Bài tổng quan
Đặt tên con từ hoa Chi Tử đến cây Long Não
Một nhành hoa dại bên hiên nhà, một gốc cổ thụ trăm năm trong sân đình — cả hai đều có thể trở thành cái tên gửi gắm cho con. Từ đoá Chi Tử lạnh lùng kiêu diễm trong thơ đời Minh đến trái cam ngọt lịm gói ghém nỗi nhớ quê hương của Khuất Nguyên, mỗi loài cây trong danh sách này đều giấu một tầng nghĩa riêng...
Hoa Chi Tử thanh khiết và sắc hương những loài lan phương Nam
Hoa Chi Tử: cũng gọi là "Ngọc Hà", "Hoàng Chi Tử", "Sơn Chi Tử" thuộc họ hoa nở hướng Tây ở Trung Quốc, mọi nơi đều trồng hoa này, hoa tượng trưng cho thành phố Thường Đức Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam và thành phố Hán Trung ở Hồ Bắc.
Trong bài "Chi Tử hoa thi" của Thẩm Chu Tác người đời Minh có viết:
Tuyết hồn băng hoa hương khí thanh, Khúc Lam Thảm xử điểm tinh thần. Nhất câu tân nguyệt phong khiêu ảnh, Đán Tống kiều hương nhập hoa đình.
Bài thơ này miêu tả phong cách hoa Chi Tử, linh hồn của hoa bông là khối băng tuyết đông lạnh, còn bông hoa mang tính cách lạnh lùng, hương thơm toả ra thì rất mát mẻ, mọc ở những chỗ tối dưới lan can vườn, dáng vẻ kiêu diễm khiến cho người ta phải chú ý. Do vậy có thể thấy rằng dùng loài hoa Chi Tử này để đặt tên chính là đã lấy phẩm chất trong sạch tuyệt vời của nó. Hiện tượng tư liệu hộ tịch rất khó mà tìm ra được người nào dùng chữ "Chi" trong tên. Hoa Chi Tử có thể gọi là hoa có hương thơm trong số hàng trăm loài hoa, quả thực dùng chữ này đặt tên ngoài việc nó mang ý nghĩa, ra âm đọc cũng rất thuận miệng như: Trịnh Nhất Chi, Văn Chi Hương, Mãn Đình Chi, Giang Tuyết Chi...
Hoa Bách Lan: cũng có thể gọi là "Bách Lan", "Bà Nhi Lan", "Miến Quế" thuộc họ mộc lan, loài hoa này xuất xứ ở Indônêsia. Hiện các khu vực phía Nam Trung Quốc đều trồng loại hoa này, là loài hoa tượng trưng của thành phố Đông Xuyên tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Hoa Bách Lan có thể cao khoảng 25 mét, hoa có màu trắng, hương thơm giống như hương thơm của hoa nhài, là loài cây nổi tiếng có hoa có hương thơm và có thể thưởng thức, cây cao có thể che được bóng râm, hương thơm làm say lòng người, làm tiêu tan mệt mỏi tinh thần.
Còn nhớ người viết khi làm thuỷ binh ở Phúc Kiến, dưới chân núi chỗ đóng quân có cây Bách Lan rất to, mỗi khi tàu thuyền chiến đấu cập cảng mọi người thích nhất vào buổi tối đến dưới gốc cây ngồi vừa ngửi hương thơm, vừa ngắm Cua, họ còn ngắt mấy bông hoa cho vào trong trà, khi đó trà có hương thơm rất đặc biệt. Lúc đó người viết có một ấn tượng rất sâu sắc về loài hoa này. Nếu như bây giờ gặp một cô gái tên là Bách Lan chắc chắn là nhớ tới cây Bách Lan ở chỗ cắm đóng quân, sẽ cảm nhận thấy hương thơm của hoa Bách Lan trên người cô ta.
Dùng hoa Bách Lan để đặt tên, nếu dùng trực tiếp hai chữ Bách Lan đều có thể. Vì nếu chỉ có chữ "Lan" không thôi thì người khác sẽ hiểu là hoa Lan, mà hoa Lan lại là một loài hoa khác đồng thời nó cũng lại không có sự liên quan nào tới hoa Bách Lan. Nếu bạn họ Bách có thể đặt tên cho con bạn là Bách Lan, ngoài ra thường thường Bách Lan, Đường Bách Lan, Trương Bách Lan, đều là những tên rất hay.
Hoa Mễ Lan: cũng gọi là "Mễ Tử Lan", "Thụ Lan", "Y Lan", thuộc họ Xoan, xuất xứ từ các khu vực Đông Nam Á, hiện nay các nơi ở Trung Quốc đều trồng, hoa Mễ Lan nhỏ, màu vàng, giống hạt gạo, có hương thơm nồng đượm, đặc tính của hoa này thơm mà không đẹp, vẻ bên ngoài không thể so sánh được với các loài hoa khác xung quanh, nhưng lại có hương thơm say đắm lòng người, làm cho người ta không dám xem thường. Tuy nhiên trên danh sách tư liệu hộ tịch người dùng chữ Mễ Lan không nhiều song người viết cho rằng tên "Mễ Lai" thích hợp với những người có tài thuộc học mà không thích đứng đầu. Nếu như bạn hy vọng sau khi con bạn lớn là người có tài mà không ham danh thì bạn có thể dùng chữ Mễ Lan để đặt tên cho con bạn. Nếu bạn họ Mễ, bạn có thể đặt cho con bạn tên là "Mễ Lan". Họ Giang, Tưởng, Diệp, Thu, Đinh... xét trên phương diện phát âm đều có thể kết hợp với chữ Mễ như: Diệp Mễ Lan, cũng có thể dùng cách gọi khác của hoa Mễ Lan để đặt tên như Trương Tử Lan, Vương Thụ Lan, Lý Y Lan...
Hoa Châu Lan: cũng gọi là "Trân Châu Lan", "Kim Túc Lan" thuộc họ Kim Túc Lan, xuất xứ từ các khu vực nhiệt đới Châu Á, ở các vùng núi tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc có loài hoa mọc hoang này, hiện nay ở Trung Quốc đều có trồng, hoa Châu Lan có màu vàng, hoa nhỏ giống hoa Kim Túc Lan, hương thơm như Lan. Vì loài hoa có thể thưởng thức vào mùa hè, có khả năng sống trong bóng tối cao nên người ta có câu nói: Châu Lan không chết trong bóng tối, có thể nói rằng đặc tính của loài hoa này có nhiều chỗ giống hoa Mễ Lan, nếu bạn không muốn dùng chữ Mễ Lan để đặt tên thì có thể dùng chữ Châu Lan. Ngoài ra chữ Châu Lan có thể dùng trực tiếp trong tên cũng như cách gọi khác của loài hoa này cũng có thể dùng trong tên người, như: Thầm Chu Lan, Vương Túc Lan, Kim Túc Lan..
Hoa Cửu Lý Hương: cũng gọi là "Thiên Lý Hương", "Nguyệt Quất" thuộc họ Vân Hương, xuất xứ từ Ấn Độ, hiện ở các khu vực phía Nam và Tây Nam Trung Quốc đều có trồng. Hoa Cửu Lý Hương có màu hồng, hình dáng giống hoa Mễ Lan, rất thơm. Cửu Lý Hương là tên hoa có ba chữ, không thích hợp làm tên nhưng cách gọi khác "Nguyệt Quất" rất thích hợp dùng trong tên người, hơn nữa loài hoa này có ý nghĩa hoa rất thơm và màu hồng, nên dùng trong tên người rất hay như: Vương Nguyệt Quất, Trương Nguyệt Quất...
Hoa Quảng Ngọc Lan: cũng gọi là Hà Hoa Ngọc Lan, thuộc họ mộc Lan, xuất xứ từ Bắc Mỹ, hiện nay mọi nơi ở Trung Quốc đều có trồng loài hoa này, cây Quảng Ngọc Lan có thể cao tới 30 mét, nở hoa màu trắng, hình dáng giống hoa sen, có hương thơm.
Nếu bạn thích chữ Quảng Ngọc Lan, muốn dùng loài hoa này để đặt tên cho con bạn thì bạn có thể dùng cách gọi khác "Hà Hoa Ngọc Lan" vì cách gọi này bao hàm hai ý nghĩa, thứ nhất hình dáng bên ngoài của "Hà Hoa" (hoa sen), thứ hai là hương thơm của hoa "Ngọc Lan". Bạn có thể rút ngắn thành Lan Hà hay Ngọc Hà bởi hai chữ này đều nói lên đặc tính của loài hoa Quảng Ngọc Lan như: Trương Ngọc Hà, Bành Lan Hà.
Rời những đoá lan mảnh mai, câu chuyện đặt tên hạ xuống đất, dừng lại ở dáng đứng bền bỉ của những gốc cây mang tên gợi khí phách.
Cây cỏ mang khí phách: Nuy Tử Sam, Phượng Vĩ Lan và Trúc Nam Thiên
Cây Nuy Tử Sam: cũng gọi là "Già La Mộc" họ Tử Sam. Xuất xứ từ vùng đông bắc Trung Quốc, hiện có một vài khu vực phía Nam trồng loại cây này, cây Nuy Tử Sam là cây chỉ có thể thưởng thức lá của nó, tán lá rậm, dáng cây thẳng và đẹp, lá nhỏ cong giống như lông vũ, có màu xanh đậm, bốn mùa đều xanh. Nếu bạn thích cây Nuy Tử Sam, thì có thể dùng hai chữ Tử Sam trực tiếp trong tên như: Lý Tử Sam, Vương Tử Sam.
Hoa Phượng Vĩ Lan: cũng gọi là hoa Ba La, thuộc họ Bách hợp, xuất xứ ở Bắc Mỹ và Trung Mỹ, hiện được trồng rộng rãi ở khu vực phía Nam sông Hoàng Hà Trung Quốc, cây Phượng Vĩ Lan rất đặc biệt, thân ngắn như cây cọ, lá mới nhú ra ở giữa thân cây thì giống hình cái kiếm. Hoa đứng thẳng, cây có thể cao tới 1 mét, dáng cây giống hình chiếc cốc, rủ thấp xuống giống hình cái chuông, hoa có màu trắng, có hương thơm. Loài đi cùng với nó là hoa Ti Lan, đây cũng là loài cây đẹp vừa có thể ngắm lá cây vừa có thể thưởng thức hoa. Vì Phượng Vĩ Lan và Ti Lan thường được trồng ở trung tâm của đài hoa, do vậy từ góc độ về địa vị của nó trong quần thể các loài hoa mà nói nó là "trung tâm của các loài hoa". Dùng tên Phượng Vĩ Lan để đặt tên nghe không hay lắm, nhưng dùng các loại cùng họ với Phượng Vĩ Lan để đặt tên, hơn nữa tỷ lệ trùng tên rất thấp, ví dụ như: Trương Tổ Lan, Dương Tổ Lan...
Đào Kim Tơ: cũng có thể gọi là "Hải Đường Kim Tơ". Bởi vì đầu hoa có hình dáng giống như hoa đào nên loài hoa này có tên gọi nó là "Đào"; màu sắc của hoa có màu vàng óng của tơ do đó gọi nó là Kim Tơ. Hoa này thuộc họ cây lá rụng, loài hoa này được trồng rất phổ biến ở các địa phương ở Trung Quốc. Thân cao của hoa vào khoảng một mét, mặt lá màu xanh, loài hoa này mọc ra từ cánh hoa.
Do tên gọi của hoa Đào Kim Tơ rất dễ nghe, cho nên bạn có thể trực tiếp sử dụng tên hoa Đào Kim Tơ để đặt tên cho con, đương nhiên nếu bạn họ Kim thì có thể đặt ngay tên là "Kim Tơ Đào" hay là họ khác thì vẫn có thể gọi là "Tơ Đào". Ví dụ như: Trương Tơ Đào, Lý Tơ Đào, hoặc giả bạn có thể sử dụng tên của loài hoa khác không giống cách trồng với Đào Kim Tơ như: Trương Tơ Mai, Vương Tơ Mai...
Chính Mục: tức là cây chính, thẳng. Chính Mục cũng có một cách gọi khác là "Cây lá to màu vàng" loại cây này nguyên liệu thuộc cây vệ mao, cây cối thường xanh, nó được trồng ở khắp nơi trên đất nước Trung Quốc, thân cao khoảng tám mét, quả có hình cầu, có màu đỏ đậm. Một số loài thuộc họ gần với "Cây Chính Mục" này như: Kim Biên Chính Mục, Kim Tâm Chính Mục...
Đứng từ góc độ phát âm của loài cây Chính Mục mà nói thì rất ít xuất hiện trong tên hoa mà thích hợp cho tên của nam giới. Xuất phát từ góc độ ý nghĩa mà nói thì nếu có người nào đó tên gọi là Chính Mục thì sẽ rất khó phán đoán đó là người mang tên của loài cây này, hoặc giả là có cảm giác khó chịu khi nghe nhắc đến cái tên ấy, bởi vì chữ "Chính" có hàm ý tốt chỉ tính cách, hành vi tốt đẹp của con người như: Chính trực, quang minh chính đại... Còn chữ "Mục" đứng sau chữ "Chính" cũng mang ý nghĩa tích cực, bởi vì "cây có thẳng thì mới trực được". Xuất phát từ ý nghĩa trên đây, cái tên "Chính Mục" quả là rất hay đấy. Ví dụ như: Chu Chính Mục, Lý Chính Mục...
Hán Thanh: cũng có thể gọi là "Từ Quý Thanh" thuộc thân cây cao to, nguồn gốc chính của loài cây này là ở các tỉnh Hoa Đông Trung Quốc, thân cao khoảng 20 mét, ngọn cây có hình tròn ô van, vỏ cây có màu xám đậm, hoa có màu tím thẫm và có hương thơm. Khi kết quả thì quả của cây này thường có hình cầu màu đỏ, thuộc loài thực vật để các "bậc văn nhân quân tử" vừa thưởng thức vừa đàm đạo thi phú. Đặc tính của loài cây này là chịu được giá rét và có sức sống rất mạnh mẽ. Đối với đặc tính và cách phát âm của loài cây này mà nói thì nó tương đối phù hợp với tên của phái nam. Ví dụ các tên như: Phạm Thanh, Trương Đông Thanh...
Trúc Nam Thiên: cũng có cách gọi là "Thiên Trúc" thuộc nguyên liệu của cây hoàng bá, cây cối thường xanh. Các địa phương như: Hoa Trung, Hoa Đông của Trung Quốc trồng các loại cây này, thân cao của nó khoảng 4 mét, dáng thẳng vươn lên cao, hình dáng của cây giống như cây Trúc, nở hoa nhỏ màu trắng, quả có màu hồng. Những cây có họ gần giống với Trúc Nam Thiên là: Trúc Nam Thiên ngũ sắc, Trúc Nam Thiên ngọc quả, đặc tính của các loài cây này là đều chịu được giá rét.
Nếu đặt tên là Trúc Nam Thiên thì sẽ rất có khí phách, tên này rất phù hợp với việc đặt tên cho con trai. Nếu lấy Trúc Nam Thiên để đặt tên thì nó mang hai lớp nghĩa. Thứ nhất đó là tên của cây Trúc Nam Thiên, lớp nghĩa thứ hai là "vọng vân sinh ý" bởi vì cây Trúc hướng thẳng lên trời xanh nên người xưa quan niệm nó có thể hiểu thấu trời xanh. Với lớp nghĩa này thì tên Trúc Nam Thiên càng thể hiện khí phách hơn. Ví dụ như: Trương Thiên Trúc, Tiêu Thiên Trúc...
Từ khí phách của cây rừng, câu chuyện đặt tên chuyển sang vị ngọt của trái cây và bóng mát của những gốc đại thụ trong sân đình.
Quất, cam ngọt và bóng những gốc đại thụ trăm năm
Quất, Quất Vàng: Quất thuộc loại cỏ vân hương, cây thường có màu xanh, thân cây nhỏ, ở các vùng lưu vực phía Nam của sông Hoàng Hà, vùng Châu Giang Trung Quốc thường trồng cây này nhưng nhiều nhất vẫn là các tỉnh như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Đài Loan, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Triết Giang... Cây Quất thân cao khoảng 3 mét, giữa thân cây có gai nhọn, hoa có màu trắng, mùi hương thơm đậm. Quả của cây Quất có màu vàng hoặc màu đỏ. Đây là loại cây kiêm hai tác dụng rất rõ ràng, đó là: nó có thể là vật bày trong nhà để thưởng thức, cũng có thể làm đồ ăn được. Các loại cây gần với họ Quất như: Quất ngọt, Quất mật ôn thâu, Quất mật thiên tài, Quất mật Nam Phong...
Quất mật có tên gọi là "cam kim trường" thuộc nguyên liệu của cỏ vân hương, cây thường xanh, nơi trồng chính là ở phía Nam lưu vực sông Trường Giang Trung Quốc, hiện nay ở các khu vực khác như: Sơn Đông và phía Nam của Hoàng Hà cũng đã trồng loại Quất này. Cây Quất vàng có thể cao tới 3 mét, nở hoa màu trắng, hoa có mùi thơm và trong mười hai tháng thì kết thành quả có màu vàng giống như những chiếc chuông vàng, trông rất dễ thương, đẹp mắt. Loại cây này người ta thường để thưởng thức nhiều hơn là sử dụng. Các loài cây gần với họ Quất vàng như: Cam vàng tròn, Đậu vàng, Cam vàng...
Chữ "Quất" thông thường người ta viết thành chữ "Cam". Những gia đình giàu có ở phía Nam Trung Quốc ngày xưa thường trang trí trên các khung cửa sổ nhà mình hình cây Quất với con hươu bởi âm của nó gần với bốn chữ "Cát tường phúc lộc". Do đó lấy âm "Cam" để đặt tên còn hàm chứa ý nghĩa là cát tường, khi đặt tên cho con có thể thêm vào "chữ Phúc", "chữ Lộc"... Ví dụ như: Nghiêm Phúc Cam, Trần Lộc Cam...
Có một vài thi nhân rất tôn sùng từ "Cam" này. Bài thơ "Cam tụng" của nhà thơ nổi tiếng Khuất Nguyên là một ví dụ. Trong bài thơ ấy nhà thơ đã nêu ra tập tính đặc thù của cây cam là: nếu cây cam được trồng ở đất phương Nam thì sẽ cho con người trái ngọt, còn nếu người đem nó ra trồng ở phương Bắc, cho dù nó cũng đơm hoa kết trái cũng chỉ là trái đắng hoặc chua mà thôi. Có điều nhà thơ Khuất Nguyên nói đến cây Cam, nói đến đặc thù của cây chung thuỷ với một loại đất là để giãi bày tâm sự của một người tuy tha hương nơi đất khách quê người nhưng không bao giờ nguôi nỗi nhớ thương da diết về tổ quốc. Cho nên tên "Cam" có thể dùng để đặt tên cho cả con trai lẫn con gái. Ví dụ như tên con trai đặt là Giang Nam Cam, Vương Cam Phong, Quách Mộng Cam...
Cây Đa: cũng có thể gọi là "Chính Đa" nguyên liệu thuộc họ cây dâu, phân bố ở các vùng phía Nam Trung Quốc, nhiều nhất là ở các tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc. Cây Đa thuộc họ thân cao, chiều cao của nó có thể lên tới 20 đến 30 mét, cây có hình dáng xù xì, có gốc rủ từ trên ngọn xuống, trông từ xa một cây Đa cổ thụ có thể giống như khu rừng rất tráng lệ, tuổi thọ của nó rất dài, khoảng trên 700 năm. Chữ "Đa" của cây Đa thích hợp trong việc đặt tên cho con trai bởi nó mang hàm nghĩa là trường thọ và tráng kiện. Ví dụ như: Lý Đa Thọ, Trương Thọ Đa, Vương Đa Căn. Và cũng có thể có cách đặt tên khác của cây Đa như: Chính Đa, Triệu Chính Đa, Lưu Chính Đa. Những cái tên này đều bao hàm nghĩa tốt phẩm chất cây Đa.
Cây Long Não: cũng có thể gọi là "Cây Hương Chương" nguyên liệu thuộc họ cây Chương, cây Long Não là loại cây đặc sản của Trung Quốc, nó phân bố ở các tỉnh duyên hải phía Đông Nam Trung Quốc và được trồng rất nhiều ở các tỉnh như: Phúc Kiến, Đài Loan. Cây Long Não thuộc họ nhà thân cao, chiều cao của nó có thể lên tới 30 mét, hoa của nó nhỏ nhưng có màu vàng đậm, quả có màu tím sẫm, phía trên của cây Long Não tương đối to, có thể che rợp một khoảng đất rộng và thế cây rất hùng vĩ. Cây Long Não còn có một mùi thơm rất riêng, nó là một trong các loại cây đáng được nuôi dưỡng và bảo vệ bởi nó không những có giá trị về kinh tế mà còn nhiều tác dụng như: che bóng mát, tạo phong cảnh nữa. Tên của cây Long Não tương đối thích hợp trong việc dùng để đặt tên con trai. Ví dụ như: Hàn Đình Chương, Lưu Chương Xá...
Nguồn: Quan Hi Hoa, "Cách đặt tên cho con" (Hà Sơn - Thanh Anh dịch, NXB Văn Hoá Thông Tin, 2002)
