Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế

Bài tổng quan

Đặt tên theo địa danh Trung Hoa và tên loài chim quý hiếm

Thần Số Học - Ứng Dụng Thực Tế28/09/202614 phút đọc1 lượt đọc
Đặt tên theo địa danh Trung Hoa và tên loài chim quý hiếm

Một người bạn cảnh sát ở Tứ Xuyên ghép tên ba tỉnh thành một cái tên riêng; một đứa trẻ khác mang tên loài chim ưng bay cao dũng mãnh, một đứa khác nữa mang tên đôi chim uyên ương không rời ven hồ. Địa danh nơi mình sinh ra và loài chim quý trên trời cao hoá ra cũng là một kho tên đẹp mà cha mẹ có thể mượn cho con…


Dùng địa danh để đặt tên: từ Bắc Kinh đến những tỉnh miền Tây Bắc

Lấy tên địa danh để đặt tên là phương pháp chúng ta thường gặp, ví dụ có một người sinh tại Bắc Kinh liền đặt tên là Sinh Kinh, cũng có thể gọi là Yến Sinh, bởi vì Bắc Kinh cũng là Yến Kinh. Tôi đã từng gặp một cảnh sát – người bạn đồng hành ở Tứ Xuyên, ông ta nói ông ta tên là Tần Ngân Xuyên, tên này do tổng hợp của ba tỉnh hợp lại, là tên thuần của ba tỉnh. Lấy tên địa danh để đặt tên, phương pháp đặt tên này đã đơn giản lại có ý nghĩa nhất định bởi bất kỳ sinh ra như thế nào đều có địa danh. Như bên trên đã nói Kinh Sinh – Yến Sinh vậy. Loại tên này dùng tên tắt của nơi sinh, đặc điểm của nơi sinh, lại thêm phối chữ thành tên. Đương nhiên nếu bạn rất thích địa danh này mà bạn không sinh ra đây hoặc bạn có duyên phận gì với nơi này cũng có thể lấy địa danh đó để đặt tên. Ví dụ: có người cha là người Hà Nam, mẹ là người Tứ Xuyên, con là Lưu Dự Xuyên, Dự là tên gọi của Hà Nam, Xuyên là Tứ Xuyên, tên của người con này là do tên của hai địa danh hợp lại, tên như vậy cũng rất đặc sắc. Để độc giả thuận tiện khi muốn đặt tên con về lĩnh vực này, tác giả đã thu thập được một số địa danh gọi tắt và một số từ xưng hô đặc tính của một số vùng, để khi các bạn muốn đặt tên theo địa danh cùng tham khảo.

Thành Bắc Kinh gọi tắt là Kinh. Tên cổ xưa thời Xuân Thu Chiến quốc là Yến, thời nhà Liêu gọi là Bồi Đô. Nếu người sinh ra Bắc Kinh, có thể dùng Yến, Yến Đô, Bồi Đô để đặt tên.

Thành phố Thiên Tân: gọi tắt là Tân, đến thời Nguyên gọi là Cô Đầu, đời Minh gọi là Thiên Tân và Thiết Vệ. Nếu bạn sinh ở Thiên Tân có thể dùng Tân hoặc Cô để đặt tên.

Thành phố Trùng Khánh: gọi tắt là Du, đời nhà Đường thuộc Du Châu, vì Trùng Khánh có nhiều núi, nên gọi là Sơn Thành. Người sinh ở Trùng Khánh có thể đặt tên là Du, Sơn Thành.

Tỉnh Hắc Long Giang gọi tắt là Hắc, xưa gọi là Túc Thận, đời Hán gọi là Phu Dư, thời Minh thuộc Nữ Chân. Người sinh ở Hắc Long Giang có thể dùng Túc Thận, Phù Dư để đặt tên.

Tỉnh Cát Lâm: gọi tắt là Cát, người sinh ở Cát Lâm dùng chữ Cát để đặt tên, chữ không những có nghĩa là Cát Lâm mà nó còn có ý nghĩa là Cát Tường nữa.

Tỉnh Liêu Ninh: gọi tắt là Liêu, thời nhà Hán, Liêu Ninh thuộc U Châu, đầu nhà Thanh đổi thành Thịnh Kinh, người sinh ra Liêu Ninh có thể lấy Liêu, U Châu, Thịnh Kinh để đặt tên.

Khu tự trị Nội Mông Cổ: gọi tắt là Mông, người sinh ra ở Nội Mông Cổ có thể đặt tên là Mông.

Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương: gọi tắt là Tân. Đời nhà Hán, Tân Cương thuộc đô hộ phủ Tây Vực, đời nhà Đường, Tân Cương lại thuộc về đô hộ phủ Bắc Đình và An Tây. Người sinh ra ở Tân Cương có thể dùng Tân – Tây Vực, Bắc Đình, An Tây để đặt tên.

Khu tự trị Tây Tạng gọi là Tạng, người sinh ở Tây Tạng có thể đặt tên là Tạng.

Tỉnh Thiểm Tây gọi là Thiểm hoặc Tần. Dưới thời nhà Tần, Thiểm Tây thuộc Nội Sử, đời Hán thuộc Ích Châu. Người sinh ra ở Thiểm Tây có thể đặt tên là Tần, Nội Sử, Ích Châu.

Khu tự trị tộc Hồi Ninh Hạ, thời nhà Hán, Ninh Hạ thuộc Bắc Phương, người sinh ra ở Ninh Hạ có thể đặt tên là Ninh Bắc Phương.

Tỉnh Cam Túc gọi tắt là Cam hoặc Lũng, thời nhà Hán lại thuộc Lương Châu, người sinh ra ở Cam Túc có thể lấy tên là Cam, Lũng, Lương Châu.

Từ Hà Bắc đến Tứ Xuyên: một vòng địa danh Trung Hoa

Tỉnh Hà Bắc gọi tắt là Bắc, thời Hán thuộc Bắc hoặc U, người sinh ra ở Hà Bắc lấy Bắc, U để đặt tên.

Tỉnh Hà Nam gọi tắt là Dự, vì nó nằm giữa chín châu, xưa gọi là Trung Nguyên, còn xưng là Trung Châu, người sinh ra ở Hà Nam có thể đặt tên là Dự, Trung Nguyên, Trung Châu.

Tỉnh Sơn Tây gọi tắt là Tấn. Trong lịch sử tỉnh hội Thái Nguyên còn gọi là Tấn Dương, Bắc Châu, Tinh Châu. Người sinh ra ở Sơn Tây có thể dùng Tấn Dương, Tinh Châu, Tấn để đặt tên.

Thành phố Thượng Hải gọi tắt là Hổ, Hộ, người sinh ra ở Thượng Hải có thể lấy Hổ, Hộ để đặt tên.

Tỉnh Giang Tô gọi tắt là Tô, thời Xuân Thu – Chiến quốc thuộc nước Ngô, Sở thời Tấn thuộc Đông Hải, người sinh ra ở Giang Tô có thể đặt tên là Tô, Ngô, Sở và Đông Hải.

Tỉnh Triết Giang gọi tắt là Triết, thời Xuân Thu gọi là nước Việt, thời Chiến quốc thuộc Sở, thời Tam quốc gọi là Ngô. Người sinh ra ở Triết Giang có thể dùng Triết, Việt để đặt tên.

Tỉnh An Huy gọi tắt là Hoãn, người sinh ra ở An Huy có thể đặt tên là Hoãn. Tỉnh Giang Tây gọi tắt là Cán, người sinh ra ở đây có thể đặt tên là Cán.

Tỉnh Hồ Bắc gọi tắt là Ngạc, thời Xuân Thu là nước Sở, người sinh ra ở đây có thể đặt tên là Ngạc, Sở.

Tỉnh Quý Châu gọi tắt là Kiềm, thời Chiến quốc gọi là Thủ Lan, có thể đặt tên là Kiềm, Thủ Lan nếu bạn sinh ra ở Quý Châu.

Tỉnh Hồ Nam gọi tắt là Tương, người sinh ở đây có thể đặt tên là Tương.

Tỉnh Vân Nam gọi là Điền, dưới thời nhà Đường được gọi là Nam Chiếu, dưới thời Tống thuộc Đại Lý. Người sinh ra ở Vân Nam có thể đặt tên là Điền, Nam Chiếu, Đại Lý.

Tỉnh Quảng Đông gọi tắt là Việt, tỉnh hội thành phố Quảng Châu còn gọi tắt là Huệ (tuệ), dưới thời Xuân Thu – Chiến quốc thuộc vùng đất Bách Việt, người sinh ở Quảng Đông có thể đặt tên là Việt, Huệ, Bách Việt.

Khu tự trị tộc Chung Quảng Tây gọi tắt là Quế, chính quyền của khu tự trị vốn ở thành phố Nam Ninh gọi tắt là Ung. Người sinh ra Quảng Tây có thể đặt tên là Quế, sinh ở Nam Ninh có thể đặt tên là Ung.

Tỉnh Phúc Kiến gọi tắt là Mân, tỉnh hội thành phố Phù Châu, có Dung Thành, người sinh ở Phúc Kiến có thể dùng Mân để đặt tên, người sinh ở Phù Châu có thể đặt tên là Dung.

Tỉnh Hải Nam gọi tắt là Quỳnh, sinh ở Hải Nam có thể đặt tên Quỳnh. Tỉnh Thanh Hải gọi tắt là Thanh, Thanh Hải xưa thuộc đất Tây Nhung, đời nhà Tuỳ Đường thuộc Tây Hải, Hà Nguyên.

Tỉnh hội thành phố Tây Ninh thời Tần, Hán gọi là đất Hoàng Trang, Tây Hải, Hà Nguyên, người sinh ở Tây Ninh có thể đặt tên là Hoàng Trang.

Tỉnh Tứ Xuyên gọi tắt là Xuyên hoặc Thục, thời Hán, Tứ Xuyên thuộc Ích Châu, thời Đường thuộc Kiếm Nam. Vạn vật ở Tứ Xuyên rất phong phú và được xưng là "Thiên phủ chi quốc". Tỉnh hội Tứ Xuyên gọi tắt là Dung, một tên khác là Cẩm Thành, Phù Dung Thành. Người sinh ra ở thành đô tỉnh hội có thể đặt tên là Dung, Cẩm Thành.

Trên đây tác giả chỉ giới thiệu sơ qua tên gọi tắt của một số tỉnh thành. Trên thực tế còn có rất nhiều tên địa danh có thể đặt tên. Độc giả có thể dựa vào tình tiết, địa danh mình sinh ra nhất định sẽ tìm được cho mình một cái tên lý tưởng.

Đất có tên riêng của đất, và trời cao cũng có tên riêng của muôn loài chim quý — kho tên loài chim mở ra trên đôi cánh.

Kho tên loài chim quý: từ Diên, Âu đến Nhàn, Quyên

Trong các danh từ riêng cho tên người hẳn các bạn vẫn thường nghe thấy những tên như: Long, Hùng… Những cái tên ấy đều dùng tên của các loài chim quý để gọi, nhưng trong các tài liệu hộ tịch hiện nay thì việc lấy tên các loài chim quý hiếm mà tập trung ở các tên như: Long, Hổ, Ưng, Hùng… để đặt tên cho con, rất dễ lạc vào tư tưởng coi trọng tên riêng và mang ý muốn khai thác công việc lấy danh của các loài chim quý đặt tên cho bé được tiến vào giai đoạn mới. Người viết bài này cho rằng việc này còn phải khai thác trên phương diện không gian nữa. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu những nghiên cứu thảo luận về vấn đề này để bạn đọc được tham khảo.

Tìm cách thức đặt tên cho con thông qua tên của các loài thú biết bay. Trong các loài thú biết bay có thể sử dụng làm tên gọi cho người bao gồm các chữ như: Diên (chỉ chim ưng, con ó), Âu (chỉ chim hải âu), Oanh (chỉ chim oanh), Cô (chỉ chim chàng vịt), Đông (chỉ chim hét), Lô (chỉ tên loài chim cốc), Uyên (chỉ tên loài chim uyên ương), Các (chỉ tên loài chim bồ câu, chim hoà bình), Loan (chỉ chim loan và nó thường đi với chim phượng ý chỉ vợ chồng hoà thuận), Hồng (chỉ chim hồng, hay còn gọi là hồng nhạn), Li (chỉ chim hoàng li, hoàng anh hay chim thương canh), Quyên (chỉ loài chim đỗ quyên), Nhàn (chỉ loài chim bạch nhàn), Đề (chỉ loài chim đề hồ), Bằng (chỉ chim ó, chim ưng), Cộc (chỉ chim cô), Hạc (chỉ tên của con chim hạc).

Diên chính là chỉ tên của con chim ưng, con ó. Tên của loài chim này rất hay gặp trong danh từ riêng chỉ người. Bởi vì chim ó là loài chim bay rất cao, rất dũng mãnh và rất được mọi người yêu thích. Vì thế mà không ít người đã sử dụng tên của loài chim này làm danh từ riêng chỉ tên người. Chỉ có điều, lạm dụng tên "ưng" này sẽ khiến bạn dễ sa vào tư tưởng coi trọng tên gọi cho nên bạn có thể lấy âm "Diên" để thay. Ví dụ như Vương Lâm Diên, Lý Diên Minh.

Âu: Loài chim này có lông màu trắng sinh sống chủ yếu ở bờ biển, ví dụ như là Hải Âu. Sử dụng chữ Âu làm tên riêng cho người nghe rất hay. Ví dụ Trương Hải Âu, Tần Bạch Âu, Dương Miễn Châu.

Oanh: Hình dáng của con chim oanh rất nhỏ bé, lông có màu nâu hoặc màu xanh tối. Người ta thường múa điệu "oanh ca yến vũ" để chào đón mùa xuân về. Tên Oanh thường sử dụng khi đặt tên cho con gái. Ví dụ Phạm Hiểu Oanh, Lý Oanh Minh, Dư Oanh Thu.

Cô: "Cô" là chỉ tên của loài chim chàng vịt, lông có màu nâu đen, thường đậu trên cành cây và kêu "cô cô". Loài chim này còn có một tên khác gọi là "thuỷ cô cô". Sử dụng chữ "cô" để đặt tên thường rất ít gặp nhưng cách đọc của từ "cô" lại rất đặc sắc. Ví dụ như Dương Thuỷ Cô, Trương Ngọc Cô, Điền Thần Cô.

Đông: Loài chim này có những đặc điểm như mỏ dài, hai cánh cung dài, tiếng kêu của nó nghe rất hay. Xét ở góc độ cách đọc thì sử dụng chữ Đông để đặt tên rất dễ dàng khi tìm từ khác để phối chữ. Ví dụ như Lưu Đông Lâm, Trương Bồi Đông, Đường Đông Triều.

Lô: Chim Cốc là loài chim sống ở nước, có màu đen và còn có tên gọi khác là ngư ưng. Sử dụng chữ "ưng" để đặt tên thường có nội hàm chỉ tính cách dũng mãnh, còn nội hàm của chữ "Ngư Ưng" lại chỉ con người đó mang tính cách cơ mẫn. Ví dụ như Lưu Giang Tô, Trần Lô Hồng, Thẩm Lô Nhạn.

Uyên: Chim uyên ương có thân hình nhỏ bé, nó không những là loài chim bay giỏi mà còn là loài chim biết bơi nữa, có bộ lông rất đẹp, rất sặc sỡ, còn con chim cái lại có bộ lông màu nâu, con chim đực và con chim cái thường cùng chung sống với nhau ở ven hồ, do đó mọi người thường ví uyên ương như là đôi vợ chồng. Chữ "Uyên" thích hợp trong đặt tên cho con gái, nếu là chỉ tính cách dịu dàng. Ví dụ như Đường Uyên Uyên, Lý Hà Uyên, Lưu Uyên Trạch.

Các: Chim bồ câu có rất nhiều loài, cự li bay của loài chim này là rất dài. Bộ lông của nó có các màu như màu trắng, màu tro… Đặc điểm của loài chim bồ câu này là có tính nhận biết đường rất cao, nó có thể tìm được đường về tổ với khoảng cách là 1000 dặm, nó có thể nhận và đưa tin tức. Mọi người coi chim bồ câu là biểu tượng cho hoà bình. Nếu dùng loài chim này trong việc đặt tên thì có nội hàm như hoà từ đầu tới cuối. Ví dụ như Lưu Vân Các, Trương Tường Cát, Trịnh Bách Các.

Loan: Loan chính là chim phượng hoàng, phượng hoàng là vua của trăm loài chim trong truyền thuyết cổ đại, bộ lông của chim phượng hoàng rất diễm lệ, là biểu tượng cho sự cát tường mạnh khoẻ. Nếu sử dụng chữ Loan làm tên gọi sẽ mang nội hàm là cát tường. Ví dụ như Lưu Loan Vũ, Phùng Loan Đình.

Hồng: Bộ lông của chim hồng nhạn có màu nâu sẫm, quần cư bên hồ. Khi bay nó đều bay thành hàng. Thông thường người ta gọi loài chim này là đại nhạn. Nội hàm của chữ Hồng ngoài việc chỉ tên của nó là hồng nhạn ra, vẫn còn có các tên khác như hồng vân, hồng nho… Chữ "hồng" sử dụng trong khi đặt tên thì hiệu suất rất cao, nhưng bạn phải chú ý là không thể dùng những chữ thông tục để phối hợp với chữ "hồng". Ví dụ như Lý Hồng Mông, Lưu Thần Hồng, Tống Yến Hồng.

Li: Tức là Hoàng Li, nó chỉ loài chim này có thân hình màu vàng, mỏ màu đỏ, tiếng kêu nghe rất hay. Nó cũng có tên gọi là hoàng oanh, lấy hoàng li để đặt tên có nội hàm chỉ dung mạo đẹp đẽ và thanh âm trong trẻo dễ nghe. Ví dụ như Nhiệm Li Quyên, Mã Li Oanh.

Quyên: Tức là chỉ chim đỗ quyên, đỗ quyên là cách gọi giống nhau của chim đỗ quyên và hoa đỗ quyên, giống như ở Việt Nam có tên là mào gà và hoa mào gà. Điều này cũng là một điều ít thấy. Nhưng chim đỗ quyên và hoa đỗ quyên dường như không có điểm tương đồng với nhau. Bởi vì đỗ quyên có màu đỏ là sắc màu chủ đạo còn chim đỗ quyên lại có bộ lông màu tro, đuôi lại điểm một vài dấu chấm trắng. Chim đỗ quyên còn có tên gọi là đỗ vũ, tử quy. Sử dụng chữ đỗ quyên để gọi tên bao hàm hai tầng nội hàm đó là hoa đỗ quyên và chim đỗ quyên. Ví dụ như Chu Vũ Quyên, Trương Tử Quyên, Vương Phi Quyên.

Nhàn: Chỉ loài chim Bạch Nhàn, loài chim này rất đẹp, phía lưng của con chim đực có màu trắng, phía bụng có lông màu xanh đen, toàn bộ phần thân của con chim cái có màu nâu xanh. Nó là loài chim cảnh rất nổi tiếng. Dùng chữ này để đặt tên tương đối dễ nghe. Ví dụ như Mạc Huệ Nhàn, Lưu Cúc Nhàn, Tạ Bạch Nhàn.

Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng Dụng Thực Tế