Bài tổng quan
Đặt tên con từ thơ Đường: Đỗ Phủ, Lý Hạ, Đỗ Mục
Nửa đêm, tiếng chuông chùa Hàn Sơn vọng tới thuyền khách trong bài thơ của Trương Kế đã hoá thành một cái tên; đom đóm bay trong đêm thu tịch mịch của Đỗ Mục, tiếng thác nước lấp lánh sắc chiều trong thơ Trương Cửu Linh cũng vậy. Hàng chục bài Đường thi khác lần lượt mở ra, cho tới câu chốt cuối cùng của cả kho tên thơ cổ: chỉ cần giở một vài trang thơ, cha mẹ nào cũng có thể tìm được cái tên như ý cho con mình…
Trương Kế, Đỗ Phủ và Lý Hạ: sương thu bên chùa Hàn Sơn, ánh trăng vỡ đôi bờ
Bài thơ "Đêm ghé Phong Kiều" của Trương Kế đời Đường:
"Trăng lặn qua kêu sương đầy trời, Giang Phong đèn thuyền chăm sầu ngư chùa Hàn Sơn ở ngoài thành, nửa đêm tiếng chuông vọng đến thuyền khách."
Các từ có thể chọn đặt tên trong bài thơ này là: Phong Kiều, Giang Phong, Hàn Sơn. Ví dụ:
Quách Phong Kiều: Phong Kiều một địa danh ở thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô, vì bài thơ này mà đã trở thành danh lam thắng cảnh.
Tần Giang Phong: là cây phong mọc bên bờ sông.
Hứa Hàn Sơn: Chùa Hàn Sơn là một ngôi chùa gần kề Phong Kiều, là một trong những di tích cổ của Tô Châu, ngôi chùa này tại sao lại lấy tên là Hàn Sơn, không biết khảo chướng từ đâu, nhưng tên người mượn hai chữ Hàn Sơn, nội dung hàm ý chùa Hàn Sơn.
Trong bài thơ "Thu hứng bát đạo" của Đỗ Phủ có đoạn: "Sóng nước giữa sông tung bọt giữa không gian. Gió mây ngăn cản ánh mặt trời. Cây cúc dại nở hoa mà rơi lệ, lòng cô đơn lại nhớ tới quê nhà. Áo lạnh không che đủ ấm, thành cao mà lòng vẫn ngổn ngang". Ta thấy xuất hiện một số danh từ có thể dùng để đặt tên như: Thu Hưng, Tùng Cúc. Ví dụ:
Dương Thu Hưng: Thu Hưng nghĩa là cảm thu mà gợi hứng làm thơ, hay còn gọi là hứng thơ ngày thu.
Thường Ngọc Lộ: Ngọc Lộ tức sương trắng.
Văn Tùng Cúc: Nếu lấy tên theo Hoa Cúc dễ gợi sự nhàm chán, tầm thường. Nhưng Tùng Cúc không phải là một tục danh mà nó diễn tả thần thái kỳ diệu của bông cúc.
Trong bài "Thiền viện sau chùa Phù Sơn" của Đỗ Phủ có viết: "Buổi sáng thanh tịnh nơi chùa cổ, mặt trời là trên đỉnh ngọn cây rừng (nguyên âm Hán Việt đọc là "cao lâm"). Khúc ca nghe rộn rã. Hoa chốn cửa thiền ngát hương. Núi cao tràn ánh nắng, ánh sáng trong vắt của trăng dễ làm lòng người trở nên thánh thiện (nguyên văn âm Hán Việt đọc là "đàm ảnh")". Chữ "Cao lâm" và "Đàm ảnh" trong bài thơ này có thể dùng để đặt tên. Ví dụ:
Tống Cao Lâm: Cao Lâm có nghĩa là nơi cao trong rừng cây.
Lưu Đàm Ảnh: trong câu thơ có nghĩa là người ta gặp dòng nước trong mà rũ bỏ hết những ham muốn đời thường.
Nhà thơ Lý Hạ đời Đường có viết: "Mây ngừng trôi, nước ngừng chảy. Tương Nga luôn cô quạnh, núi ngọc vỡ tan phượng hoàng kêu thảng thốt". Những từ trong bài thơ như: Thục Đồng, Tương Nga đều có thể dùng đặt tên được. Ví dụ:
Trương Thục Đồng: Thục Đồng vốn chỉ có cây gỗ đồng, một loại cây đặc trưng ở vùng Tứ Xuyên, là vật liệu tốt để sản xuất các loại đàn tì bà.
Sử Tương Nga: Tương Nga là một nhân vật trong các truyện truyền thuyết thần thoại. Tương truyền khi xưa Vũ Đế tuần du phía Nam, bị chết tại gốc cây ngô đồng, hai phi tử của ông là Nga Hoàng, Nữ Anh đã cùng nhau tự tử ngay trên bờ sông Tương và trở thành nữ thần sông Tương. Tương Nga chính là chỉ hai bậc phi tử chung thuỷ đó.
Lý Hạ trong bài "Nam nguyên" (phần sáu) viết rằng: "Kiếm tìm ở nơi đâu, ngắm trăng mà trăng chẳng được tròn. Văn chương nơi nào khóc gió thu". Hai từ Ngọc Cung trong đoạn thơ trên cũng là một cái tên tuyệt đẹp. Ví dụ:
Hoàng Ngọc Cung: Ngọc Cung ý chỉ ánh trăng sáng.
Đỗ Mục, Cao Thiềm và Trần Tử Ngang: chiều thu tịch mịch, cánh hoa theo gió
Bài "Thu tịch" của Đỗ Mục đời Đường tả rằng: "Nếu đồng mở ảo trời thu lạnh, tiếng thanh la văng vẳng, trong đêm đom đóm bay, đường vắng ngắt chẳng bóng người qua lại, đêm khuya lạnh lẽo, chợt thấy chòm sao Ngưu Lang Chức Nữ". Đề mục của bài thơ có thể dùng đặt tên, ví dụ Trương Thu Tịch. Xét về mặt con chữ thì Thu Tịch nghĩa là buổi chiều muộn, song ngoài ra còn là tên một bài thơ mà ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong toàn bộ nội dung trong bài thơ này.
Một bài thơ khác của Đỗ Mục với tên gọi "Cửu nhật tề sơn đăng cao" viết rằng: "Trần thế nay sao khó thấy nụ cười, hoa cúc nở rồi sao tàn nhanh đến thế. Lẽ nào từ xưa đến nay chỉ có vậy, hà tất chi phải áo đẫm mồ hôi". Những từ Giang Hàm, Thu Ảnh trong bài thơ thường được dùng để đặt tên. Ví dụ:
Lưu Giang Hàm vốn chỉ chỗ lòng sâu của sông. Chữ Hàm dùng trong bài thơ với dụng ý con sông ôm ấp ánh thu vào lòng mình đầy bao dung, thân thiết.
Từ Thu Ảnh: Thu Ảnh trong thơ có nghĩa là cảnh ngày thu được in trên bóng nước, với tất cả cảnh sắc bóng dáng con chim nhạn và hình ảnh trùng điệp của dãy núi xanh rêu.
Tăng Huyền Lãm đời Đường trong bài "Vô đề" đã tả: "Biển rộng nhờ có cá bơi, trời cao nhờ cánh chim sải". Chữ "Hải hồ" (biển rộng) trong hai câu thơ trên cũng thường lấy làm tên đặt. Ví dụ Hoàng Hải Hồ có nghĩa là tầm lòng bao la rộng lớn.
Nhà thơ Cao Thiềm đời Đường đã miêu tả: "Muốn cười mà xuân đã tàn chim đã mỏi cánh, cánh hoa rụng bay theo gió. Mở cửa ra trời xanh đang đợi ta quay trở về". Ta có thể lấy những từ trong bài thơ như: Bích Đào, Kỷ Vân, Thu Giang để đặt tên. Ví dụ:
Điêu Bích Đào: Bích Đào là một loại giống khác của cây đào, vì cánh hoa nhiều tầng nên được gọi là Bích Đào.
Trương Kỷ Vân: Kỷ Vân được xuất phát từ màu sắc những đám mây, có thể hiểu là ai đó luôn đứng ở thế rất cao.
Vương Thu Giang: Thu Giang chỉ dòng sông buổi thu mà trong bài thơ trên mang ý nghĩa bờ hồ chiều thu.
Trong đoạn thơ ở bài "Cảm ngộ thập bát đạo" của Trần Tử Ngang đời Đường, có viết: "Suối hồng sao đổ mãi, ở nơi xa xăm đó trông gió ở phương nào. Trời xanh mưa gió thổi. Núi xanh lại bạc trắng đầu. Đào ngọc lộ nơi trần gian, phù dung lại mọc giữa dòng sông thu, ghét hờn gió đông sao chưa nở". Trong bài thơ này có những từ như: Lan Nhược, Thiên Uất. Ví dụ:
Lưu Lan Nhược: Lan Nhược chính là Hương Lan và Đỗ Nhược, hai loại này đều là những loài cỏ thơm thanh tú.
Lâm Thiên Uất: Thiên Uất ý chỉ cây rừng tốt tươi. Hay ở một bài thơ của Tô Đĩnh đời Đường: "Hoa lan lại nở vào xuân hạ, cỏ cây um tùm xanh mướt. Ngày ngày sớm rồi tối, hoa nở rồi hoa tàn, đến bao giờ mới hết?".
Một vài cái tên: Vọng Xuân, Hàm Yên cũng rất có ý nghĩa. Ví dụ:
Diêm Vọng Xuân: Vọng Xuân có thể hiểu là ngắm xuân.
Liễu Hàm Yên: Liễu Hàm Yên là lời mở đầu trong thơ ca với hàm ý tình cảm mùa xuân.
Càng đọc sâu vào thơ Đường, kho tên càng mở rộng — từ thác nước lấp lánh sắc chiều đến chốn hạc nội mây ngàn, mỗi bài thơ lại cho thêm một cái tên đẹp.
Trương Cửu Linh đến Dương Vạn Lý: thác nước, hạc nội và kho tên thơ cổ
Nhà thơ Trương Cửu Linh đời Đường cung cấp cho chúng ta những cái tên đầy hình ảnh trong bài thơ "Hồ khẩu vọng Lô sơn bộc bố thuỷ": "Vọm phu lạc hồng tuyền, xa xăm nửa trời tím, rọi xuống dưới lùm cây, mặt trời vàng như nghệ, trời thanh thẳng gió mưa. Tìm núi nhiều cảnh đẹp, non nước mây trời vẫn mông lung". Hồng Tuyền, Tử Phần chính là những danh từ được nhắc bên trên. Ví dụ:
Lưu Hồng Tuyền, Trương Tử Phần: Hồng Tuyền và Tử Phần chỉ ánh mặt trời chiếu xuống thác nước khiến thác nước lấp lánh, lung linh muôn sắc màu.
Trong bài thơ "Mộ xuân quy cô sơn thảo đường" của Tiền Khởi thời nhà Đường có viết: "Ước khấu xuân về hoàng điển quý, thân hành hoa tạ với hoa bay. Đầu lãnh U Trúc sơn dưới cửa, không đổi ngày xanh đợi ta về". U Trúc trong bài thơ này có thể gọi làm tên. Ví dụ: Hàn U Trúc: cây trúc thanh cao, xanh biếc lại thêm chữ "U" càng trở nên nên thơ.
"Nguyên Tương" trong bài thơ này có thể làm tên gọi. Ví dụ: Lưu Nguyên Tương: Nguyên và Tương là hai con sông được ngâm vịnh trong thơ của Khuất Nguyên. Trong một câu có hai con sông mà hai dòng sông này là dòng sông mang nặng nội dung văn hoá, có nguồn gốc lâu đời. Những người thích chữ mang tên nước, dùng hai chữ Nguyên Tương thì rất hợp.
Đời Thúc Luận trong "Để trĩ giang sơn thuỷ" viết: "Mầm cây mọc tháng sáu, bầu trời mây trôi mênh mang. Lữ khách đối diện với gió thu, nhìn sông nước không khỏi nhớ quê hương". Đoạn này nổi lên câu chữ "Thịnh Sa". Ví dụ: Tần Thịnh Sa: ý nghĩa của Thịnh là dòng nước phẳng, mà Tần Thịnh Sa có thể mang nghĩa là Thịnh Châu trong nước.
Lý Ích thời Đường trong bài "Quá ngũ nguyên hồ nhi ẩm mã tuyền" viết: "Mờ mờ hơi nước như sương khói như hổ nhi ngậm mã tuyền, ánh trăng phá vỡ màn đêm dày đặc". Hai chữ "Ỷ kiếm" trong bài thơ này làm tên chữ. Ví dụ: Triệu Ỷ Kiếm: Chữ Kiếm là chữ mang ý nghĩa cương trực, con trai thích hợp với chữ Kiếm, lại được tô sức thêm chữ Ỷ, càng trở nên hào kiệt oai phong.
Lưu Vận Dịch đời Đường viết: "Buổi trưa nắng chiều xuống theo phương thẳng đứng, mặt hồ lặng yên, nhàn hạ nghĩ tới dáng hạc". Hai chữ "Hạc Nghĩa" trong bài thơ là móc xích chính. Ví dụ: Lưu Hạc Nghĩa, tương truyền Hạc là do vua hoá thành, Hạc Nghĩa là hình ảnh của vua.
Lấy tên là "Khê Thạch". Ví dụ như Châu Khê Thạch, ý nghĩa của Thạch thường chỉ sự kiên cường cứng cỏi, mà Khê Thạch còn có tầng nghĩa rộng hơn, chỉ nửa của dòng khe suối, chảy mãi, thuần khiết, không mất đi bản sắc ý nghĩa kiên cường.
Mang tên "Tử Điệp". Ví dụ Vương Tử Điệp, về mặt ý nghĩa là Hồ Điệp mang màu tím, trong thơ được ví với sự vật hữu tình. Mang tên "Long Trì" — ví dụ như Lý Long Trì là nội cung Hưng Khánh của hoàng đế triều Đường, nơi ở của Đường Huyền Tông. Lấy tên "Vân Bích" — ví dụ Lưu Vân Bích, bức bình phong là một vật dùng để che chắn trong nhà, mà Vân Bích là bình cao sang, trên bề mặt thường được thêu, vẽ bằng vàng vải trang sức ngọc. Đặt tên "Xuân Lộ" — ví dụ Điền Xuân Lộ, hàm nghĩa của chữ Xuân Lộ là thuần khiết, trong thơ được ví với những di tích mang cả một biển bao la rộng lớn.
Đặt tên: Sở Điền, Mộng Tuyết, Vân Mộng. Ví dụ:
Dương Sở Điền: Hiện nay, chữ Điền được dùng rất nhiều, ví dụ Kinh Điền, Ngọc Điền,… nhưng chữ Sở Điền thì ít thấy hơn. Sở Điền có thể giải thích là Điền Dã, cũng có thể giải thích là Điền Dã của Sở Địa. Thời Xuân Thu Chiến quốc, dòng sông Tương Giang liền một dải với Sở Địa.
Đào Mộng Tuyết: Mộng Tuyết là tuyết trong mộng.
Thử Vân Mộng: Vân Mộng là chỉ ở Hồ Bắc hoặc Hồ Nam, ở phía Bắc hồ Thông Đình.
Đặt tên là "Tuyết Thi" và "Ngọc Trân". Ví dụ: Trương Tuyết Thi: Tuyết Thi là thi ca miêu tả tuyết. Lý Ngọc Trân: Ngọc Trân trong thơ được ví với tuyết.
Đặt tên là "Đình Nguyệt". Ví dụ: Vương Đình Nguyệt là trăng trong nhà, hoa dã tàn, nhưng trăng trong nhà vẫn sáng lung linh, ánh trăng hữu tình hơn hoa.
Đường Ôn Như thời Đường trong "Đề Long Dương huyện thanh thảo hồ" viết rằng: "Gió tây thổi đến cửa nhà, một đêm quận Tương trắng xoá ra. Khi say không biết trời biết đất, đến khi tỉnh dậy nước đầy thuyền". Đặt tên con là Tương Quân, Tinh Hà. Ví dụ: Lý Tương Quân, Tương Quân là thứ phi của vua Thuấn.
Chu Tinh Hà: Tinh Hà là sông Ngân Hà, trong thơ có nghĩa là dòng sông Ngân Hà sáng lung linh chiếu xuống hồ. Xung quanh là một thế giới sáng lạn lung linh huyền ảo.
Đặt tên con là "Thanh Đế". Ví dụ: Tống Thanh Đế: Chữ Đế rất ít thấy, trong lịch sử Trung Quốc lâu đời truyền thống văn hoá, ai dám đặt tên với chữ "Đế". Thời nay không phải là xã hội phong kiến, đế vương không còn tồn tại mà vị thần cai quản các loài hoa. Ví dụ một ai đó rất yêu hoa thì có thể đặt tên cho con với hai chữ "Thanh Đế".
Đặt tên cho con mang tên "Thư Nghê". Ví dụ: Trương Thư Nghê: Nghê là cầu vồng, theo cách nói xưa, cầu vồng cũng phân thành giống đực và giống cái. Hùng là cầu vồng đực mà cái là Nghê. Ngày nay người ta lại phân tích thành cầu vồng chính và cầu vồng phụ, Thư Nghê là cầu vồng phụ ngày nay. Trong "Kỷ lục vụ quan" Dương Vạn Lý thời Nam Tống có viết: "Quân tử ở Đông Triết tôi ở Giang Tây, trong tôi xin một chút tình si. Hoa rơi trở lại mang tin tức, ngày tháng thoi đưa bỗng tương tư. Bất chợt Lý Đỗ câu kinh hải, càng thấy hâm mộ thế vũ phong". Chữ Kình Hải được dùng để đặt tên. Ví dụ: Lưu Kình Hải có nghĩa là cá kình ở biển.
Tóm lại, tìm tên trong thơ cổ là điều có thể thực hiện được. Nếu bạn có tâm tìm tên chữ trong thơ cổ, chỉ cần giở một vài bài thơ cổ là bạn có thể tìm được tên như mong muốn.
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
