Bài tổng quan
Kiệt Thạch Sơn, Ngũ Đài Sơn và dấu chân tiên núi Hằng
Một tấm bia đá được Tần Thuỷ Hoàng đích thân khắc chữ, một ngọn núi Phật giáo nơi Văn Thù Bồ Tát ngự trị suốt hai nghìn năm, một dấu chân lạc đà in trên đá nơi vị tiên Trương Quả Lão bay về trời – núi non trong kho tên này vẫn còn nhiều câu chuyện chưa kể hết. Từ Kiệt Thạch Sơn ven biển đến Núi Hằng phía Bắc xa xôi, mỗi ngọn núi đều gửi một phần huyền thoại vào tên gọi…
Mục lục · 5 phần
- 01Bàn Sơn: nơi Lý Tịnh phơi áo giáp và vua Càn Long đề thơ
- 02Kiệt Thạch Sơn: nơi Tần Thuỷ Hoàng khắc đá, Hán Vũ Đế tìm thuỷ thần
- 03Ngũ Đài Sơn: một trong bốn núi Phật giáo lớn nhất, nơi ngự của Văn Thù Bồ Tát
- 04Thái Nhạc Sơn và Vũ Chu: đền thờ Hoắc Sơn và những tượng đá khắc trong hang
- 05Núi Hằng: Bắc Nhạc linh thiêng và dấu chân tiên Trương Quả Lão
Bàn Sơn: nơi Lý Tịnh phơi áo giáp và vua Càn Long đề thơ
Bàn Sơn: Nằm ở phía tây Bắc huyện Kế thuộc thành phố Thiên Tân, nổi tiếng có núi Điền Bàn, núi Từ Chính. Có năm đỉnh núi là Quải Nguyệt, Tử Cái, Tự Lai, Cửu Hoa, Vũ Kiến cao hơn so với mực nước biển là 861 m. Các danh thắng của Bàn Sơn gồm có "Thái Tông Lượng Giáp Thạch", "Hiệu Đường Tự" "Thiên Tăng Tây Bát Hồ" "Li Tịnh Vũ Kiếm Đại".
Trên Bàn Sơn còn không ít những dấu tích từ đời Đường để lại như: "Thái Tông Lượng Giáp Thạch" tương truyền Đường Thái Tông đã phơi giáp tại đây. Vào triều nhà Thanh chuyển tới gần cung tịnh Kì Sơn Trang. Vua Càn Long đã từng đề lên "quan dị tông". Theo cuốn "Khâm Bàn Sơn Chí Đô Khảo" đời nhà Thanh truyền lại "năm đỉnh Bàn Sơn trước kia được gọi là năm đài phía Tây của nó là nơi Đường Lí Tịnh vẽ kiếm, vệ công đã cho đó là chiến lược vĩ đại về anh hùng hào kiệt. Thiên hạ phó tá nhà Đường và đặt chân lên đất này".
Khi dùng Bàn Sơn để đặt tên có thể dùng trực tiếp hai từ "Bàn Sơn". Ví dụ: Đường Bàn Sơn. Nếu như không thích hai từ Bàn Sơn, có thể dùng tên bốn đỉnh của Bàn Sơn để đặt. Ví dụ: đỉnh Quải Nguyệt có Trương Quải Nguyệt.
Kiệt Thạch Sơn: nơi Tần Thuỷ Hoàng khắc đá, Hán Vũ Đế tìm thuỷ thần
Kiệt Thạch Sơn: Nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hà Bắc. Có năm đỉnh bao quanh và đỉnh chính là đỉnh Tiên Đài, cao hơn so với mực nước biển là 659 m vách ở phía Tây có khắc hai chữ "Kiệt Thạch" có 10 thắng cảnh như: "Kiệt Thạch Quan Hải" "Thiên Trụ Lăng Vân" "Thạch Động Thu Phong"… Các danh thắng của Kiệt Thạch Sơn gồm có: "Thiên Trụ Đài", "Hán Vũ Đài"…
Những thắng cảnh chủ yếu của Kiệt Thạch Sơn là các thắng cảnh từ thời nhà Tần, nhà Hán và Tam quốc. Ví dụ: "Tần Hoàng Khắc Thạch", theo Sử Ký, "Tần Thuỷ Hoàng Bản Kỷ" lưu lại 32 năm tức là năm 215 trước Công Nguyên. Tấm bia đá của Tần Thuỷ Hoàng đã làm cho người dân nước Yên. Khắc lên bia đá, tương truyền sau khi Tần thuỷ Hoàng thống nhất đất nước đã lấy Hàm Dương làm trung tâm xây dựng các tuyến đường thông đi các nơi trong cả nước trong đó có một con đường đi về hướng tây Hàm Dương đến Tam Xuyên phân ra một con đường khác, phía Bắc thì đến Quảng Dương (nay là Bắc Kinh), phía Tây thì đến Kiệt Thành. Truyền thuyết nói rằng Tần Thuỷ Hoàng đã từng gặp thuỷ thần ở Kiệt Thạch.
Theo ghi chép từ cuốn "Hán Thư Vũ Đế Kí" thì Hán Vũ Đế đã từng tìm Kiệt Thạch ở hướng Đông, xuất hành từ núi Tần quay về hướng Đông tuần tra trên biển và đến Kiệt Thạch, đỉnh chính của Kiệt Thạch Sơn là đỉnh Tiên Đài, còn gọi là Hán Vũ Đài. Từ xưa đã được coi là quan hải thắng địa (địa danh nổi tiếng).
Kiệt Thạch Sơn là nơi mang đậm văn hoá lịch sử, lấy Kiệt Thạch Sơn và các danh thắng của nó để đặt tên cũng rất có ý nghĩa. Ví dụ: Kiệt Thạch Sơn có Vương Kiệt Thạch, Thiên Trụ Đài có Thạch Thiên Trụ.
Ngũ Đài Sơn: một trong bốn núi Phật giáo lớn nhất, nơi ngự của Văn Thù Bồ Tát
Ngũ Đài Sơn: Nằm ở phía Đông Bắc huyện Vũ Đài tỉnh Sơn Tây, do 5 đỉnh núi chính: Như Vọng Hải, Quải Nguyệt, Cẩn Tú, Diệp Đấu, Thuý Nham bao quanh tạo thành: Đỉnh của 5 ngọn núi này đều bằng phẳng như một cái bệ, trước kia còn gọi là Ngũ Đài. Đỉnh cao nhất của Ngũ đài sơn là đỉnh Diệp Đấu, cao hơn so với mực nước biển là 8058 m trên núi quanh năm thoáng mát còn gọi là Thanh Lương Sơn.
Các danh thắng của Ngũ Đài Sơn gồm có: "Kim Cương Quật" "Pháp Vân Châu Phát" "Hiển Thông Tự" "Pháp Xá Lợi" "Thanh Lương Thạch" "Thọ Ninh Tự" "Bí Mật Nham" "Long Động" "Bà Tự" "Long Cung Thánh Đội" "Hàm Sơn" "Sinh Hàm Ngục" "Tôn Thắng Tự" "Ngọn Tháp Đặng Ấn" "Trúc Lâm Tự" "Đối Đàm Thạch" "Bồ Tát Đình" "Sư Tử Oa".
Ngũ Đài Sơn là một trong 4 núi lớn nổi tiếng của Phật Giáo ở Trung Quốc từ thời Đông Hán đã xây dựng được các chùa Phật. Kinh phật ghi lại rằng núi Thanh Lương có cách nói khác là: Văn Châu Bồ Tát tên "Văn Châu Bồ Tát" còn gọi là "Văn Châu Sư Lợi" hay là "Man Châu Thất Lợi" ý nghĩa được giải thích là "Diệu Cát Tường" "Diệu Đức" gọi tắt là Văn Châu hoặc Man Châu là 1 trong 4 vị bồ tát của phật giáo từ chuyên ngành có nghĩa là "Trí tuệ".
Danh thắng của Ngũ Đài Sơn rất nhiều: Dùng Ngũ Đài Sơn và tên các danh thắng của nó để đặt tên cũng bao hàm nhiều ý nghĩa mà tự nó không diễn tả hết được. Ví dụ: Tháp Văn Châu Phát có: Tưởng Văn Châu, Hiển Thông Tự thì có: Lí Thiên Thông, Ham Sơn thì có Chu Ham Sơn.
Thái Nhạc Sơn và Vũ Chu: đền thờ Hoắc Sơn và những tượng đá khắc trong hang
Thái Nhạc Sơn: Thái Nhạc Sơn còn gọi là Hoắc Sơn. Hoắc Thái Sơn nằm ở Trung Nam của tỉnh Sơn Tây ở ngạch phía Đông của Sông Phai. Đỉnh cao gồm có đỉnh Ngưu Giác An, Miên Sơn, đỉnh Lão Gia. Khu rừng rậm ở khu vực núi này là một trong những khu rừng chủ yếu của tỉnh Sơn Tây.
Các danh thắng chủ yếu của Thái Nhạc Sơn gồm: "Oa Hoàng Lăng, Miếu Trung Châu, Mộ Phi Kiếm, Miên Thượng Kị Biển, Quan Phụ Phong, Hàn Tín Linh"… Ở phía Tây núi Thái Nhạc, cách 4 km từ huyện Hồng Động tới thành phố về phía Đông có một ngọn núi có liên quan đến sự tích về Nữ Oa gọi là Oa Hoàng. Theo cuốn sổ tay Thông chí ghi lại: Trên núi Oa Hoàng Lĩnh xưa kia cách 8 m về phía Đông Huyện Triệu Thành có hai phần mộ cao hai trượng, rộng 48 trượng có nhiều cây cối tươi tốt (cây tùng, cây bách).
Thời cổ đại đã phân đất nước thành 9 châu, phần biển có "Châu Sơn" núi Thái Nhạc là phần Châu Sơn của núi này. Về sau đã lấy "Ngật Lập Hoắc Châu - Núi" hoặc "Châu cao chót vót" để làm trung tâm của thị trấn và gọi là "Trung Trấn".
Theo như Văn Đế 14 năm làm vua đã lập ra đền Hoắc Sơn ở trung tâm trị trấn. Mười vị quan ở thời Thiên Bảo (Đường Huyện Tông), được tế thờ ở đây, phong toả núi Hoắc thành "Ưng Thánh Công" Tống Huy Tông đã quy hoạch thêm tạo nên "Ưng Linh Vương". Vào các triều vua Nguyên-Minh-Thanh đã nhiều lần được mang về đây tế thờ.
Xét từ những ghi chép sử sách thấy rằng Thái Nhạc Sơn rất có danh khí rất phù hợp để đặt tên cho con người, tên núi. Ví dụ: Khâu Thái Nhạc, Trương Hoắc Sơn, Lưu Trung Châu, núi Vũ Chu.
Vũ Chu nằm ở phía Tây thành phố Đại Đồng thuộc Sơn Tây là một địa điểm nổi tiếng mây lần, đá lỗ. Tương truyền thời Văn Thành Đế ở phía Bắc nước Nguỵ thường mở sông mở đường ở trên núi Vũ Chu, điêu khắc tượng phật hình thành những cảnh đá lỗ, mây lần nơi tiếng này. Cảnh này men theo dãy núi kéo dài tới hàng cây số. Trong ba tảng đá lỗ ở Trung Quốc đá thường được lấy để điêu khắc các bức tượng đá hùng vĩ có nội dung phong phú. Hiện nay tồn tại chủ yếu hơn 50 động lỗ và tượng đắp nặng 5,1 vạn tấn.
Lấy núi Vũ Chu để đặt tên rất đơn giản những người họ Vũ có thể lấy tên Vũ Chu Sơn và những người họ đệm khác có thể lấy trực tiếp là Vũ Chu. Ví dụ: Trương Vũ Chu.
Núi Hằng: Bắc Nhạc linh thiêng và dấu chân tiên Trương Quả Lão
Núi Hằng: Hằng Sơn nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Sơn Đông là một trong năm ngọn núi lớn ở phía Bắc nổi tiếng của Trung Quốc. Cũng được gọi là núi Thường, núi Thường, núi Nguyên, núi Hằng chạy dài từ Đông Bắc sang Tây Nam kéo dài hàng trăm km. Độ cao ngọn Thích Phong Lĩnh so với mực nước biển là 2017 m và đứng sóng đôi với dòng thác nước Thuý Bình. Trên núi có nhiều cây cao chọc trời nhiều hòn đá kì lạ, là một vũ trụ tản bộ tuyệt vời là thánh địa của đạo giáo trong lịch sử Trung Quốc. Tên hiệu ngọn núi ở phía Đông Bắc tương truyền là do Vũ Đế đặt ra. Các danh thắng của núi Hằng gồm có: Triêu Điện, Đá Lỗ, Quả Lão Lĩnh, Thông Nguyên Cốc, Tử Chi Cốc, Bệ Đàn…
Nói về truyền thuyết núi Hằng cũng mang một chút sắc thái thần thoại. Truyền thuyết xưa nói rằng Trương Quả Lão, một trong tám vị tiên đã thành tiên tại núi Hằng. Trong thời kì mở đầu Triều đại nhà Đường, Huyền Tông đã cho mời Trương Quả Lão đến thành Bắc Kinh và tôn làm Thông Nguyên tiên sinh. Ở cửa Bắc Hồ Phong của núi Hằng ngày nay có "ngọn núi Quả Lão" truyền thuyết đó là nơi Trương Quả Lão đã cưỡi lạc đà lên trời. Trên đỉnh có một tảng đá lớn màu xanh còn lưu lại hang đá của tự nhiên. Truyền thuyết cho rằng khi Trương Quả Lão bị ngã lạc đà thì dấu chân của nó còn lại nơi đây dưới khe núi Tịch Dương ở phía Đông của ngọn Quả Lão này có một khe núi Thông Nguyên, truyền thuyết xưa nói rằng đó là nơi mà Trương quả Lão ẩn cư tu đạo. Tục về danh hiệu Thông Nguyên tiên sinh được đặt ra từ đó.
Mặt phía Đông ngọn Vọng Tiên trên núi Hằng có "Tử chi cỏ" độ lấy. Truyền thuyết về các vị tiên ngày xưa đã đến đây lấy thần dược "cỏ linh nghiệm" để đặt tên. Minh Thế Tông đã lấy loại cỏ này trên núi Hằng. Và các Quan địa phương đã sai quân đi tìm loại cỏ này ở trong khe núi, quả nhiên đã tìm thấy 12 cây cỏ linh nghiệm và đã dâng cho Thế Tông.
Không còn điều gì hoài nghi các giá trị về văn hoá ở núi Hằng rất phong phú. Dùng tên núi Hằng và các danh thắng ở núi Hằng để đặt tên thì trong cái tên ấy bao hàm một nội dung rất phong phú về thiên nhiên. Ví dụ: Hứa Hằng Sơn, Tham Tử Chi, Trương Thông Nguyên.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
