Bài tổng quan
Lộ, Tiến, Vân và kho chữ mượn từ mưa sương đặt tên
Một hạt sương đọng trên lá, một áng mây đổi màu lúc hoàng hôn, một cơn mưa rơi đúng lúc đồng ruộng khô hạn – có người tin rằng chính những khoảnh khắc thoáng qua ấy giấu sẵn một cái tên đẹp. Từ Lộ, Tiến, Vân đến Sương, Nghệ, Lôi, có chữ đọc lên rất thuận tai, có chữ vì trùng âm mà bị bỏ quên suốt bao đời dù ý nghĩa chẳng hề xấu…
Lộ, Tiến, Vân và Hà: những chữ mượn từ mưa sương
Lộ: Lộ là một chữ có nhiều ý nghĩa, từ góc độ tự nhiên mà nói, nó có ý nghĩa là một hạt ngọc châu tinh khiết, ngưng tụ trên mặt đất, thường gọi là sương. Lộ thường gặp trong tên họ của mọi người, vì không ít người thích cái ý nghĩa giọt sương thuần khiết quý giá đó. Âm Lộ đọc lên rất dễ nghe, hơn nữa nó cũng rất dễ phối chữ. Dùng Lộ làm tên đệm ta có thể phối hợp với tên các loài thực vật làm tên, nó sẽ tạo nên nét đẹp của thiên nhiên, hoặc ta có thể dùng Lộ để phối với những chữ có tính đặc trưng như: Lý Lộ Hà, có ý nghĩa như giọt sương trên lá Sen; Trương Dung Lộ, có ý nghĩa như giọt sương trên bông hoa Phù Dung; Lưu Bảo Lộ có ý nghĩa như giọt sương thuần khiết và quý giá.
Tiến: Tiến là một hạt tuyết nhỏ có màu trắng đục bay lơ lửng trong không trung, thường xuất hiện trước khi hoặc trong khi tuyết rơi. Người ta thường ít dùng tên là Tiến, bởi vì khi đọc lên nó gần với âm Hiến, và nó cũng khó phối chữ. Nhưng nó rất thích hợp để chỉ hàm ý trong tên. Vì nó từ trên trời rơi xuống – nửa như tuyết, nửa lại không phải là tuyết, đó là điều khó lý giải. Nhưng nếu như bạn cảm thấy tên là Tuyết hơi lộ liễu, bạn có thể dùng chữ Tiến, căn cứ vào hàm ý trong chữ Tiến ta có thể chọn tên để phối chữ. Ví dụ: Vương Tiến Thiên, ý nghĩa là Tiến do trời ban xuống; Đỗ Tiến Mông, có ý nghĩa như những hạt tuyết nhỏ mông mông lung lung, một cảnh sắc tuyết rơi tuyệt đẹp.
Vân: Vân là Vân khí, trong một số tác phẩm văn học thường dùng: Vân khói, lấy Vân để hình dung một mỹ cảnh thiên nhiên. Trong lịch sử có một người tên là Tống Vân Linh, điều này cho thấy người xưa rất thích chữ Vân trong tên của mình. Vậy phải làm thế nào để chọn chữ vừa ý với chữ Vân? Tác giả cho rằng, chữ Vân nên đặt ở giữa tên họ của mình, nó không thích hợp khi đặt ở giữa hoặc cuối tên, nếu ta đặt ở đầu hoặc cuối tên thì không được dễ nghe cho lắm, bởi vì âm đọc của chữ Vân đồng âm với âm Thấp (lùn), nếu dùng đặt ở đầu hoặc cuối tên rất dễ làm cho người khác hiểu sai ý. Lúc đặt tên ta nên căn cứ vào hàm ý của Vân khí để tìm chữ phối. Ví dụ: Trương Vân Phương, ý nghĩa như một đám hương Vân; Lý Vân Lộ, ý nghĩa như Vân lộ; Dương Vân Yên, ý nghĩa giống như là vân khói.
Hà: Hà là tia sáng chiếu rọi trong bầu trời do tác dụng lan toả của không khí khiến cho các áng mây trong bầu trời có màu sắc như: vàng, hồng, tía, thường xuất hiện khi mặt trời mọc, hoặc khi mặt trời lặn. Hà đôi khi cũng chỉ màu sắc của Vân. Hà thường dùng để đặt tên, ta thấy trong một số họ lớn như: Trương, Vương, Lý, Triệu, Lưu, thì làm cho tên trở nên nặng nề. Tác giả cho rằng, do quá nhiều người dùng tên Hà cho nên nó chỉ thích hợp khi dùng trong các họ nhỏ, hơn nữa lại phải phối với các chữ mới mẻ mới có hiệu quả. Đầu tiên ta dùng những tên quen thuộc như: Thái Hà, Hải Hà, Hồng Hà để khai thác và những tên đơn như: Lý Hà, Vương Hà, Trương Hà… Ta có thể chọn một số chữ để hình dung từ chữ Hà tuyệt đẹp. Ví dụ: Phan Hà Viễn, ý nghĩa như áng mây trên trời, cũng có nghĩa là hiển thị chí hướng cao xa đẹp đẽ. Hà Hà Phong, có ý nghĩa như Hà của núi Phong Tương; Phùng Thê Hà, có ý nghĩa như dựa vào Hà mà ở.
Sương, Nghệ, Phi và Lâm: từ hạt sương tinh khiết đến cơn mưa đúng lúc
Sương: Sương là khí ẩm có ở nhiệt độ xuống dưới 0°C, là hơi nước trong không khí bay là đà trên mặt đất, là những hạt băng có màu trắng ngưng tụ trên các vật thể. Chữ Sương được ứng dụng trong tên họ tương đối cao, nhưng tên lại không nhiều. Sương thường dùng nhiều trong tên con gái, có thể do khả năng liên quan đến âm đọc. Sương có hàm ý rất tinh khiết trinh bạch. Người ta hình dung những vật thể tinh khiết thì hay nghĩ đến từ Sương. Khi đặt tên là Sương ta nên chọn chữ để nhấn mạnh sự tinh khiết của nó. Ví dụ: Bạch Ngọc Sương có ý nghĩa là Sương giống như Bạch Ngọc, cũng có thể giải thích là Sương giống như ngọc vậy. Ví dụ: Lâm Sương Khiết, có ý nghĩa là Sương tinh khiết vô cùng; Triệu Sương Thanh, có ý nghĩa là thân bạch giống như Sương.
Nghệ: Nghệ là một hiện tượng ánh sáng xuất hiện cùng với cầu vồng. Có lúc chúng ta là những hạt nước nhỏ trong bầu trời do tác dụng của phản xạ khi ánh mặt trời chiếu vào, hình thành những dải màu hình vòng cung. Những dải màu này được sắp xếp từ vòng ngoài đến vòng trong là tím, tràm, xanh, lục, vàng, cam, hồng. Tất cả gồm 7 màu sắc tuần tự tương phản nhau, màu sắc nhẹ nhàng. Trong tên gọi, dùng chữ Hồng tức là cầu vồng đặt tên thì rất phổ biến, song dùng chữ Nghệ để đặt tên thì rất ít. Dùng chữ Nghệ đặt tên về mặt ý nghĩa mà nói thì cũng giống như Hồng, mà tỷ lệ trùng tên lại ít hơn, chỉ có điều âm đọc hơi khó phối chữ. Khi đặt tên là Nghệ, có thể dùng chữ phối để tăng thêm vẻ lộng lẫy của hiện tượng tự nhiên này. Ví dụ: Triệu Văn Nghệ, có ý nghĩa như sắc cầu vồng trong mây; Giang Nghệ Hồng, có ý nghĩa như cầu vồng in trên bóng nước sông; Lý Giai Nghệ, có ý nghĩa như một dáng màu tuyệt hảo.
Phi: Phi tuy không phải là một hiện tượng tự nhiên cụ thể, nhưng hình dung nó giống như mưa tuyết, những từ hay dùng như: Vũ Tuyết Phi Phi, Phi Phi Vũ, Mưa Bụi Phi Phi,… Những chữ đồng âm với Phi có Bang (phi), Phi (hoa cỏ ngào ngạt)… Những chữ này cũng được dùng để đặt tên rất nhiều, song dùng chữ Phi này để đặt tên vẫn chưa thịnh hành cho lắm. Khi đặt tên là Phi chúng ta hãy liên tưởng đến trạng thái mưa tuyết để phối chữ. Ví dụ: Hoa Vũ Phi, có nghĩa là mưa rơi rơi, kiểu mưa này rất mông lung, giàu ý thơ; Khổng Phi Phi, tên này rất thích hợp cho con gái, có ý nghĩa như mưa rơi hoặc tuyết rơi. Phi cũng có thể phối với những chữ nằm ngoài ý (mưa, tuyết) Ví dụ: Lý Tử Phi, Lâm Thi Phi.
Lâm: là một hiện tượng mưa liên tục vài ngày. Người ta thường miêu tả Lâm giống như một người hay một sự vật nào đó được giúp đỡ đúng lúc. Trong việc dùng chữ Lâm đặt tên – thì chữ Lâm này ít được dùng hơn những chữ đồng âm như: Lâm (rừng), Lâm (ngọc lâm)… Dùng chữ Lâm để đặt tên, ta nên sử dụng hàm ý "mưa đúng lúc". Ví dụ: Vương Thu Lâm, có ý nghĩa là mùa thu khô ráo, bỗng có mưa xuống đúng lúc.
Tống Cam Lâm: Tống và Tống (tiễn) đồng âm, vậy ở đây là ngầm hiểu là "Tiễn mưa đi".
Chu Hàn Lâm: Ý nghĩa là hạn hán lâu ngày mới gặp trời mưa.
Bái, Tiêu, Chấn và Tế: khí phách của mưa to và tia sét
Bái: Bái có ý nghĩa là mưa to, trong tư liệu hộ tịch có gọi "mưa to" hoặc "nhà lớn", "thiên lôi" nghe rất buồn cười. Lại có một người họ Hạ tên là Hạ Đại Vũ, nghe càng không giống tên. Nếu bạn muốn lấy hiện tượng "mưa to" này để đặt tên, bạn nên dùng chữ Bái, như vậy đọc sẽ dễ nghe hơn. Khi lấy chữ "Bái" đặt tên, ta có thể phối những chữ tả trạng thái mưa to hoặc tên địa danh mà bạn thích. Ví dụ: Lưu Thị Bái, có nghĩa là trong thành phố có mưa to. Điền Bái Lâm, có nghĩa là trong rừng có mưa lớn. Vương Bái Thanh, có nghĩa như âm thanh của trận mưa lớn.
Tiêu: có ý nghĩa là Vân và bầu trời. Người ta thường miêu tả sự cao xa của bầu trời như là Vân Tiêu, Cửu Tiêu, Trọng Tiêu… Cũng có thể dùng "Tiêu Hàn" chỉ đại thiên hà. Chữ Tiêu thường gặp trong tên gọi, vì chữ Tiêu có dương khí nên người ta hay đặt tên cho con trai. Dùng chữ Tiêu để đặt tên, ta chọn những chữ có liên quan đến trời cao, mây cao để phối chữ, cố gắng thể hiện những khí phách của nam giới. Ví dụ: Trương Lãng Tiêu, chữ Lãng có ý nghĩa thăng hoa trong không trung, Lãng Tiêu chính là khí lớn ở trời cao. Thẩm Vân Tiêu ý nghĩa như áng mây có thể bay tới chín tầng cao. Lỗ Tiên Hán, họ Lỗ không có nghĩa là Lỗ mạng, nhưng đã mang họ Lỗ rồi, thì không nên dùng tên Văn Nhã Tịnh yên quá, như vậy đọc tên nghe không chướng tai. Lỗ Tiên Hán chính là nam tử hán đội trời đạp đất.
Chấn: có thể nói nội hàm của từ "Chấn" này vô cùng phong phú nhưng cũng có một vài nội hàm của nó khiến người khác không thích thú. Ví dụ: động đất, hay như đó là sự rung động mạnh, run lên vì sợ… Tất cả những nội hàm của từ "Chấn" như thế đều không phải là việc tốt lành. Tuy nhiên, hiện nay số người lấy từ Chấn để đặt tên cho con không còn là việc hiếm thấy, vậy thì nội hàm của từ "Chấn" ở đây mang ý nghĩa gì? Có thể nói đơn giản nội hàm của chữ Chấn đấy được mọi người ủng hộ và chấp nhận. Ví dụ như: từ "rung động", từ này mang ý nghĩa là đung đưa, xao xuyến, có thể nói phàm là những chuyện làm rung động lòng người đều là những điều tốt đẹp. Có một cụm từ nói rằng: "chấn cổ thước kim" với ý nghĩa là sự nghiệp hoặc công trạng hết sức vĩ đại có thể làm chấn động đời xưa và rạng rỡ đời nay. Từ ý nghĩa như thế chữ "Chấn" dùng để đặt tên rất hay. Khi bạn muốn lấy từ "Chấn" để đặt tên cho con thì bạn nên dựa trên ý nghĩa "rung động lòng người" và "chấn cổ thước kim" để có thể tìm ra chữ tương xứng nhau. Ví dụ như: Dương Chân Cổ, ý nghĩa của nó là "cổ thước kim". Vương Chấn Thước, có nghĩa là có thể làm được việc lớn mà hiệu quả của nó là làm chấn động tới các bậc tiền bối. Lưu Chấn Tiêu mang ý nghĩa là ý chí của người đó có thể làm chấn động tới tận cao xanh.
Bạn nên lưu ý là có một vài chữ khi phối hợp với chữ "Chấn" thì mang ý nghĩa không hay. Do đó bạn hết sức tránh. Ví dụ: Chấn Sơn, Chấn Sinh, Chấn Vân, Chấn Lâm…
Tế: Sau khi mưa hoặc sau khi tuyết ngừng rơi thì trời chuyển thành nắng gọi là Tế (hương nắng). Ví dụ như: tuyết tế, sự bực bội tức giận được giải toả thì gọi là sắc tế. Lấy chữ Tế này để đặt tên thường chúng ta gặp rất ít bởi vì nó mang ý nghĩa "chuyển ngoặt" và rất khó có chữ nào để tương xứng. Nhưng trên góc độ nội hàm và phát âm của chữ Tế này bạn vẫn có thể sử dụng trong khi đặt tên, hơn nữa nếu bạn tìm được chữ phối hợp tương xứng thì cái tên đó sẽ có một sự mới mẻ nhất định. Ví dụ như: Trương Tế Nguyệt, chữ Tế Nguyệt ở đây không phải chỉ trăng tròn cũng không phải chỉ trăng khuyết mà dùng để chỉ sự thay đổi không dừng của mặt trăng.
Vương Khuyết Tế: hàm ý chỉ bầu trời sau khi tuyết ngừng rơi vô cùng thanh khiết và sáng sủa, cảnh sắc đó làm người ta cũng như mê đi vậy.
Lý Tế Nhan, mang ý nghĩa chỉ nhan sắc luôn đẹp cũng giống như bầu trời trong xanh hơn sau cơn mưa.
Còn một chặng hiện tượng nữa vẫn chờ được gọi tên – từ màn sương giăng kín núi rừng đến tia chớp xé ngang trời.
Đình, Sương mù, Lôi, Mây Văn và Lịch: khép một chặng hiện tượng tự nhiên
Đình: Đình mang ý nghĩa là mưa xối xả cùng với sét. Chữ Đình dùng trong đặt tên mang ý nghĩa chỉ tính cách cương trực, khẳng khái. Nếu tìm được chữ tương xứng với chữ Đình để đặt tên thì càng có khí phách hơn. Nếu bạn lấy chữ Đình để đặt tên cho bé thì bạn nên dựa trên các tính cách như: mưa xối xả, sét để tìm chữ phối hợp cho tương xứng. Ví dụ như: Trương Đình Hồ (ý nghĩa là chỉ trên mặt hồ quan sát mưa rơi, mưa ở đây là chỉ cảnh đẹp, diễm lệ).
Trịnh Đình Yến: chữ Yến ở đây không phải chỉ Yến ở trong tổ mà là chim Yến trong phong ba bão táp, nó không những không sợ mà còn dũng cảm đối mặt với nguy hiểm với khó khăn. Điều này tượng trưng cho tính cách kiên cường và dũng cảm.
Lý Đình Phương: mang ý nghĩa chỉ nếu có mùi hương thơm từ trong bão táp thổi lại thì mùi hương ấy được trân trọng hơn rất nhiều mùi thơm của "hương đồng gió nội".
Sương mù: Sương mù tức là khi nhiệt độ xuống thấp, hơi nước bị ngưng tụ thành những hạt nhỏ li ti bay trong không khí và là là ở mặt đất. Sương mù thường tạo cho người ta cảm giác mông lung, huyền bí và có lúc rất đẹp nữa. Người viết bài này còn nhớ ấn tượng sâu sắc nhất của mình khi đến du lịch ở nơi đây chính là sương mù trên núi Lư Sơn, từng đám sương mù ấy cứ quấn quýt với nhau giữa lưng chừng núi. Như điểm tô thêm vẻ đẹp thần tiên cho phong cảnh này, có lúc hai người một trước một sau chỉ cách nhau có vài bước chân nhưng khi sương mù ào tới thì người đằng sau không còn nhìn thấy người đằng trước nữa mà chỉ trìm ngập trong cảm giác là mình đang cưỡi mây đi mà thôi. Có lẽ vì thế mà người viết bài này rất thích sương mù và tuyết rất nhiều lần, cho nên lấy sương mù để đặt tên sẽ mang ý nghĩa mới mẻ hơn so với mưa và tuyết. Nhưng bạn cũng phải dựa trên cơ sở là môi trường tạo ra sương mù và đặc tính mông lung của sương mù để chọn chữ phối hợp cho thích hợp. Ví dụ như: Lâm Vụ Phong, Cao Vụ Giang, Giang Vụ Phàm…
Lôi: Lôi là một hiện tượng mà chúng ta hay gặp trong cuộc sống, và dùng Lôi để đặt tên cũng đã trở nên quen thuộc với người dân đặc biệt là bản thân chữ Lôi ở đây là chỉ cá tính. Chữ Lôi thường thích hợp trong việc đặt tên cho con trai bởi vì âm đọc và nội hàm của chữ này tương đối có khí phách do vậy phải tìm được chữ phối hợp tương xứng với tính cách cương trực. Ví dụ như: Cao Phong Lôi, Thẩm Lôi Hồng.
Mây Văn: Mây Văn tức là chỉ màu sắc của mây có hoa văn. Dùng chữ Văn để đặt tên thì có xuất hiện trong bộ tiểu thuyết rất nổi tiếng là Hồng Lâu Mộng với tên là Tình Văn, cái tên này vừa thể hiện sự thanh tao vừa dễ nghe. Khi dùng chữ Văn để đặt tên thì rất dễ tìm chữ phối hợp với nội hàm của sắc mây. Ví dụ như: Triệu Hồng Văn, có nghĩa là có sắc mây màu hồng. Trương Tế Văn, có nghĩa là sắc mây của bầu trời sau cơn mưa sẽ rất đẹp.
Lịch: có nghĩa là "Lịch" trong từ "Tịch Lịch" (sét) chữ Lịch tương đối phù hợp với việc đặt tên cho phái nam; Nhưng hiện nay có rất ít người sử dụng chữ này để đặt tên. Từ góc độ là chữ đồng âm với chữ "lịch" thì có nhiều người lấy những cái tên như lệ, lợi để đặt cho con gái; còn con trai là dùng chữ "lập", "lực". Khi dùng chữ "lịch" để đặt tên thì bạn cần phải suy nghĩ thêm về nội hàm của chữ này.
Trương Hải Lịch: mang ý chỉ sét ở trên biển.
Hứa Lịch Đình: Có ý nghĩa là sấm thêm sét, nghe thì tưởng là dịu dàng nhưng khi viết ra giấy thì sẽ làm cho người khác sợ hãi.
Phùng Xuân Lịch lại mang hàm ý là tiếng sét của mùa xuân. Tiếng sét và mưa xuân ở đây để được trân trọng như nhau.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
