Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Mộc Lan nữ nương và hành trình đến vườn Cúc vàng

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202614 phút đọc3 lượt đọc
Mộc Lan nữ nương và hành trình đến vườn Cúc vàng

Một cô gái giả trai tòng quân, giấu kín thân phận suốt những năm chinh chiến — câu chuyện ấy đã đặt tên cho loài hoa Mộc Lan. Từ vị nữ anh hùng ấy, kho tên cây cỏ còn có Hợp Hoan sum vầy, Phù Tang nơi cửa biển, và khóm Cúc vàng mang ý nghĩa trường thọ...


Mộc Lan nữ nương và Hợp Hoan sum vầy

Mộc Lan: Mộc Lan cũng có thể gọi là "Tử Ngọc Lan", Hồng Ngọc Lan, thuộc họ Mộc Lan, là loại cây rụng lá, thân to. Được trồng nhiều ở các tỉnh thuộc lưu vực sông Trường Giang Trung Quốc. Cây Lan có chiều cao khoảng 5 mét, nụ hoa giống như đầu cái bút, hoa Mộc Lan có màu trắng ở bên trong và màu tím ở bên ngoài. Mộc Lan còn có một tên nhã xưng khác là "hoa nữ nương". Mộc Lan có tên hoa nữ nương là vì loài hoa này gắn liền với câu chuyện một người con gái thương cha già yếu, thương em trai còn nhỏ dại mà đất nước đang cần người tòng quân cho nên nàng đã giả nam để cùng các đồng đội khác đi xung kích, sau ngày chiến thắng trở về mọi người mới biết Mộc Lan là nữ, xúc động trước những hy sinh của nàng, tên nàng được tạc vào lịch sử như một dấu ấn anh hùng của người phụ nữ Trung Quốc.

Tên Mộc Lan không chỉ là hoa nữ nương mà còn mang ý nghĩa là vị anh hùng dân tộc Trung Quốc cho nên rất thích hợp với đặt tên cho con. Lấy tên Mộc Lan có thể dùng trực tiếp hai chữ Mộc Lan.

Hợp Hoan: Hợp Hoan cũng có thể gọi là "cây dạ hợp" nó thuộc họ đậu, và cũng do hình dáng giống hệt cây hoa xấu hổ cho nên nó còn hàm chứa thuộc họ xấu hổ nữa. Cây Hợp Hoan thuộc loại cây lá rụng, thân to. Được trồng rộng rãi ở khu vực phía Nam Hoa Bắc của Trung Quốc, Hợp Hoan có thân cao vào khoảng 16 mét, trên ngọn cây có hình ô, lá nhỏ và hoa chỉ nở về đêm.

Hợp Hoan là loài hoa rất đẹp, loài hoa này ở phía Bắc thuộc vào loài hoa khó kiếm tìm. Vào những đêm mùa hạ, chúng ta rất hay bắt gặp cảnh những người đi hóng mát mà trên tay cầm bông hoa dạ hương, nếu bạn đưa bông hoa ấy lên mũi ngửi bạn sẽ cảm nhận ngay được mùi hương quyến rũ lòng người của nó, nếu bạn lấy Hợp Hoan để đặt tên ngay thì nó có ý nghĩa là cầu mong gia đình vui vẻ. Ví dụ: Tống Hợp Hoan, Lưu Hợp Hoan.

Đinh Hương, Kết Hương và chuyện cây Phù Tang nơi cửa biển

Đinh Hương: Đinh Hương cũng có thể có một tên gọi khác là Đinh Hương Tứ, Đinh Hương Hoa Bắc. Khắp nơi trên đất nước Trung Quốc đều trồng loại cây này. Các thành phố như: Cáp Nhĩ Tân thuộc tỉnh Hắc Long Giang, Thanh Hải (Tây Ninh) là thành phố của loài cây này. Đinh Hương cao khoảng 15 mét, có màu đỏ tía đậm, mùi thơm rất thanh. Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 500 loài. Những giống khác, chủ yếu là: Đinh Hương Trắng, Đinh Hương Phật Thủ...

Lấy Đinh Hương để đặt tên không nên dùng trực tiếp hai chữ "Đinh Hương" vì nghe không hay lắm, nhưng bạn có thể sử dụng chữ "Đinh". Ví dụ như: Lý Tử Đinh, Nghiêm Tử Đinh...

Kết Hương: cây Kết Hương cũng có thể gọi là "Hoàng Thuỵ Hương" hay là "Đả kết hoa", Kết Hương thuộc họ cây Thuỵ Hương, cây to và lá cây lá rụng. Cây Kết Hương được trồng đầu tiên tại các tỉnh Hà Nam, Thiểm Tây và lưu vực sông Trường Giang, cây Kết Hương cao khoảng 2 mét, cành cây rất mềm có sắc hồng, mỗi năm cứ vào cuối thu là cây rụng lá, và từ cành cây nhú ra chồi hoa đến khi hoa nở thì hoa có màu vàng kim và có mùi hương làm nao lòng người khác.

Trong việc đặt tên chữ "Hương" là thể hiện của hiện tượng trọng danh, cho nên bạn có thể dùng trực tiếp hai chữ Kết Hương để đặt tên. Ví dụ như: Vương Kết Hương, Trương Kết Hương, Ngô Kết Hương.

Phù Tang: cây Phù Tang cũng có thể gọi là cây Phật Tang. Phù Tang thuộc họ của cây hoa quý tím; nó được trồng rất nhiều ở các địa phương Trung Quốc, cây Phù Tang có chiều cao khoảng 6 mét, thân to, lá rụng, hoa có màu đỏ giống như hoa hồng, là loài hoa nổi tiếng về phương diện thưởng thức. Trong gia đình của người viết bài này có một bồn hoa Phù Tang, mỗi khi đến mùa hoa đều nở ra mấy bông rất đẹp và được mọi người yêu thích. Sau này khi xung quân ở Phúc Kiến, thuyền vừa đậu ở cửa ngõ Bình Đàm thì may mắn trông thấy chùa Nguyên. Trong chùa cũng có cây Phù Tang, nhưng nó cao hơn một nửa cây Liễu ở Bắc Kinh, cây nở ra rất nhiều hoa, người viết chợt nghĩ đến cây hoa Phù Tang của nhà mình không thể so sánh với cây hoa Phù Tang ở chùa Nguyên này được, chỉ có điều người dân địa phương ở đây không chú ý lắm đến loài hoa này, cũng giống như người dân Bắc Kinh coi cái việc nhìn thấy cây Liễu ở ven đường là một điều bình thường. Do đó chỉ có các chiến hữu ở phương Bắc mới lần lượt rủ nhau đến trước cây hoa này chụp ảnh làm kỷ niệm.

Nếu bạn muốn lấy tên loài cây này để đặt cho con bạn thì tốt nhất là không lấy tên gốc của nó là Phù Tang để đặt tên. Bởi vì hai chữ "Phù Tang" nghe không được hay lắm, có rất nhiều người phương Bắc đã gọi cây Phù Tang là "Đỗ Quyên Châu Cận". Do đó bạn có thể lấy tên gọi khác của Phù Tang là "Châu Cận" để đặt tên cho con.

Có những cái tên nghe là thấy có khí phách, dành riêng cho con trai.

Uất Lý, hoa Lê và những gốc cây đặt tên cho con trai

Uất Lý: cây Uất Lý có thể gọi là "cây Ngọc Mai", "Cây Hoan Mai", "Uất Lý" thuộc họ cây Tường Vi; các khu vực như: Hoa Trung, Hoa Bắc, Hoa Đông của Trung Quốc thường trồng loài cây này. Uất Lý có chiều cao khoảng 1,5 mét, khi hoa mới nở thì có màu đỏ nhưng đến khi sắp tàn thì biến thành màu đỏ úa. Cây Uất Lý có khả năng chịu khô hanh, rét buốt có sức sống rất mạnh mẽ.

Lấy từ Uất Lý để đặt tên thì rất có ý nghĩa, bởi vì tên Uất Lý ngoài hàm ý chỉ một loài hoa ra thì chữ Uất và chữ Lý đều là họ. Nếu như có ba chữ đứng cùng nhau thì đấy là một tên tổ hợp của ba họ. Ví dụ như: Trương Uất Lý, Triệu Uất Lý. Ngoài ra, nếu là họ nhỏ cũng có thể dùng tên khác của cây Uất Lý như: Ngọc Mai, Hoan Mai. Ví dụ như: Hoắc Hỷ Mai, Đậu Hỷ Mai...

Hoa Lê: hoa Lê thuộc họ cây Tường Vi, thân to lá rụng, trên khắp đất nước Trung Quốc đều trồng loại cây này, hoa Lê có màu trắng, thời kỳ hoa nở rực rỡ nhất thì toàn bộ cây được bao bọc bởi màu trắng xoá như tuyết, trông rất đẹp mắt. Nói đến những đặc tính của hoa Lê, trong lịch sử đã có không ít danh nhân miêu tả về nó, một loài hoa thanh khiết, trắng trong. Lấy chữ hoa Lê để đặt tên tương đối dễ nghe. Ví dụ như: Phạm Lê Hoa, Phan Lê Hoa, Hạ Lê Hoa.

Ngân Liễu: Ngân Liễu cũng có thể gọi là "ngân nha liễu", "Miên Hoa Liễu". Ngân Liễu thuộc họ Dương Liễu, lá rụng, loại cây này được trồng ở nhiều địa phương của Trung Quốc, chiều cao của Ngân Liễu vào khoảng 1 đến 2 mét. Thời gian để hoa trưởng thành tương đối dài, khi hoa nở rộ nhất thì nhuỵ hoa có màu xanh non nà, hương thơm dịu mát, rất là đáng yêu. Đặc điểm của cây Ngân Liễu là thời kỳ sinh trưởng dài và nếu được ép khô hoa sẽ lâu bị rụng. Nếu lấy chữ hoa Ngân Liễu để đặt tên thì có thể dùng trực tiếp hai chữ Ngân Liễu. Ví dụ như: Tô Ngân Liễu, Tống Ngân Liễu...

Cây Lang Du: cây Lang Du thuộc họ cây Du, cây này có lá xanh, thân to, lá rụng, phân bố ở lưu vực sông Hoàng Hà và các khu vực phía Nam khác. Chiều cao của cây Lang Du có thể tới 25 mét. Cây Lang Du thường dùng để tạo thành các bồn cảnh bằng gỗ bởi vì cây Lang Du là loài cây gỗ tốt nên khi tạo thành bồn cảnh thì rất có khí phách.

Lang Du thích hợp để đặt tên cho con trai. Ví dụ như: Tần Lang Du, Vĩ Lang Du, Nghiêm Lang Du...

Cây Thích Kê Trảo: hoa Thích Kê Trảo cũng có thể gọi là "Thanh Phong", thuộc họ cây Thích, là loại cây thân gỗ nhỏ, lá rụng được trồng ở rất nhiều địa phương của Trung Quốc. Chiều cao vào khoảng 13 mét, ngọn cây hình cái ô, lá có màu xanh biếc non nà nhưng đến mùa thu lại chuyển thành màu hồng. Những giống cây có gần họ với loại cây này là: cây Phong tam giác, cây Phong ngũ giác, Thích Trang Diệp, Thích Kê Trảo hồng tử...

Nếu lấy cách gọi khác của cây Thích Kê Trảo là Thanh Phong thì có thể đặt tên cho con trai. Ví dụ như: Tàng Thanh Phong, Liễu Thanh Phong, Lôi Thanh Phong.

Thích Trảo Kê Hồng Tử: thuộc họ của cây Thích, thân to lá rụng. Chiều cao của cây này khoảng 10 mét, cành cây khô có màu tía, khi xuân tới lá cây có màu đỏ tươi, vào những ngày hạ chói nhất chuyển màu sang đỏ tía, vào mùa xuân lá đỏ càng thêm đỏ. Cách gọi khác của cây Thích Trảo Kê Hồng Tử là cây Hồng Phong, có thể dùng để đặt tên cho con trai. Ví dụ như: Lưu Hồng Phong, Lý Hồng Phong...

Mộc Cẩn bền bỉ, Khang Đường hiếm gặp và sắc cúc vàng

Cây Mộc Cẩn: cây Mộc Cẩn thuộc họ của cây Quỳ tím và được trồng ở rất nhiều nơi của Trung Quốc. Cây Mộc Cẩn có chiều cao vào khoảng 3 đến 4 mét. Đặc tính của cây Mộc Cẩn này là có sức sống rất mạnh mẽ, nó không những chịu được bóng râm, chịu được giá rét mà còn chịu được "khô hanh hay ẩm ướt nữa". Như thế cũng đồng nghĩa với việc cứ trồng nó xuống đất là nó nhất định sống, quyết không để yếu đuối. Với tính cách sống mạnh mẽ, không yếu đuối này đối với đứa trẻ nhỏ là rất quan trọng. Do đó đối với bé gái có thể lấy chữ Mộc Cẩn để đặt tên. Ví dụ như: Dư Mộc Cẩn, Phạm Mộc Cẩn, Châu Mộc Cẩn.

Khang Đường: cây Khang Đường có thể gọi là "địa đường", "kim khang đường mai", "hoàng độ mai". Cây Khang Đường thuộc họ của cây Tường Vi. Và nó được trồng khắp nơi trên đất nước Trung Quốc, chiều cao của cây Khang Đường vào khoảng hơn một mét, hoa nở có màu vàng kim. Giống cây gần với cây Khang Đường có: hoa Khang Đường kim biên và hoa Khang Đường ngọc biên.

Lấy tên Khang Đường để đặt tên cho bé thường rất ít, có lẽ là do nó không được trồng phổ biến ở các thành phố. Vì vậy sự hiểu biết của mọi người về hoa Khang Đường còn chưa được đầy đủ, thực ra thì như thế lại hoá ra có lợi cho việc dùng loài hoa này để đặt tên, có thể dễ dàng tìm sự khác nhau trong cách đặt tên với mọi người. Nếu lấy hoa Khang Đường để đặt tên có thể dùng trực tiếp hai chữ "Khang Đường" và các cách gọi khác của nó như: Khang Kim, Mai Đường, Độ Mai... Ví dụ như: Dương Khang Đường, Vương Khang Đường, Lưu Kim Đường, Hà Đường Mai, Trương Độ Mai, Lý Độ Mai...

Hoa Cẩm Đối: hoa Cẩm Đối cũng có thể gọi là "Hải Đường ngọc sắc", thuộc họ nhẫn đông. Hoa Cẩm Đối được trồng đầu tiên tại phía Bắc Trung Quốc và Triều Tiên và hiện nay thì các tỉnh phía Đông đã trồng loài hoa này. Chiều cao của hoa Cẩm Đối khoảng 3 mét, hoa có màu đỏ của hoa hồng, sáng ngời như gấm. Do đó còn có người gọi nó là "Hải Đường Sắc ngọc". Lấy "Cẩm Đối" để đặt tên không hẳn là dễ nghe, bạn có thể lấy cách gọi đơn giản của "Hải Đường sắc ngọc" là Ngọc Đường để đặt tên. Ví dụ như: Trương Ngọc Đường, Liễu Ngọc Đường...

Bên cạnh những gốc cây thân cao là một khu vườn khác: những loài hoa cỏ nhỏ nhắn, được trồng bằng bồn trước hiên nhà.

Cúc Vạn Thọ: Cúc Vạn Thọ có thể gọi là "Cúc Tổ ong". Cúc Vạn Thọ thuộc họ Cúc, nguồn gốc của loài hoa này xuất phát từ Mêhicô, nhưng hiện nay đã được trồng ở nhiều nơi của Trung Quốc, Cúc Vạn Thọ có chiều cao khoảng 100 cm, hoa nở ra là màu vàng, thời kỳ hoa nở đến lúc tàn tương đối dài, nếu tháng 6 nở hoa thì có thể giữ được đến khi có tuyết rơi xuống. Các giống hoa có quan hệ gần gũi với Cúc Vạn Thọ là: Hoàng Đan, Hoàng Kim, Hồng Đăng, và Hoàng Đăng...

Lấy chữ Cúc Vạn Thọ để đặt tên có thể mang ý nghĩa là trường thọ, chỉ cần gọi tắt là Thọ Cúc là được rồi. Ví dụ như: Điền Thọ Cúc, Lam Thọ Cúc, Nguyễn Thọ Cúc…

Hoa Phượng Tiên: hoa Phượng Tiên có chiều cao khoảng 30 đến 60 cm, nó được trồng nhiều ở các địa phương Trung Quốc, khi nở ra hoa thì hình dáng hoa tương đối to, hoa có nhiều màu sắc như: màu đỏ, màu đỏ đậm và màu trắng xanh. Hiện nay, người ta đặt tên cho con mình là hoa Phượng Tiên tương đối phổ biến, ví dụ như: Lộ Phượng Tiên, Khuất Phượng Tiên.

Thuý Cúc: Thuý Cúc cũng có thể gọi là "Lan Cúc", "ngũ nguyệt Cúc", Thuý Cúc thuộc họ Cúc và được trồng phổ biến ở khắp các tỉnh thành Trung Quốc. Thuý Cúc cao khoảng 30 đến 90 cm, hoa được nở ra từ đỉnh cành và có màu xanh. Phổ biến giống của hoa Thuý Cúc có rất nhiều loại và nhiều màu sắc như: màu trắng, màu hồng, màu phấn hồng, màu xanh, màu tím. Hoa Thuý Cúc và hoa Lam Cúc đều có thể dùng để đặt tên. Ví dụ như: Thẩm Thuý Cúc, Tạ Thuý Cúc, Phùng Lam Cúc, Vương Lam Cúc.

Tam Sắc Cẩn: Tam Sắc Cẩn cũng có thể gọi là hoa Hồ Điệp, Mai Hồ Điệp, hoa Mặt Quỷ, Tam Sắc Cẩn thuộc họ của cây rau đay, được trồng rất nhiều ở khắp nơi của Trung Quốc. Chiều cao của Tam Sắc Cẩn khoảng 30 cm, và trong một bông hoa có thể có tới 3 màu là: xanh, vàng, trắng, do đó mới có tên gọi là Tam Sắc Cẩn.

Hoa Tam Sắc Cẩn nở chủ yếu vào mùa xuân, đặc biệt nó là một loài hoa chủ chốt trong đàn hoa rực rỡ sắc màu của mùa xuân. Và tính chân chất, thật thà, vẻ đẹp mĩ miều của hoa đã làm cho người ta chỉ vừa nhìn thôi đã cảm thấy thích thú.

Tam Sắc Cẩn có thể gọi tắt là Cẩn. Trong khi đặt tên chỉ cần kết hợp một từ khác nữa để đặt tên thì nghe rất hay. Ví dụ như: Hồ Mai Cẩn, Hà Cẩn Hồng.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế