, Tôn Hành Chí, Vương Hành Cao.

Toàn: là một loại cỏ thơm có ở trong sách cổ, chưa nhìn thấy hình dạng của nó ra sao. Nhưng những tên mà chưa rõ hình dạng thì lại càng có lợi cho việc tưởng tượng, có lúc kết quả tưởng tượng lại có hình tượng hơn. Minh tinh điện ảnh Hồng Kông, Giang Minh Toàn, trong tên của cô ấy có chữ Toàn, khiến cho tên của cô ấy thêm phần dễ nghe. Chúng ta có thể mở rộng nội dung ý nghĩa, hình tượng cụ thể của chữ Toàn có sức tưởng tượng thành một loài cỏ thơm nào đó thì sẽ dùng chữ ấy tô sức cho Toàn. Ví dụ: Lưu Phúc Toàn, Lý Vĩnh Toàn.

Giang: Giang Thổ là loài thực vật sống lâu năm, lá nhỏ dài, hoa màu xanh nâu. Giang đồng âm với chữ Giang (sông), chữ Giang (sông) khi đặt tên mọi người thường lấy tên này, mà chữ Giang thổ thì rất ít thấy, thực ra lấy tên cỏ hay nước để đặt tên đều hy vọng chạy theo cái đẹp tự nhiên, nếu lấy chữ Giang thổ thì đặt tên sẽ có nhiều ý nghĩa mới. Ví dụ: Trịnh Lệ Giang, Lưu Giang Nhi…

Tầm: là loài cỏ thực vật lâu năm, hình trứng, nở hoa nhỏ. Tầm có nghĩa là kiếm tìm, có thêm bộ thảo đầu, có nghĩa là cây Tầm. Lấy chữ Tầm đặt tên cho con có nghĩa là luôn mong muốn nó vươn cao kiếm tìm ánh sáng. Ví dụ: Dương Tầm Căn, Vương Tầm Quang.

Tận: là loài thực vật có vòng sinh trưởng 1 năm, lá hình trứng có gai, nở hoa màu tím sắc xanh, kết quả tròn dài, lá và thân có thể làm thuốc nhuộm màu vàng. Trong khi đặt tên hiếm thấy người dùng chữ Tận, vì có nhiều âm đọc trùng như Tiến... Âm Tận có âm đọc rất hay và nếu dùng nó sẽ ít bị trùng tên. Ví dụ: Lý Tận Nhân, Triệu Tận Đức, Vương Dũng Tận.

Còn một nhóm chữ cỏ cây ngắn, mỗi chữ vẫn giữ riêng một nét nghĩa nhỏ mà sâu.

Hàm chỉ hoa sen, Đình, Bối và những chữ cỏ cây hiếm gặp

Hồng: là cỏ thực vật sinh trưởng trong vòng một năm, thân cao 3m, lá hình trứng, nở hoa đỏ hoặc trắng, là cây làm cảnh. Từ đồng âm với chữ Hồng có rất nhiều và đã thành quen thuộc nhưng chữ Hồng này rất ít người dùng. Ví dụ: Du Hồng Viên, Trương Chính Hồng.

Thời: Thời la là sinh vật cỏ, sinh trưởng lâu năm, lá dạng bóng, nở hoa vàng, quả hình bầu dục, rất thơm, có thể ép làm dầu thơm, làm phụ gia. Ngoài ra, Thời còn có hàm nghĩa là dị tà. Có lúc thi nhân làm thơ đã viết về nó rất đặc sắc, ít người dùng chữ Thời này để đặt tên. Ví dụ: Dương Thời Mậu, Lý Nghệ Thời.

Lăng: là loại thực vật thân cỏ, sống ở hồ, rễ mọc dưới bùn, lá phủ trên mặt nước, trông giống hình tam giác, hoa màu trắng, vỏ của quả có góc cạnh, màu xanh lục hoặc màu xám. Ví dụ: Đồng Hồng Lăng, Hứa Văn Lăng, Trương Mỹ Lăng.

Bạt: là loại thực vật lá tròn, hoa màu vàng xanh, quả hình cầu, âm bạt nữ ít dùng vì không hợp.

Phi: là chữ hình hoa Mỹ Thảo, hương thơm nồng. Ngày nay tên này được dùng cũng khá phổ biến. Ví dụ: Lỗ Phi Phi, Lý Tử Phi.

Minh: chủ yếu chỉ các loại cây mới nhú mầm, hoặc sự vật vừa mới bắt đầu xảy ra. Dùng chữ Minh để đặt tên cũng có thể dùng làm tên đệm. Ví dụ: Vương Hoàng Minh, Trương Nguyên Minh.

Hàm: chỉ hoa Sen, hoa Sen có nhiều cách gọi như hoa Liên. Cách gọi hoa Sen này được sử dụng khá phổ biến, cũng giống như cách gọi tên cho con gái Liên, Dung, Hà, chỉ có chữ Hàm là ít được dùng. Có thể là mọi người chưa hiểu được hết ý nghĩa của chữ Hàm. Chữ Hàm dùng để đặt làm tên rất dễ, chỉ cần kết hợp với chữ Liên, Hà, Dung là được.

Tương: là loại thực vật được chiêm ngưỡng gọi là Thanh Tương, là loại cây mọc một năm, cao khoảng ba thước, lá hình noãn hoặc hình kim, hoa màu hồng nhạt. Cũng được dùng làm thuốc. Có thể nói đặt tên chữ Tương thì không có gì phải lo lắng. Ví dụ: Đặng Thanh Tương, Lâm Tương Thanh, Lưu Tương Nhi, Triệu Tương Lăng.

Đình: nếu bạn thích thực vật, muốn cho con bạn mang tên có liên quan thì chữ Đình rất phù hợp. Ví dụ: Trương Văn Đình, Lưu Lịch Đình.

Bối: là loại cây không có hoa gọi là Bồi Lôi. Có diễn viên điện ảnh nổi tiếng tên là Lưu Bồi. Nhưng đặt tên Bối thì ít thấy. Ví dụ: Miêu Bối Tuyết, Trương Bối Hương.

Tóm lại, lấy cây cỏ để đặt tên là điều rất thú vị. Theo các phân tích trước, có nhiều loại cây vẫn chưa được dùng để đặt tên. Nếu giới thiệu kỹ các tên của những loài cây cỏ trên, hy vọng sẽ có ích cho mọi người khi lựa chọn đặt tên cho con của mình.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế