Bài tổng quan
Chim quý và 12 con giáp: đặt tên con theo giờ, năm sinh
Con hạc sống trọn đời bên bạn đời, được người xưa gọi là "hạc tiên" biểu tượng cho sự trường thọ; con chuột nhỏ bé lại giành được ngôi đầu bảng mười hai con giáp chỉ bằng một cú nhảy nhanh trí; còn con hổ được tôn làm vị thần trấn giữ phương Tây trong Tứ Linh. Còn một kho tên khác phong phú hơn: mười hai con vật gắn với giờ sinh, năm sinh của mỗi người…
Đề, Bằng, Mi, Ưng, Lộc, Hạc: kho tên loài chim quý
Đề: Là chỉ loài chim đề hồ, loài chim này thuộc loài chim nước, bộ lông có màu trắng, nó rất giỏi về bơi lội và bắt cá. Nó còn có một tên gọi khác là "đào hà". Chữ "đề" này sử dụng trong việc đặt tên tương đối độc đáo. Ví dụ như Lỗ Giang Đề, Dương Thu Đề, Ưu Đông Đề.
Bằng: Chim bằng là loài chim lớn nhất so với các loài chim khác trong truyền thuyết. Người ta thường ví "bằng trình vạn lí" với những gì xa xôi ở hành trình phía trước. Hiệu suất sử dụng trong cách đặt tên của chữ "bằng" rất lớn, đặc biệt rất nhiều trong cách gọi tên đơn và tên trùng lặp. Ví dụ như Vương Bằng, Trương Bằng… Còn những tên trùng lặp lại sẽ có tới hàng trăm hàng nghìn tên. Trong các cá tính gọi là Đại Bàng cùng đều có hiện tượng trùng tên. Do đó vấn đề nảy sinh khi sử dụng chữ bằng để đặt tên nhất định phải chú ý đến hiện tượng trùng tên. Lấy chữ "bằng" để đặt tên nên tạo khả năng tìm kiếm cái mới mẻ như thế mới không để xảy ra hiện tượng trùng tên, bởi như thế sẽ dẫn tới hậu quả trăm nghìn người vẫn chỉ sử dụng một cái tên, đương nhiên là bất tiện rồi. Ví dụ Vương Cẩm Bằng, Lưu Bằng Hà.
Mi: Là loài chim có bộ lông màu nâu, giọng hót mượt mà dễ nghe. Với những người con gái thích hát hò thì dùng chữ Mi đặt tên là tốt nhất. Ví dụ như Hoàng Lâm Mi, Hứa Li Mi, Bạch Mai Mi.
Ưng: Chim ưng có rất nhiều chủng loại, chim ưng có những đặc điểm thông thường như mỏ có hình lưỡi câu, vuốt sắc nhọn, tính cách thì hung bạo. Do chim ưng là loài động vật được nhiều người yêu thích nên sử dụng chữ ưng để đặt tên cũng tương đối nhiều, song hiện tượng trùng lặp lại tên khi sử dụng chữ ưng để đặt tên cũng rất hay xảy ra. Khi dùng chữ ưng để đặt tên phải hết sức chú ý đến việc tìm ra những chữ mới phối hợp tương xứng với chữ ưng. Ví dụ như Lưu Thánh Ưng, Trương Cát Ưng, Lý Hữu Bằng.
Lộc: Là chỉ con cò, con cò có mỏ dài và nhọn, cổ dài, lông của con cò mà chúng ta thường thấy có màu trắng hoặc màu xám nhạt. Âm đọc của Lộc tương đối dễ nghe và thích hợp khi dùng chỉ tên con gái. Ví dụ như Văn Bạch Lộc, Vương Lộc Duyên.
Hạc: Đầu của loài hạc nhỏ, cổ dài, mỏ dài, chân của nó cũng nhỏ và dài. Hạc rất thích sống cùng bầy đàn hoặc cùng đôi, cuộc sống của chúng thường diễn ra ở ven hồ hoặc ven biển. Người ta thường dùng hai chữ "hạc tiên" để nói về hạc bởi vì họ cho rằng hạc là biểu tượng của sự trường thọ. Do đó các nhà hoạ sĩ thường vẽ hạc tùng trong cùng một bức tranh và gọi là "tùng hạc trường niên". Do đó số người sử dụng chữ hạc để đặt cho con rất nhiều. Hiện nay, hiện tượng lặp tên khi sử dụng chữ hạc không còn nhiều, có lẽ nguyên nhân là do chữ hạc dễ dàng phối chữ với chữ khác. Nhưng theo đà phát triển của thời đại việc lấy chữ hạc để đặt tên cũng nên vì thế mà có sự đi lên. Như thế khi đặt tên mới không bị rơi vào quan niệm lạc hậu trước kia. Ví dụ Dương Hạc Lầu, Hoàng Tây Lầu, Điền Hạc Cầm.
Tóm lại tác giả cho rằng, người nào thích trời xanh, thích bay cao thì rất thích hợp với việc sử dụng tên của các loài chim quý làm tên gọi cho đứa con thân yêu của mình.
Đặt tên con theo giờ, theo năm: vòng mười hai con giáp
Lấy những con thú có giờ sinh và các nét tương quan để đặt tên cho con người là một phương pháp đặt tên đáng được nghiên cứu và thảo luận. Hiện nay có người sinh vào năm rồng liền đặt tên là Long hoặc Thìn, sinh vào năm Dần thì đặt là Hổ hoặc Dần. Như thế tức là lấy giờ và các mối liên quan đến năm Thìn, năm Dần để đặt tên. Thời cổ đại đã đưa ra mười hai con vật để làm biểu tượng cho mười hai địa chi, tí gọi là chuột, sửu gọi là trâu, dần tức hổ, mão tức là mèo, thìn tức là rồng (long), tị tức là rắn, ngọ tức là ngựa, mùi tức là dê, thân tức là khỉ, dậu tức là gà, tuất tức là chó, hợi tức là lợn. Sau này là người nào sinh vào năm nào đó thì người ấy giống như con vật ấy. Ví dụ người nào đó sinh vào năm thìn thì người đó giống như con rồng, sinh vào năm ngọ thì giống như con ngựa, như thế gọi là giống mười hai con giáp hoặc gọi là thuộc tướng của mười hai con vật. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu những nghiên cứu thảo luận làm thế nào để lấy các con vật có giờ sinh và những nét tương quan với mình để đặt tên.
Chuột: Chuột là con vật đứng đầu trong mười hai con giáp. Truyền thuyết kể lại rằng trước kia chỗ ngồi họp của mười hai con vật không có tên của chuột, nhưng chuột lại không chịu chấp nhận điều đó liền dùng tiểu kế là chạy theo đại tượng (con voi) và sau đó là ngồi trên lưng trâu để đi đến tham gia vào đại hội về vấn đề sắp xếp thứ tự của mười hai con giáp. Trong khi các con vật đang xếp hàng lần lượt để đợi ngọc hoàng xếp chỗ đứng thì nó không một chút chần chừ nhảy ngay xuống dưới và đứng vào vị trí đầu tiên của các con vật, và từ đó trở thành con vật đứng đầu mười hai con giáp. Tương truyền khi trời đất còn là một dải càn khôn, chuột đã dựa vào tài nhìn thấu suốt màn đêm, muốn tách riêng trời đất nên đã dùng hết sức mình cắn nát càn khôn, làm cho trời và đất tách riêng nhau ra, trở thành con vật lập nên kì công. Do đó mà người nào sinh vào năm tí đều tự hào về tuổi của mình. Nếu lấy giờ tí để đặt tên thì không thể trực tiếp dùng chữ chuột bởi vì chữ chuột trong cách gọi tên không được hay lắm. Bạn có thể dùng chữ tí trong cách gọi mười hai con giáp để đặt tên.
Trâu: Được xếp vào hàng thứ hai của mười hai con giáp, trâu là người bạn trung thành của người, ông Lỗ Tấn hình dung thức ăn con trâu là cỏ, vắt ra là có sữa. Ông Lỗ Tấn đã để lại câu danh ngôn: "cúi đầu làm ngựa kẻ trăn châu". Từ cổ chí kim nước ta đã rất sùng bái con trâu, có những nơi đã xây dựng miếu Ngưu Vương, mỗi năm tết lễ, mọi người đều đến miếu Ngưu Vương để cùng tế thần Ngưu Vương, để cầu xin thần phù hộ được vụ thu, có những nơi vì muốn trấn giữ được sự xâm chiếm của lũ đã khắc hình con trâu bằng đồng xanh hoặc đá khối để ném vào trong nước hoặc đặt trên mặt đê để trấn áp, hiện nay ven hồ đi Hoà Viên thuộc tỉnh Côn Linh có loại trâu đồng này. Lấy chữ "Ngưu" đặt tên là muốn theo đuổi tinh thần thật thà chịu khó của con trâu. Ví dụ Lý Tịnh Ngưu, Giang Trấn Ngưu, Bành Ngưu Quần.
Hổ: Hổ là vua chúa muôn loài thú, dũng mãnh, uy vũ, người xưa coi Hổ như là thú thần, có thể đuổi tà trấn áp yêu ma, cổ nhân cũng đã lấy các con vật như "Long, Ly, Quy, Phượng" để xưng là "Tứ Linh" và cho rằng Hổ là vị thần trong Tứ Linh, đại biểu cho khí vàng của ngũ hành Tây Phương, hàng năm cứ đến tết nguyên đán, có những nơi có phong tục cho trẻ con đi giầy đầu hổ để tránh tà trừ yêu. Đối với thuộc tính của con hổ là Dần, do đó ai sinh vào năm hổ có thể gọi là hổ và cũng có thể gọi là dần, thời xưa tài tử Giang Nam đường dần, tự là Bá Hổ, người ta gọi là Đường Bá Hổ, ông ấy đã lấy năm sinh đặt tên cho con mình, lấy thuộc tính làm chữ. Hiện nay người đặt tên là Hổ cũng rất nhiều, khi dùng nên chú ý thoát tục. Ví dụ Lý Hổ Thạch, Chu Hổ Khê, Lưu Hổ Lâm.
Từ chuột, trâu, hổ, vòng mười hai con giáp lăn qua thỏ ngọc trên cung trăng, qua rồng thiêng bay lượn, cho tới đàn khỉ vàng trên cây tùng.
Từ Mèo, Rồng đến Khỉ: tiếp nối vòng thuộc tướng mười hai con vật
Mèo: Mèo hiền lành dịu dàng, không tranh giành với ai, nhất là mèo trắng, được mệnh danh là thỏ ngọc, tượng trưng cho tốt đẹp cát tường, truyền thuyết nói rằng Hằng Nga ôm thỏ ngọc bay lên cung trăng, người xưa có lúc dùng thỏ ngọc để chỉ mặt trăng, như lấy "thỏ ngọc treo lơ lửng trên cao" chỉ trăng sáng trên trời. Truyền thuyết cho rằng Hằng Nga trên cung trăng đang tu luyện Hái Cỏ Tiên, Linh Chi, chế tạo loại thuốc tiên trường sinh bất lão, Ngọc Thỏ ở dưới chân cây trong cung trăng giúp Hằng Nga giã thuốc. Năm thỏ là năm mão, ai sinh vào năm mão có thể lấy chữ mão đặt tên. Ví dụ: Đường Mão Nguyệt, Lưu Mão Ngọc, Lý Mão Linh.
Rồng: Rồng là loài vật mà tổ tiên của dân tộc Trung Hoa tưởng tượng ra có vảy, có chân, có sừng, đồn rằng có thể bay lên trời xuống vực thẳm, gọi mưa làm gió, thời cổ đại, rồng là hoá thân của Hoàng đế, đại diện của quyền lực, rồng là biểu tượng được dân tộc Hạ Hoa sùng bái, đã trở thành tượng trưng cho dân tộc Trung Hoa, người Trung Quốc đều là truyền nhân của rồng. Rồng được liệt vào vị trí số một của "Tứ Linh" trong ngũ hành đại diện phương đông, được mệnh danh là thanh long, đối xứng với bạch hổ ở phương Tây. Trong tập tục dân gian có truyền rằng "Tháng hai rồng ngẩng đầu" nghĩa là hàng năm đến ngày 2 tháng 2 khí nguyên dương chìm dưới đất được sấm xuân đánh động đã có thời cơ để bay lên, mọi người lấy ngày 2 tháng 2 để làm ngày cây xuân lễ chúc mừng. Vì mọi người thích rồng, cũng rất thích tuổi rồng, do đó năm rồng là năm sinh sản cao, người lấy chữ rồng đặt tên rất nhiều, muốn đặt tên có chữ rồng phải bỏ chút công sức tìm hiểu, đề phòng trùng tên. Trước mắt tên đơn: Trương Long, Lý Long, hoặc lấy tên ba chữ như Trương Kim Long, Triệu Văn Long, Lý Tử Long… đã xuất hiện bao nhiêu tên trùng lặp. Để tránh xuất hiện lấy chữ Long đặt tên trùng lặp quá nhiều, phải cố gắng khai thác sửa lại chữ mới như: Lý Long Thu, Trương Long Dật, Triệu Long Đồ.
Rắn: Rắn được mệnh danh là tiểu long, vì căn cứ vào rắn mà tưởng tượng vẽ thành rồng, truyền rằng xa xưa thời cổ đại, tộc nữ Oa lấy biểu tượng của rắn để sùng bái, đạo giáo gọi rắn là "rắn thiêng" là thần huyền vũ phương Bắc, lấy quy rắn hợp thể làm thành hình tượng biến thể. Trong tập tục nhân gian rắn là tượng trưng của sự thông minh và trí tuệ, lấy chữ rắn đặt tên khó phối chữ, có thể dùng "tỵ" trong thuộc tướng can chi để đặt, ví dụ Dương Tỵ Long, Lý Tỵ Thanh, Vu Kỷ Năm.
Ngựa: Đối với ngựa thì từ thời cổ xưa đã bắt đầu sùng bái. Triều Chu đặt lễ tế ngựa thần có: Xuân Tế Mã Tổ, Hạ tế Tiên Mục, thu tế mã xá, đông tế mã bộ. Có nơi còn có miếu tế mã thần. Ngựa và người có quan hệ mật thiết với nhau, ngựa không những ở mặt nông cày, vận chuyển, vận động, có cống hiến, còn tham gia chiến tranh trên chiến trường, cổ xưa kỵ binh là binh chủng nhanh nhất. Mọi người thường dùng câu "chiến công hiển hách" để so bì vì sự vất vả mệt nhọc, công lao to lớn. Lấy câu "mã đáo thành công" ví như chiếm được thắng lợi một cách nhanh chóng, lấy "thiên lý mã đóng và bá lạc" ví như phát hiện nhân tài. Vì mã là họ, do đó đặt tên chữ mã không có nhiều, nhưng ai sinh năm ngựa mà không họ, muốn lấy chữ mã đặt tên có thể lấy chữ "ngọ" trong địa chi. Ví dụ: Vương Tưu Ngọ, Nghiêm Ngọ Sách, Trương Bá Ngọc.
Dê: Hình tượng của dê rất hiền lành tốt đẹp, tượng trưng cho sự truy tìm an cư lạc nghiệp, hạnh phúc thuận hoà, thời cổ đại người ta cho rằng dương tức là tường, do đó được mọi người mệnh danh là "cát tường". Đối xứng địa chi của dê là "mùi". Người sinh vào năm dê có thể lấy chữ mùi. Ví dụ: Lưu Mùi Cát, Lý Dương Thái, Triệu Mùi Tường.
Khỉ: Ấn tượng của khỉ đem lại cho con người ta là sự nhanh nhẹn, thông minh, tự do, tự tại. Nó biểu tượng cho trí tuệ, vô tư không nề hà trước bất kỳ khó khăn nguy hiểm nào. Khỉ còn có tên xưng là: khỉ vàng, khỉ thần, khỉ thiêng. Do chữ "hầu" đồng âm với "phong hầu báo tướng" cho nên trong các tác phẩm mĩ thuật chúng ta thường thấy có sự liên quan đến con khỉ, như: vẽ tranh con khỉ cưỡi trên lưng con ngựa đó là biểu tượng cho "mã thượng phong hầu", có bức tranh lại vẽ hai con khỉ ngồi trên cây tùng, hoặc giả một con khỉ này ngồi trên lưng con khỉ kia, ý nghĩa chính là "đời đời phong hầu". Do đó, những ai sinh vào năm khỉ, lấy địa chi hoặc thuộc tính của năm khỉ để đặt tên thì gặp rất nhiều may mắn. Cùng với địa chi phối chữ tương hợp với "hầu" có chữ "thân". Ví dụ Chu Thần Hầu, Dương Thân Lâm.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
