Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Hoa sen gần bùn mà chẳng tanh mùi bùn trong tên con

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202613 phút đọc0 lượt đọc
Hoa sen gần bùn mà chẳng tanh mùi bùn trong tên con

Người xưa ca ngợi hoa sen "xuất ứ nhi bất nhiễm" — mọc từ bùn mà không nhiễm bùn, cao quý mà không kiêu. Và còn những cái tên rút ra từ gốc Sam, hàng Dương quanh nhà...


Lăng Tiêu khí thế và câu chuyện Triều Nhan

Lăng Tiêu: còn gọi "Tử Uy", "Lăng Thời", "Hoa Vũ Uy", thuộc họ Tử Uy thân dây lá rụng. Có ở vùng Hoa Bắc và lưu vực sông Trường Giang Trung Quốc. Lăng Tiêu có thể vươn cao vài trượng, thế như thác chảy, do đó được gọi là Lăng Tiêu. Hoa Lăng Tiêu như hình cái phễu màu đỏ tươi hoặc màu vỏ quýt. Cùng thuộc loại còn có Lăng Tiêu của nước Mĩ, còn gọi là "Lăng Tiêu hoa dài", hoa tương đối nhỏ màu vỏ quýt.

Tên hoa Lăng Tiêu rất có khí thế nên thích hợp dùng đặt tên cho con trai. Ví dụ: Tương Lăng Tiêu, Dương Lăng Tiêu. Tử Uy, biệt danh của Lăng Tiêu cũng có thể dùng đặt tên nhưng thích hợp cho tên nữ. Ví dụ: Lý Tử Uy, La Tử Uy, Hoa Tử Uy.

Hoa Thiên Ngưu: còn gọi "Hoa Loa Kèn", "Triều Nhan" thuộc họ "Hoa Hoàn", loại thực vật dây leo vòng đời chỉ một năm. Nguồn gốc vùng nhiệt đới châu Mĩ. Hiện nay nơi nào trên nước ta cũng có. Hoa Thiên Ngưu thân dài gần 5 m, hoa hình phễu, giống loa kèn. Màu sắc có màu hồng, đỏ hoa hồng, màu tím đỏ, màu lam và màu trắng... Chủng loại có loại hoa nhỏ là thực vật lục hoá thẳng góc truyền thống. Hoa Thiên Ngưu là loài hoa cỏ mọc nhiều nơi nhưng không tầm thường, rất được nhiều người yêu thích. Tên "Triều Nhan" của Hoa Thiên Ngưu có thể dùng làm tên. Ví dụ: Trương Triều Nha, Phong Triều Nhan, Đồng Triều Nhan.

Hoa sen: gần bùn mà chẳng tanh mùi bùn

Hoa sen: còn có tên là "Liên hoa", "Thuỷ Phù Dung", "Phù Cừ" thuộc họ hoa sáng, là loại cây cỏ Thuỷ Sinh sống lâu năm. Nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, là một trong mười loại hoa nổi tiếng Trung Quốc. Hoa Sen là hoa thành của các thành phố Tế Nam tỉnh Sơn Đông, Hứa Xương Hà Nam. Căn cứ vào sự phân chia hình dạng của hoa có thể chia thành loại cánh đơn, cánh kép. Trùng cánh và trùng đài... Còn có loại hai hoa cùng nở trên một cành như "Sen tịnh đế", "Sen tứ diện" từng cặp đối diện nhau trên một cành và "Sen Tứ Quý" một năm nở hoa nhiều lần... Màu sắc chủ yếu là màu trắng và màu hồng phấn. Dựa vào công năng còn chia ra làm "Ngẫu Liên", "Tử Liên", "Hoa Liên".

Hoa Sen có địa vị rất cao trong lòng của mọi người. Người xưa từng ca ngợi họ Sen trong "Ái Liên Thuyết":

Xuất ứ nhi bất nhiễm, thanh liên nhi bất yêu, hương viễn ích thanh, đình đình tịnh trực, khả viễn quan bất khả khinh yên.

Để ca ngợi phẩm chất cao đẹp thanh khiết của hoa Sen. Do lòng yêu mến của mọi người với hoa Sen nên từ đời Tống nước ta một số vùng nước ta có Tết ngắm hoa Sen "Quan Liên Tiết". Ngày 22 tháng 6 mùa hè hàng năm là "ngày sinh nhật hoa sen", vào ngày này mọi người thích lên thuyền chèo ra hồ sen thưởng hoa. Theo ghi chép "Thanh gia lục - Hà Hoa Đãng" đời Thanh, "ngày sinh nhật hoa sen, theo lệ cũ đua thuyền đánh trống, thi hái hoa sen, ngắm hoa sen thư giãn". Đời nhà Minh, Thanh còn có phong tục uống rượu hoa sen, Từ Hi Thái Hậu đời Thanh còn dùng hoa sen trắng chế thành rượu gọi là "ngọc dạ quỳnh tương" dùng như một thứ đồ quý để ban tặng các đại thần.

Đặc tính của hoa sen ai cũng kính phục, không những hoa đẹp hương thơm còn không bị cuốn theo dòng nước, có phẩm chất cao quý gần bùn mà chẳng tanh mùi bùn, đây là nội hàm theo đuổi khi đặt tên cho con cái của chúng ta. Hiện nay người dùng "liên" và "hà" làm tên đã rất nhiều, nhưng ngoài "Ngọc Liên", "Tú Liên" cách dùng chữ vẫn chưa tập trung, không quá nhiều tên quen thuộc như Cúc, Lan. Nếu muốn dùng "Liên" hoặc "Hà" làm tên cần phải chọn những chữ độc nếu không rất dễ trùng tên. Dùng hoa sen đặt tên, thông thường dùng chữ "Liên" hoặc chữ "Hà", sau đó một chữ để ghép. Ví dụ: dùng chữ "Hà" đặt tên: Khổng Nguyệt Hà, Giang Lộ Hà, Thư Vũ Hà, lấy chữ "Liên" làm tên: Lê Ảnh Liên, Trương Bích Liên, Diễn Liên Khúc.

Tô Thiết, Tông Lư và những cây quan diệp bốn mùa xanh tốt

Tô Thiết: còn gọi "cây báng súng", "phụng vĩ tiêu" thuộc họ cây Tô Thiết, rậm rạp xanh quanh năm, thân gỗ. Có khắp nơi trong nước ta. Cây Tô Thiết có thể cao từ 6 – 8 mét, có hình bầu dục, ngửa rủ xuống. Có hoa đực và hoa cái, hoa đực hình tròn trong rỗng. Hoa cái hình bán cầu. Tuổi thọ của cây Tô Thiết rất dài, có thể sống trên 200 năm. Tô Thiết thích hợp dùng làm tên cho con trai, mang hàm ý tự có kiên cường. Ví dụ: họ Tô có thể đặt tên là Tô Thiết, không phải họ Tô cũng có thể dùng Tô làm tên đệm: Lôi Tô Thiết, Lâm Tô Thiết.

Tông Lư (cây cọ) quanh năm là đặc sản của nước ta, phân bố tại một vùng lưu vực trung hạ lưu sông Trường Giang, cao khoảng 7 mét, thân cây thẳng, lá hình quạt, ra hoa màu vàng nhạt, có hoa đực và hoa cái. Tông Lư là tên của thực vật ít người dùng nhất. Thực tế Tông và Lư đều có thể đặt tên cho con trai. Ví dụ: Trương Tông Lâm, Thi Lư Minh, Đổng Lư Các.

Bồ Quỳ: còn gọi là "phiến diệp quỳnh", "quỳ thụ", "trúc quỳ" thuộc họ cọ thân gỗ quanh năm xanh tốt. Bồ Quỳ sinh trưởng tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam. Quảng Đông còn được coi là quê hương của Bồ Quỳ. Bồ Quỳ có thể cao hơn 20 mét, ngọn cây hình cái ô, lá có thể dài tới 1 mét, là cây quan diệp loại lớn. Bồ Quỳ cũng thích hợp làm tên cho con trai. Ví dụ: Trương Bồ Quỳ, Triệu Bồ Quỳ, Lưu Bồ Quỳ. "Bồ Trúc" một tên khác của Bồ Quỳ cũng là một tên con trai hay. Ví dụ: Tống Bồ Trúc, Lý Bồ Trúc.

Văn Trúc: còn gọi là "Phiến Vân Trúc", "Sơn Thảo", thuộc họ bách hợp, là thực vật thân mềm sống lâu năm. Nguồn gốc tại Nam Phi, hiện nay các vùng nước ta đều trồng. Văn Trúc cao có thể đạt tới 4 mét, lá hình áng mây, văn thanh điển nhã. Dùng Văn Trúc làm tên tương đối cao nhã, nhưng so với tên khác của Văn Trúc là Vân Trúc thì còn kém một chút, khi đặt tên nên dùng Vân Trúc. Ví dụ: Trương Vân Trúc, Lý Vân Trúc, Lưu Vân Trúc.

Vũ Trúc: còn gọi là "Duyệt cảnh sơn thảo", thuộc họ nhà Bách Hợp, cây leo chỉ xanh nửa năm tuổi thọ cao. Nguồn gốc miền Nam châu Phi, hiện nay mọi miền nước ta đều trồng. Vũ Trúc là loại rễ củ, lá xanh biếc rủ xuống, hoa màu trắng kèm theo đốm hồng, kết quả hình cầu màu hồng. Hai chữ "Vũ Trúc" có khí dương cương, là một tên hay cho con trai. Ví dụ: Trương Vũ Trúc, Đặng Vũ Trúc, Tần Vũ Trúc.

Sơn Ánh Quyền, hoa Đàm nở một lần

Sơn Ánh Quyền: còn gọi "Tiên Nhân Sơn" thuộc loài Tiên Nhân Chưởng là loại thực vật nhiều nước. Nguồn gốc nước Braxin, hiện luôn có trên mọi miền nước ta, thịt mềm béo có gai, cành rậm rạp dài ngắn không đều, có hình đá núi, nhấp nhô thành tầng. Trong tên các loại hoa, Tiên Nhân Chưởng rất ít dùng đặt tên người. Nhưng tác giả cảm thấy trong loài Tiên Nhân Chưởng, Sơn Ánh Quyền có thể dùng làm tên, đặc biệt có thể làm tên cho con trai. Bởi vì hai chữ "ánh quyền" khá hay, dùng làm tên có thể nói là độc đáo khác người. Ví dụ: Lý Ánh Quyền, Trương Ánh Quyền, Lâm Ánh Quyền.

Hoa Đàm: thuộc họ Tiên Nhân Chưởng, thực vật thân mềm sống lâu năm. Nguồn gốc từ châu Mỹ và Ấn Độ, hiện nay các nơi trên nước ta đều có. Đài hoa của hoa Đàm có hình ống, màu hồng. Hoa trắng như ngọc, nhiều cánh và có mùi thơm. Hoa nở vào ban đêm, có tên là "Nguyệt Hạ Chi Nhân". Quá trình nở hoa Đàm rất ngắn ngủi, khó thấy một lần. Lúc mới đầu đài hoa màu hồng quấn chặt nụ hoa rủ xuống, sau đó nụ hoa ngửa lên, đầu ngọn lúc đầu lộ ra màu trắng, tiếp theo nụ dần phình to, cánh hoa xoè ra lộ ra nhuỵ hoa, nhuỵ cao nhất màu trắng là nhuỵ cái, nhuỵ cao thấp không đều màu vàng nhạt là nhuỵ đực, hoa nở đồng thời toả ra mùi thơm dễ chịu. Cuối cùng cánh hoa mở rộng như miệng bát, lúc đó là cánh hoa Đàm nở khó thấy. Sau khi hoa nở khoảng bốn tiếng đồng hồ cũng chính là lúc hoa tàn, cho nên mới có thể có câu nói "Đàm hoa chỉ nở một lần".

Trong họ Bách Hợp, Đàm hoa là loại hoa rất có cá tính, rất khó thấy nó nở, cũng vì thế nên Đàm hoa làm tên không nhiều. Tác giả cho rằng, đặc tính của Đàm hoa không giống các loài khác, những lúc là loài hoa nhận được nhiều yêu mến của mọi người dùng Đàm hoa để đặt tên rất đặc sắc. Ví dụ: Diệp Thịnh Đàm, Bạch Ngọc Đàm.

Như trên đã nói, hoa có muôn vàn màu sắc, dùng hoa làm tên cũng có cái đặc sắc riêng. Ở đây tác giả đã tiến hành giới thiệu sơ lược một số hoa cỏ, tiến hành nghiên cứu thảo luận sơ bộ đối với việc lấy hoa đặt tên, đây chỉ là tác giả đưa ra một số ý kiến về việc dùng tên hoa đặt tên cho con cái. Thời đại trăm hoa đua nở như ngày nay, quan điểm của tác giả có thể coi là một cành hoa trong muôn hoa.

Ngoài trăm hoa còn có cây cối quanh nhà, từ gốc Sam vươn thẳng tới hàng Dương ven đường.

Đặt tên con theo các loại cây

Trên đây đã giới thiệu về việc lấy hoa làm tên, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu thảo luận một chút về vấn đề dùng cây cỏ làm tên. Trong cuộc sống có không ít người dùng cây cỏ đặt tên, ví dụ diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Trung Quốc Bạch Dương, tên của cô ta là một cây Bạch Dương, Minh Thuyên diễn viên nổi tiếng Hồng Kông, Chử Thuyên là một loại cỏ thơm trong truyền thuyết, rất nhiều người thích dùng cây cỏ làm tên, lý do vì lấy cây cỏ làm tên có thể giao phó linh khí của tự nhiên vào tên, có một vẻ đẹp tự nhiên. Nhưng xem xét hiện trạng ngày nay, tên cây cỏ trong tài liệu hộ khẩu địa khu Bắc Kinh quá tập trung vào loại cỏ cây thường thấy như: Tùng, Dương, Bách, Chi, Thụ, Lâm… Cách sử dụng chữ hẹp tạo thành nhiều tên trùng nhau, còn khiến những tên này trở thành những tên bình thường. Thực tế, trên đất đai Trung Quốc có rất nhiều loại cây cỏ, nếu dùng để đặt tên thì về mặt dùng chữ rất rộng, chỉ có điều còn chưa được mọi người quen thuộc. Tác giả cho rằng, nếu mở rộng cây cỏ dùng để đặt tên, thì phải hiểu nhiều hơn nữa về cây cỏ. Dưới đây chúng ta nghiên cứu và thảo luận một chút về vấn đề dùng tên cây cỏ để đặt tên như thế nào.

Đặt tên theo các loại cây. Dùng cây làm tên thực tế là tìm tên giữa các loại cây cối. Tác giả đã thu thập một số tên cây có thể dùng đặt tên: Đỗ, Sam, Dương, Tùng, Phong, Lư, Bách, Ninh, Khảo, Quang, Liễu, Khởi, Đồng, Hoa, An, Nam… Những tên cây này đều có thể đặt trong tên người, trước nhất là âm đọc tương đối dễ nghe, tiếp là những tên này đều là tên được lưu trong bộ nhớ từ của máy vi tính. Có tên của một số loại cây tuy hay nhưng nét bút tương đối nhiều hoặc không tìm thấy trong bộ nhớ của máy vi tính, đều không thích hợp làm tên, tác giả đều không chọn lựa.

Đỗ: Đỗ không chỉ là Đỗ trong tên hoa Đỗ Quyên, còn là Đỗ mang cây đỗ. Cây đỗ cũng có tên là cây Đường Lê, là một loại cây kết quả. Bản thân chữ đỗ cũng là một họ, điều khiến chữ đỗ có ba ý nghĩa "Đỗ Quyên", "Cây Đỗ", "Họ Đỗ". Nếu bạn muốn dùng chữ Đỗ này để đặt tên cho con, con gái nên dùng ý nghĩa Đỗ Quyên, con trai chọn ý nghĩa cây đỗ, chọn chữ kết hợp chú ý phân biệt hai ý, nghĩa của chữ này là được. Ví dụ: con gái dùng chữ Đỗ: Trịnh Đỗ Hương, La Đỗ Hồng. Con trai dùng chữ đỗ: Quách Đỗ Lâm, Trương Đỗ Mộc.

Sam: Cây Sam thuộc loại cây thân gỗ quanh năm xanh tốt, cây cao nhất trong các loại cây lá hình kim, chất gỗ màu trắng, xốp có mùi thơm. Cây Sam có nhiều chủng loại, cây "Nam Dương Sam" là loại cây thường gặp nhất. Nam Dương Sam gốc Châu Âu, hiện nay các vùng Quảng Châu, Hải Nam, Hạ Môn, Thượng Hải, Bắc Kinh… đều có trồng. Nam Dương Sam cao tới 60 mét, khi cây còn non hình dạng cây giống hình tháp nhọn, khi già có dạng đỉnh bằng. Cây không phân cành, hình dáng vĩ tú lệ, là cây gỗ nổi tiếng thường được trồng làm kỷ niệm. Sam gần âm với Sơn, cho nên dùng tên Sơn nhiều hơn so với Sam, vì thế tỉ lệ trùng tên khi dùng tên Sam thấp hơn dùng tên Sơn, mà khi phát âm đạt được hiệu quả gần giống với tên Sơn. Ví dụ: Triệu Vân Sam, Lý Dương Sam.

Dương: Dương thuộc cây thân gỗ lá rụng, chủng loại nhiều, có Ngân Bạch Dương, Mao Bạch Dương, Tiểu Diệp Dương… Dùng chữ Dương đặt tên tốt nhất là đặt tên 3 chữ bởi vì hiện nay đã quá nhiều loại tên như Dương Dương, đặt tên điệp tự như Dương Dương cho dù không trùng tên, nhưng trùng âm cũng không hay lắm. Trong tên ba chữ tốt nhất đặt chữ Dương cuối cùng, như thế khi gọi tương đối kêu. Ví dụ: Trương Vũ Dương, Quách Dương, Chu Ngân Dương.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế