Bài tổng quan
Số lý tên gọi trong hôn nhân, sự nghiệp và hệ Can Chi
Nhà thơ Lục Du yêu vợ tha thiết, nhưng cuối đời vẫn chết già nơi hoang vắng, chỉ vì hai cái tên phạm đúng thế Thủy Hỏa tương khắc. Một nguyên lão tay trắng làm nên sự nghiệp lớn nhờ tên ông hội đủ tam tài phối hợp. Và đứng sau mọi con số ấy là một hệ thống 22 chữ ra đời từ thời Hoàng đế…
Có hai câu hỏi thiết thân nhất: một cái tên có thể nói trước điều gì về hôn nhân, và điều gì về sự nghiệp của người mang nó.
Tên gọi trong mệnh lý học truyền thống và hôn nhân
Số lý của một cái tên hóa ra còn được đọc như một lời tiên đoán về đường chồng con.
Số lý họ tên cũng ngầm nói lên tình trạng hôn nhân và tình trạng gia đình. Trong Danh tính học, để lựa chọn được một cuộc hôn nhân lý tưởng, đầu tiên phải biết Ngũ hành nhân cách của 2 bên có tương khắc hay không? Và mức độ tương khắc ra sao? Nếu là hung thì có thể hóa cát hay không? Để tránh sau này gặp những chuyện không hay thì nên chọn Ngũ hành nhân cách tương sinh. Theo truyền thống của người Trung Quốc, từ thành công đối với nam là chỉ công việc và sự nghiệp thành công; còn đối với nữ giới lại chỉ có lương duyên tốt đẹp, vợ chồng thương yêu hòa hợp, con cái khỏe mạnh, thông minh. Nếu trong số lý học, tên của phụ nữ có số lãnh đạo thì khó có được lương duyên tốt, cho dù là lương duyên do trời định, ngắn thì được mấy tháng, dài thì được mấy năm, khó mà tránh được sự ly biệt. Còn số lãnh đạo lại là số tốt với nam, đối với nữ giới thì mệnh cô quả, hoặc là vợ chồng phân ly. Xem xét số lý của những người phụ nữ có mệnh cô quả, có thể không xem số thiên cách. Bất luận là cách nào: nhân cách, địa cách, tổng cách, ngoại cách mà là số 21, 23, 29, 39 thì đều là số lãnh đạo, tức là rơi vào mệnh cô quả. Những phụ nữ này đa phần có năng lực làm việc, hiếu thắng hoặc cá tính cương nghị, thiếu sự dịu dàng, vì thế mà cuối cùng dẫn đến cuộc đời cô đơn một mình. Những cô gái trẻ có nhân cách, địa cách bao gồm số có vận cô đơn, cô quả thì tốt nhất là nên đổi tên trước khi kết hôn, để tránh những đau khổ sau khi lấy chồng.
Nhà thơ nổi tiếng thời Nam Tống - Lục Du, vốn lấy vợ tên là Đường Uyển, vợ chồng chung sống rất hòa thuận, nhưng mẹ của Lục Du không thích Đường Uyển, dẫn đến 2 vợ chồng bị ép phải chia ly, không lâu sau Đường Uyển vì quá buồn rầu mà chết đi. Địa cách của tên Đường Uyển là 14: xinh đẹp, cô độc, phân ly, duyên phận long đong, lận đận, cuộc đời buồn khổ, nhân cách 23, tổng cách 23 lại là vận cô độc, cô quả của người phụ nữ. Nhân cách của tên Lục Du là 29, tức là Thủy. Địa cách 14 là Hòa, Thủy Hỏa tương khắc, hôn nhân trắc trở, khắc vợ. Đây là một đôi tình nhân tương khắc nhau, cuối cùng Lục Du cũng chết già ở nơi hoang vắng. Từ Tông Hán là nữ anh hùng của Đảng cách mạng Quảng Châu thời kỳ cách mạng Tân Hợi. Lúc 18 tuổi, cô kết hôn với Lý Phổ, sinh được một trai, một gái. Mấy năm sau Lý Phổ mất, Từ Tông Hán lại kết hôn với Hoàng Hưng, cũng sinh được một con trai. Ông này sau đó cũng chết vào năm 1916. Từ Tông Hán ở vậy nuôi con, đến năm 1944 thì qua đời. Địa cách của Từ Tông Hán là 23, tổng cách là 33, là số phụ nữ có mệnh cô quả. Nếu xét theo số lý họ tên thì bộ nhân cách là 23, tức là lý mệnh cô quả.
Từ những ví dụ trên có thể thấy số lý họ tên có ảnh hưởng đến cuộc đời của người phụ nữ như thế nào. Nếu những cô gái chưa kết hôn hay đang tìm ý trung nhân mà có nhân cách, địa cách là 21, 23, 28, 29, 33, 39... thì khó mà gặp được một cuộc hôn nhân tốt đẹp như ý muốn, nếu không phải là không tìm được người bạn đời như ý, thì gia đình cũng khó mà hòa thuận được sau khi kết hôn, tốt nhất là nên đổi tên trước khi lập gia đình. Dưới đây, xin đưa ra số lý của tên gọi của người phụ nữ với vận hôn nhân, gia đình. Số phụ nữ cô độc, cô quả (khó tìm chồng, gia đình bất hòa, vợ chồng không chịu nhường nhịn nhau): 21, 23, 26, 28, 29, 30, 39. Số phụ nữ đức hạnh (phẩm chất tốt đẹp, giúp đỡ chồng, thương yêu con): 5, 6, 11, 13, 15, 16, 24, 31, 32, 35. Trong hôn nhân họ tên cũng có ảnh hưởng không nhỏ, nên họ tên đẹp sẽ có lợi cho một cuộc hôn nhân viên mãn, gia đình hạnh phúc, ngược lại nếu họ tên xấu thì sẽ làm cho cuộc hôn nhân gặp nhiều tai ương ngang trái. Đặt một cái tên tốt là điều kiện tiên quyết để có cuộc hôn nhân mỹ mãn, gia đình hạnh phúc.
Tên gọi trong mệnh lý học truyền thống và sự nghiệp
Mỗi người đều có lý tưởng và mưu cầu riêng về cuộc sống, đều hy vọng có một sự nghiệp lớn. Cũng giống như việc có thể dự đoán được sự hưng cát của cuộc đời và vận mệnh theo cách nói của mệnh lý học cổ đại, tỷ lệ thành công cao hay thấp cũng có thể dự đoán được nhờ căn cứ vào ngũ cách. Kết hợp số lý thiên cách và số lý nhân cách sẽ tạo thành vận thành công. Kết hợp số lý nhân cách và số lý địa cách sẽ tạo thành vận cơ bản. Do vận thành công và vận cơ bản tạo thành tam tài (thiên cách, nhân cách, địa cách) gọi là tam tài phối hợp, thực tế là quan hệ chi phối lẫn nhau giữa thiên cách, nhân cách, địa cách. Mối quan hệ này ngầm nói lên tỷ lệ thành công trong sự nghiệp của mỗi cá nhân, đồng thời cũng nói lên sự nghiệp của người đó có thuận lợi hay không. Số cách tam tài là 24, 29, 33 là số tài phú, là số từ hai bàn tay trắng mà làm nên sự nghiệp. Ngoài ra, thuộc số cát còn có những người chưa bị tam tài Ngũ hành tương khắc đều thuộc hung. Trong tam tài Ngũ hành, địa cách là nam tính của nhân cách thông thường sau khi kết hôn có thể được sự giúp đỡ của người bạn đời mà tài phú càng nhiều. Nguyên do có thể là người vợ tương sinh sẽ đem lại sự thỏa mãn về tinh thần cho chồng, làm cho chồng có niềm tin, từ đó chuyên tâm phát triển sự nghiệp. Ngoài ra do người vợ cần cù, biết tiết kiệm, giữ tài sản, bố trí thích hợp số tiền mà chồng kiếm được.
Ví dụ như, cái tên Vu Hữu Nhiệm có số nhân cách là 8, số lý là 8, số ngoại cách là 7, số lý là 7, ngầm nói lên ý nghĩa vượt qua bao gian nan để có được thành công. Vu Hữu Nhiệm là nguyên lão của Quốc Dân Đảng, là nhà thơ, nhà thư pháp, lúc trẻ đã từng theo Tôn Trung Sơn tham gia cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, hưởng thọ 87 tuổi. Ông có nhân cách là 24, là người có tài trí, mưu lược xuất chúng, nhưng ngoại cách là 10, thuộc thành sự không như ý, thêm vào đó tam tài phối hợp là hung, nhân cách Hỏa khắc thiên cách, địa cách Kim.
Theo thống kê, những người có nhân cách là 3, 5, 6, 11, 13, 16, 21, 23, 25, 31, 32, 33, 34, 37, 41 mà có quan hệ với thiên cách, địa cách tốt thì phần lớn là được hưởng hạnh phúc, thuận lợi, do đó sự nghiệp nhất định sẽ thành công. Số nhân cách là 4, 9, 10, 14, 20, 22, 24 là số hung, những người thuộc số lý này thì cuộc đời không được như ý muốn, sự nghiệp gặp trắc trở, dễ thất bại, khó tránh được cảnh cô độc, buồn phiền. Những người có nhân cách là 7, 8, 17, 18 thường có ý chí kiên định, có dũng khí vượt qua mọi khó khăn, tuy cá tính hơi cứng nhắc một chút nhưng thường thu được thành công từ trong khó khăn. Nếu người có nhân cách số lý là 27, 28 thì tính tình quá cứng, thiếu khiêm tốn, dễ gặp khó khăn, dễ mắc bệnh, dễ bị vu khống, công kích, không hòa thuận với con cái, người thân, hoặc là bản tính yếu đuối, hoặc sự nghiệp khó thành công. Văn nhân tri thức cho dù đặt tên là gì nhưng nếu nhân cách số lý là những số này thì khó có sự nghiệp thành công.
Tóm lại, dựa theo ngũ cách, phối hợp thiên cách, nhân cách và địa cách, tức là vận hung cát của tam tài phối hợp, thì sẽ trực tiếp quyết định đến tỷ lệ thành công cao hay thấp, quyết định sự nghiệp có thuận lợi được như ý muốn hay không. Chú ý nếu số lý thiên cách, nhân cách, địa cách quá 10, thì chỉ lấy phần đơn vị, nếu là số không thì sẽ tính là số 10. Như vậy mới có số từ 1-10. Ví dụ, nhân cách là 29 thì bỏ 20 đi, còn 9.
Thiên can Địa chi: gốc gác của mọi phép tính ngày giờ
Đằng sau mỗi con số Thiên cách, Nhân cách là một hệ thống 22 chữ cổ hơn rất nhiều: Thiên can và Địa chi.
Can chi là cách gọi tắt của 10 Thiên can và 12 Địa chi. Can chi có tổng cộng 22, trong đó chi khá dễ dàng để có thể hiểu được vì mỗi chi tương ứng với một con vật cụ thể. Ví dụ: Tý - chuột, Sửu - trâu, Dần - hổ, Mão - mèo, Thìn - rồng, Ngọ - ngựa, Mùi - dê, Thân - khỉ, Dậu - gà, Tuất - chó, Hợi - lợn. 12 con vật này cũng là 12 cầm tinh. Thiên can bao gồm 10 thông tin: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Từ lịch thời cổ đại Trung Quốc có thể thấy tiền nhân đã dùng can chi để làm nên hệ thống ngày, tháng, năm. Sau này can chi được ứng dụng rộng rãi trong văn hóa, khoa học cổ đại. Thiên văn học dùng can chi để tham chiếu tọa độ. Mệnh lý học và tâm lý học Trung Quốc dùng can chi để dự đoán về vận khí, sức khỏe, hôn nhân, tiền đồ. Phong thủy học dùng can chi để phân biệt vị trí. Bát quái dùng can chi để làm dấu hiệu tiên đoán... Nói tóm lại 10 Thiên can kết hợp với 12 Địa chi và Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, đã bao quát toàn bộ nền văn minh cổ Trung Quốc.
| Thiên can | Ý nghĩa ban đầu |
|---|---|
| Giáp | Giống như một cái cây mọc trên một khoảng đất lớn, được mặt trời bao bọc. |
| Ất | Như là cây cỏ non, mới đầu rất mềm yếu. |
| Bính | Có nghĩa như mặt trời, nổi bật, sáng rõ, tỏa ra xung quanh, vạn vật sinh sôi nảy nở. |
| Đinh | Tượng trưng cho sự trưởng thành, ví như con người trưởng thành. |
| Mậu | Nghĩa là rậm rạp, tươi tốt, giống như sự sinh sôi nảy nở của cây cỏ. |
| Kỷ | Là bắt đầu, là ghi nhớ, như khi vạn vật nhô lên là bắt đầu, có hình dạng và có thể ghi nhớ. |
| Canh | Tức là mang những thứ từ mùa thu thu hoạch được để tới mùa xuân. |
| Tân | Là mới, người mới, vạn vật đều mới. |
| Nhâm | Tức là có mang, khi mà mặt trời và mặt đất vẫn còn hỗn loạn, vạn vật còn đang trong thời kỳ thai nghén. |
| Quý | Còn có nghĩa là xét, khi mà vạn vật còn bị che lấp, những cái mới đang bắt đầu manh nha. |
| Địa chi | Ý nghĩa ban đầu |
|---|---|
| Tý | Trong 12 Địa chi lấy Tý làm đầu, có nghĩa là dưỡng khí bắt đầu xuất hiện, vạn vật sinh ra dưới ánh nắng mặt trời. |
| Sửu | Nghĩa là khí lạnh đi xuống, âm khí bị ức chế. |
| Dần | Tức diễn biến, biến hóa, khi vạn vật sinh sôi biến hóa, dương khí thịnh, vạn vật tụ họp lại. |
| Mão | Mọc lên từ lòng đất, âm dương hòa lại với nhau. |
| Thìn | Tức thần, nghĩa là vật và thần giãn ra, vạn vật phấn chấn. |
| Tỵ | Tức dương khí lên đến cực điểm, vạn vật di chuyển xuống phía nam. |
| Ngọ | Dương khí đi lên đối nghịch âm khí, dương khí ít. |
| Mùi | Mặt trời lặn, vạn vật lúc sắp lụi tàn. |
| Thân | Tức thân thể, vạn vật đều tốt đẹp. |
| Dậu | Là già, vạn vật đều đã già, thu hoạch được, dương khí tiềm tàng. |
| Tuất | Tức họa, vạn vật suy tàn, âm thịnh dương suy. |
| Hợi | Vạn vật kết trái đơm hoa. |
Lịch âm dương là dựa vào sự vận động của mặt trăng, mặt trời và trái đất mà thiết lập nên. Tổng hợp 2 loại lịch là âm lịch và dương lịch gọi là lịch âm dương. Dương lịch 1 năm có 365 ngày, âm lịch 1 năm có 354 ngày, như vậy 1 năm 354 ngày, 12 tháng của âm lịch với 365 ngày 12 tháng của dương lịch chênh nhau là 11 ngày. Do vậy để đạt được sự hài hòa cân bằng thì phải có tháng nhuận để điều tiết. 1 năm chênh 11 ngày, vậy 3 năm sẽ có 33 ngày. Như vậy 3 năm phải có 1 tháng nhuận và vẫn còn dư 3 hoặc 4 ngày, tức là 2 năm lại chênh nhau 25 hoặc 26 ngày, do đó vẫn phải có 1 tháng nhuận. Như vậy về cơ bản là 3 năm có 1 năm nhuận, 5 năm có 2 năm nhuận, 19 năm có 7 năm nhuận để điều tiết dương lịch và âm lịch. Tháng nhuận không thể tùy tiện sắp xếp mà phải dựa trên tiết khí và đông chí của ngày, phải có "tiết" vô "khí" là tháng nhuận, tháng có "khí" vô "tiết" không thể là tháng nhuận. Đông chí sau tháng nhuận là 29 tháng 11. Một năm phải có tháng nhuận. Tháng nhuận đa số vào tháng 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, trong đó tháng 9 và tháng 10 có tỷ lệ rất thấp, còn tháng 1 và 11, 12 thì không xảy ra. Một năm bình thường có 12 tháng, còn năm nhuận có 13 tháng.
Can chi có tác dụng ghi chép thời gian có hệ thống, dùng 10 Thiên can và 12 Địa chi để ghi nhớ năm, tháng, ngày và thời gian. 10 Thiên can và 12 Địa chi cần tương xứng là dương can phối dương chi, âm can phối âm chi. 5 dương can phối 6 dương chi tạo ra 30 can chi dương. 5 âm can phối 6 dương chi tạo ra 30 can chi âm. 2 loại này kết hợp với nhau gọi là 60 can chi hay là 60 Hoa Giáp hoặc là 60 Giáp Tý. 60 Hoa Giáp này đã hình thành nên hệ thống ghi chép độc đáo và đặc biệt của Trung Quốc. Trong 60 Giáp khởi đầu có 6 Giáp cho nên gọi là: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. 1 giờ ghi 1 can chi, 1 ngày ghi 1 can chi, 1 tháng ghi 1 can chi, 1 năm ghi 1 can chi bắt đầu từ thời Hoàng đế. Mỗi can 60 năm là 1 Hoa Giáp, hết lại quay về điểm ban đầu, tuần hoàn không ngừng. Khí trời 1 vòng 6 năm, khí địa 1 vòng 5 năm, khí thiên địa kết hợp với nhân 1 vòng là 30 năm. Âm dương tương giao, 1 vòng là 60 năm, người cổ đại gọi là khí số.
