Bài tổng quan
Khí phách cây Tùng và những gốc cây ít người đặt tên
Một bài thơ đời Minh ví cây Tùng như kẻ bán sĩ không vật quý, chẳng thể nở hoa tú lệ — nhưng khi cuồng phong nổi lên, chỉ còn Thanh Tùng đứng thẳng giữa muôn hoa tàn lụi. Từ khí phách ấy, kho tên mở rộng sang Phong, Lư, Dữu, Bách, Liễu và nhiều gốc cây còn ít người để ý...
Chữ và Tùng: từ giấy gió đến khí phách "thanh tùng" trong thơ cổ
Chữ: còn gọi là cây gió, thuộc cây thân gỗ lá rụng, lá hình trứng, trên lá và trên thân có gai cứng, nở hoa màu xanh nhạt. Vỏ cây là nguyên liệu làm giấy gió. Có câu "Trân Tàng Chử Mực" ví von tác dụng lưu giữ thơ văn và thơ hoa của giấy gió. Từ đó thấy chữ Chử có hàm ý văn hoá, dùng chữ Chử làm tên nếu ghép chữ hợp lý tương xứng có thể làm nổi lên cái tên cao nhã. Ví dụ: Lý Chử Văn, Lâm Chử Thi, Trương Chử Hoa.
Tùng (Lãnh Sam): Cây Tùng còn có tên Lãnh Sam, thuộc cây thân gỗ quanh năm xanh tốt thân cao to, vỏ màu xám, còn nhỏ có màu nâu đỏ, lá dài, kết quả hình bầu dục màu tím. Nếu dùng cây Tùng đặt tên, về mặt phát âm tương đối kỳ lạ bởi vì tỉ lệ sử dụng tên Tùng rất ít, đặc biệt do sử dụng đồng âm với Tùng là Tòng tương đối nhiều. Ví dụ: Thẩm Tòng Văn. Đặt tên Tùng khả năng trùng tên rất ít. Ví dụ: Trương Tùng Hiến, Vương Tùng Bộc, Lý Tùng Điền.
Tùng: cây tùng thường là cây thân gỗ, lá hình kim, thường thấy các loại Tùng Mã Vĩ, Tùng Dầu. Cây Tùng có tỉ lệ sử dụng tên cao nhất. Điều này không thể tách rời các đặc tính quanh năm xanh tốt, kháng hàn, trường thọ của cây Tùng. Nhưng đây cũng chính là cái tên có tỉ lệ trùng cao nhất, hiện nay vẫn có rất nhiều người tiếp tục dùng tên Tùng đặt tên cho con. Chúng ta có thể thông qua sự miêu tả cây Tùng trong thơ ca của người xưa để tìm hiểu nội hàm văn hoá của cây Tùng.
Trang Tử từng bàn về cây Tùng: "Thiên Hàn Kí Chí, Sương Tuyết Kí Giáng, Ngô Thị Tri Tùng Bách Chi Mậu". Khi Tần Thuỷ Hoàng lên Thái Sơn, vì gặp phải mưa bão được sự che chắn của cây Tùng liền phong cây Tùng là đại phu. Theo chép của "Mộng Thư": "Tùng vi nhân quân, Mộng kiến tùng già, kiến nhân quân giả". Thi nhân Nam Triều nhận xét cây Tùng trong (Cao Tùng phú): "Khí điều trinh vu hàn mộ, bất thụ lệnh vu sương uy". Bối Quỳnh thi nhân triều Minh đã làm bài thơ (Độc Tùng) rất đặc sắc:
Thanh tùng loại bản sỉ, lạc lạc dung sương bì. Dĩ tu tam xuân diễm, hạnh tồn thiên tuế tư. Lâu nghi huyết kỳ cần, ô thước sào kỳ chi. Thời mộng quá khách thượng, đãn cảm ngu phu xuy. Hỏi tiêu chẩn không chí, bách huy lạc vô đí. Thương nhiên thượng tham thiên, nhưng kiến thanh tùng kỳ. Tuấn phi ách băng tuyết, trinh uy an khả trí?
Bài thơ này ví cây tùng như một anh bán sĩ, thân không vật quý, không thể nở những bông hoa tú lệ đẹp đẽ. Nó cảm thấy xấu hổ trước bông hoa đẹp đẽ khác, nhưng cuồng phong nổi lên, những bông hoa ba mùa tươi đẹp kia đều tàn lụi, chỉ còn Thanh Tùng vẫn sừng sững đứng thẳng, xanh tươi thể hiện rõ sức sống mãnh liệt. Bài thơ ca ngợi Thanh Tùng có sự tự tin, sự hãnh diện, sự kiêu ngạo của một bản sĩ. Việc này mở rộng dòng suy nghĩ đối với việc lấy Tùng làm tên. Ví dụ: Trương Ngột Tùng, Hồ Hạo Tùng, Dương Cao Tùng.
Phong, Lư, Dữu và Chỉ: những gốc cây ít người để ý
Phong: Cây Phong là cây thân gỗ, lá rụng, lá mọc cách mỗi đốt một lá, mùa thu lá biến màu đỏ, nở hoa màu vàng. Trong họ tên tuy dùng nhiều như phong (gió) nhưng không ít người thích dùng phong (cây) làm tên. Ví dụ: Đỗ Tục Phong, Lâm Kiều Phong, Hứa Thương Phong.
Lư: Cây Hoàng Lư là loại cây rậm rạp rụng lá màu đông, lá hình bầu dục, mùa thu lá chuyển thành màu đỏ, gỗ màu vàng, cho nên gọi là Hoàng Lư. Màu sắc ở mỗi thời đại khác nhau có địa vị khác nhau, ở thời kỳ phong kiến màu vàng là màu chuyên dùng của hoàng đế và có địa vị rất cao, người dân bình thường không được mặc y phục màu vàng. Màu vàng được làm từ Hoàng Lư cho nên Hoàng Lư từng có địa vị trong các loại cây cối. Lấy tên Hoàng Lư, đặt Lư cuối cùng không hay lắm, nên đặt ở giữa tên và họ. Ví dụ: Chu Lư Miên, Hoàng Lư Thanh, Khương Lư Vinh.
Dữu: Cây Bưởi có nguồn gốc từ Ấn Độ, thân gỗ lá hình bầu dục, ra hoa hình dùi tròn màu trắng hoặc màu lam, chất gỗ cứng chịu ăn mòn. Gỗ Bưởi rắn chắc, chịu được ăn mòn, ngư dân dùng gỗ làm thuyền có khả năng chịu sóng gió tốt. Đây chính là đặc tính vốn có của gỗ bưởi, đặt tên là Dữu tức là muốn lấy hàm ý như vậy. Hiện nay có một số người viết tắt chữ Lâu thành Dữu nên xuất hiện một số người đọc Dữu thành Lâu. Đây là điều khi đặt tên cần chú ý. Dùng Dữu đặt tên điều cần chú ý là khi đọc lên phải thuận miệng. Ví dụ: Vương Hồng Dữu, Trương Phong Dữu.
Chỉ: Cây Quất là loại cây thân gỗ nhỏ, lá rụng, xanh tươi, thân gai, lá hình bầu dục, ra hoa màu trắng. Chỉ (quất) là loại cây thường gặp, rất ít người lấy chỉ làm tên. "Tiên vi nhân trí" là nội ý của cây này, có thể lấy chữ Chỉ đặt tên cho con. Tên Chỉ không chỉ thích hợp dùng cho con trai còn thích hợp dùng cho con gái. Ví dụ tên con trai: Lưu Chỉ Lâm, Vương Chỉ Tiết. Con gái: Chu Chỉ Tịnh, Lưu Chỉ Nhược, Trương Chỉ Kiều.
Bách: Cây Bách chia thành Viên Bách, Trắc Bách, Bạc Địa Bách. Viên Bách là loại cây thân gỗ, quanh năm xanh tươi, nguồn gốc ở nước ta, phân bố rộng. Cao tới 20 mét, ngọn cây hình tháp, lá hình kim. Còn có loại như Kim Diệp Bách, Bách Tháp, Bách rủ cành. Viên Bách chịu lạnh, chịu khô tốt. Trắc Bách còn gọi là cây Biển Bách, Thiên Đầu Bách, là loại rậm rạp xanh tốt quanh năm. Nguồn gốc tại nước ta, cao trên dưới 3 mét. Bạc Địa Bách còn gọi là Địa Bách, nguồn gốc Nhật Bản, hiện nay vùng Hoa Bắc nước ta trồng rất nhiều, nằm rạp trên mặt đất, cành cây vươn dài trên mặt đất có thể dài tới vài mét, lá cành xanh biếc có tư thế phong cách độc đáo. Chữ Bách khi đặt tên nên đặt ở giữa tên và họ, đặt tên cuối cùng không hay lắm. Ví dụ: Lâm Bách Tùng, Mã Bách Kiều.
Liễu mềm mại và những gốc cây bỏ ngỏ: Ninh, Khảo, Quang
Liễu: Cây Liễu thuộc họ Dương Liễu, thân gỗ, lá rụng, có ở mọi miền đất nước, loại chính là Thuỷ Liễu, cao tới 18 mét, đầu xuân cây cối đâm chồi nảy lộc, cành liễu rủ xuống phất phơ theo gió, có hiệu quả thẩm mỹ cao, là loại cây đầu tiên trong việc làm xanh thành phố. Sức sống của cây Liễu rất mạnh mẽ, mầm cây rơi xuống bùn đất có thể nảy nở, bẻ một cành Liễu cắm xuống đất có thể sống được. Mọi người thường nói: "Hữu ý tài hoa hoa bất khai, vô tâm sáp Liễu liễu thanh ấm". Tuy ý muốn nói là việc muốn làm thì không thành, việc không để ý lại thành công, nhưng cũng phản ánh sức sống mãnh liệt của cây Liễu.
Liên quan đến các đặc tính khác của Liễu, chúng ta có thể thấy trong thơ cổ, Hạ Tri Trương đời Đường từng có bài (vịnh Liễu): "Bích Ngọc trang thành nhất thụ cao, vạn điều thuỳ hạ lục tư, bất tri tế điệp thuỳ xuất, nhị nguyệt xuân phong tự tư". Dùng Liễu đặt tên tương đối hay, tác giả đặt tên Tống Quỳnh Liễu cho một vai nữ chính trong một bộ phim truyền hình. Có thể đặt chữ Liễu giữa họ và tên, cũng có thể đặt cuối cùng. Ví dụ: Đặng Thần Liễu, Dương Liễu Tùng, Triệu Liễu Diệp, Diệp Thánh Liễu.
Ninh: Cây Ninh Mông (cây Chanh) là cây thân gỗ nhỏ quanh năm xanh, lá hình bầu dục dài. Hoa phía ngoài là màu hồng phấn, phía trong là màu trắng, quả chua, có thể chế làm đồ uống. Nhìn nhận từ góc độ phát âm, người thích tên Ninh nên thử dùng tên Ninh (cây Chanh) làm tên, về phương diện ý nghĩa cũng chẳng kém, bởi vì cây Ninh Mông cũng là loài thực vật được nhiều người yêu mến. Cả nam và nữ đều có thể dùng tên Ninh. Ví dụ tên nam: Trương Ninh Kiệt, Lưu Vũ Ninh, tên nữ: Vương Ninh Phi, Trương Lệ Ninh, Lý Thu Ninh.
Khảo: Cây Vang là cây thân gỗ quanh năm xanh lá, lá dạng dài có gai, chất gỗ cứng chắc, người vùng biển thường dùng làm mái chèo. Tên họ trước đây ít dùng tên Vang, có thể nói nó là một tên ít gặp nhưng đặc tính của gỗ vang là rắn chắc thích hợp với tính cách nam giới có thể dùng đặt tên cho con trai. Ví dụ: Hàn Lâm Vang, Vương Thành Vang, Nguỵ Như Vang.
Quang: Cây Báng là loại cây gỗ, lá xanh quanh năm, lá xít nhau hình lông vũ, quả hình dùi tròn, sinh trưởng tại vùng nhiệt đới, tuỷ trong thân có thể làm tinh bột, sơ trong vỏ cây có thể làm dây thừng. Tên hiện nay quen dùng Quang (ánh sáng) chứ không hay dùng Quang (cây Báng), thực tế hai tên đều có ý nghĩa suông, dường như ý nghĩa của Quang (cây Báng) còn phong phú hơn Quang (ánh sáng). Ví dụ: Tần Quang Thanh, Lưu Quang Văn.
Đồng làm đàn, Khởi, Hoa, An, Nam, Luyện và Thu khép một vòng cây cối
Đồng: Cây Đồng gồm có cây bào đồng, cây ngô đồng. Ngô đồng là cây thân gỗ lá rụng lá dạng hình bàn tay phân biệt, cuống lá dài, hoa màu vàng xanh, gỗ màu trắng chất gỗ nhẹ mà vững chắc, mầm có thể dùng ép dầu. Bào Đồng là cây thân gỗ lá rụng, lá to hình trứng hoặc hình tim, hoa hình dùi, hoa thường có màu tím, có mùi thơm, chất gỗ Bào Đồng nhẹ là nguyên liệu làm đàn. Cây Đồng là loại cây tốt nhất để làm nhạc cụ, dùng Đồng làm tên có thể thấy những ý nghĩa trên. Ví dụ: Lý Nhạc Đồng, Diêu Đồng Cẩm. Có thể ghép cùng với tên của cây khác thành tên. Ví dụ: Dương Liễu Đồng, Trương Chỉ Đồng. Ghép với bất cứ chữ nào khác cũng có thể tạo thành một tên hay. Ví dụ: Chung Tiểu Đồng, Lâm Túc Đồng.
Khởi: Cây Khởi là loại cây thân gỗ lá xanh, lá tương đối dài, hình trắng, quả hình bầu dục. Âm đọc tiếng Trung của tên Khởi gần giống với chữ Thất, cho nên chữ này không có lợi khi dùng làm tên, nhưng nếu muốn tìm tên ít trùng, Khởi vẫn có thể dùng được. Ví dụ: Đoạn Hồng Khởi, Trương Khởi Phong.
Hoa: Cây Hoa hay còn gọi là cây Song Tử Điệp là loại cây thân gỗ lá rụng, vỏ cây màu trắng, màu xám, màu vàng hoặc màu đen, lá mọc cách, nguồn gốc vùng Đông Bắc nước ta. Theo màu sắc của vỏ cây chia thành Bạch Hoa và Hắc Hoa. Tỉ lệ sử dụng Hoa làm tên tương đối cao, nhưng vẫn chưa đến mức cứ dùng là trùng tên. Nếu tránh các từ ghép thường gặp còn có thể có một tên hay. Ví dụ: Khổng Bạch Hoa, Vương Vũ Hoa, Tạ Gia Hoa.
An: Cây An, còn có tên Ngọc Thụ, Hoàng Kim Thụ. Cây thân gỗ, lá xanh. Nguồn gốc nước Úc, miền Nam nước ta cũng có trồng. Cây An thân cây thẳng đứng gỗ có thể làm vật liệu xây dựng, cành và lá có thể ép dầu gọi là dầu khuynh diệp. Dùng chữ An làm tên cũng ít gặp bởi vì cây An là cây ít gặp. Nếu nói tên An (tốt lành) là tên thường gặp, như vậy dùng An (cây An) để đặt tên là sự lựa chọn thích hợp. Ví dụ: Hồ Thượng An, Lý Vũ An, Trương Thụ An.
Nam: Nam Mộc là loại cây thân gỗ lớn lá rụng, gốc tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên. Lá hình bầu dục hoặc hình kim dài, mặt trên bóng mặt dưới có lông mềm. Hoa tương đối nhỏ, màu xanh, kết quả mọng màu xanh đen. Gỗ cây Nam là loại vật liệu xây dựng quý, xây dựng cung điện thời xưa đều dùng gỗ Nam làm cột. Gỗ Nam còn có thể dùng làm thuyền. Dùng Nam làm tên là mong muốn cao lớn, khoẻ mạnh, kiên cường. Ví dụ: Khương Nam, Vương Ngạn Nam.
Luyện: Cây Luyện (cây xoan) là cây thân gỗ lá rụng, lá mọc cách, tương đối nhỏ, lá xoè dạng lông vũ, hình trứng hoặc hình kim, nở hoa nhỏ màu tím nhạt. Kết quả hình bầu dục, gỗ có thể làm nhiều đồ. Dùng Luyện làm tên, phát âm dễ nghe mà tỉ lệ trùng tên ít. Ví dụ: Khổng Luyện Nam, Lý Luyện Đồng, Miện Luyện Thuần.
Thu: Cây Thu là cây thân gỗ lá rụng, nở hoa màu vàng hoặc màu trắng. Kết quả hình trứng ba góc hoặc hình bầu dục. Hoa màu trắng có chấm tím có thể dùng trong xây dựng. Hiện nay, khi đặt tên mọi người thích dùng tên Thu (mùa thu). Tên Thu (cây thu) đồng âm với Thu (mùa thu), thích hợp dùng làm tên, nam và nữ đều có thể lấy Thu làm tên. Ví dụ tên nam: Trương Vĩ Thu, Lý Cán Thu, Vương Thu Lâm. Tên nữ: Trương Thu Vân, Lý Thu Liên, Vương Thu Nam.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
