Bài tổng quan
Giá trị của tên gọi và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Cổ nhân xếp "danh hiệu" vào một trong năm nhân tố quyết định sự nghiệp một đời người, ngay sau mệnh, vận và phong thủy. Đến năm 2002, một hội nghị y học hành vi ở Mỹ còn đi xa hơn: lật lại giấy chứng tử của hàng chục nghìn người để xem ai sống thọ hơn ai, chỉ dựa vào một thứ duy nhất…
Lùi lại một bước để hỏi vì sao người Trung Quốc coi trọng việc đặt tên đến vậy, và vì sao có người tin rằng một cái tên có thể chữa được bệnh.
Giá trị của một cái tên hay
Cổ nhân cho rằng, một người muốn có sự nghiệp thì phải có 5 nhân tố lớn: nhất mệnh, nhị vận, tam phong thủy, tứ danh hiệu, ngũ độc thư. Văn hóa Trung Quốc vốn có "văn hóa danh", học thuyết Nho giáo giữ vai trò chủ đạo trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc mấy nghìn năm và được gọi là "quốc giáo", vì vậy do truyền thống lịch sử và bối cảnh văn hóa nên người Trung Quốc đặc biệt coi trọng họ tên của mình. Nhà hiền triết cổ đại Quản Văn Tử nói: "Hình dĩ định danh, danh dĩ định sự, sự dĩ nghiệm danh", tức là khi quan sát, phân biệt sự vật, nhân vật thì phải đặt tên cho nó, sau đó mới có thể thành sự được. Còn sự thành bại được mất của sự việc lại có thể kiểm nghiệm được danh. Thời cổ còn có một câu nói nổi tiếng: "Hữu kỳ danh tất hữu kỳ thực, danh vi thực chi bảo dã", nghĩa là: dấu hiệu nhất định đại diện cho một sự vật nào đó, có sự thì sẽ sinh ra dấu hiệu đại diện cho nó, tức là tên gọi. Ngược lại từ dấu hiệu hoặc tên gọi cũng có thể hiểu được nội dung và đặc trưng của sự vật đó. Từ đó có thể thấy, con người luôn cho rằng tên gọi và vận mệnh của một con người có mối quan hệ mật thiết với nhau. Từ xưa đến nay, lúc đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời thì bố mẹ, họ hàng đã đặt tên cho con theo ước nguyện của mình, hoặc theo tiền đồ, theo sức khỏe hoặc tài vận, vì họ luôn hy vọng vào niềm tin một cái tên tốt sẽ đem lại vận tốt cho con cái. Theo phương diện tâm lý của mọi người, thì cái tên tượng trưng cho hình tượng bề ngoài, phẩm vị, văn hóa tín ngưỡng, thậm chí là vận chí của một cá nhân, giống như tặng cho ngàn vàng không bằng đặt cho cái tên hay. Con người chúng ta là do cha mẹ sinh ra, tên là do cha mẹ tặng. Khi cha mẹ đặt tên cho con, đã truyền đạt tâm lý văn hóa, sự lựa chọn văn hóa, tư tưởng và tinh thần nhân văn. Từ lâu người Trung Quốc đã dùng gia phả để xếp đời, đặt tên, điều này không chỉ thể hiện tâm lý văn hóa của đời cha ông, mà còn thể hiện sự kỳ vọng của liệt tổ liệt tông đối với đời sau. Từ đó có thể thấy, đặt tên là một hành vi văn hóa, là sự nối tiếp trong hình thức quan hệ huyết thống của con người.
Ảnh hưởng của tên họ đối với sức khỏe
Nếu tên gọi chỉ là chuyện văn hóa và tâm lý thì đã đủ ly kỳ, nhưng giới y học hành vi ở Mỹ còn đi xa hơn: họ đo cả tuổi thọ theo cái tên.
Cuộc họp lần thứ 19 năm 2002 của Hội hành vi y học (viết tắt là SBM) chuyên thảo luận về vấn đề "Mối quan hệ giữa tên họ và tuổi thọ", sau khi nghiên cứu cụ thể giấy chứng tử của người tử vong từ năm 1969-1995 đã rút ra kết luận: những người đàn ông mà tên họ viết rút gọn lại mang ý nghĩa xấu như: Pig (lợn), Bum (kẻ nát rượu), Ugh (hừ, trách móc, khinh miệt), Die (chết), Sad (buồn)... có tuổi thọ ngắn hơn so với những người có tên như: Joy (vui vẻ), Love (yêu thương), Win (chiến thắng), Wow (thành công to lớn), Live (cuộc sống)... Như vậy những người đàn ông tên họ có nghĩa tốt sẽ sống lâu hơn 7,28 năm so với những người có tên xấu. Không phải ngẫu nhiên mà các chuyên gia y học hành vi của Mỹ lại "mê tín" như vậy. Họ đã tổng hợp những nguyên nhân như: chủng tộc, giới tính, thời gian tử vong, tình trạng kinh tế xã hội và tình cảm gia đình... nhưng vẫn không thể lý giải kết quả nghiên cứu mới. Theo báo cáo: một phát hiện khiến cho mọi người phải kinh ngạc rằng, dường như tên mà bố mẹ đặt cho con cái có thể thay đổi thời gian và nguyên nhân tử vong của chúng. Những người mà tên họ có ý nghĩa xấu không chỉ đoản mệnh mà cũng bị nhiều bệnh hơn, tỷ lệ đột tử cũng cao nhất.
Tiếng Hán được coi là loại hình ảnh, âm, hình tượng thần kỳ không chỉ mở ra tri thức của con người, mà còn có thể điều chỉnh tâm tình, dưỡng sinh, trị bệnh, trừ bỏ tai họa. Đó là một trong những công dụng quan trọng của chữ Hán. Đối với công năng dưỡng sinh của chữ Hán, sách cổ của Trung Quốc cũng đã giới thiệu "Ngũ tự quyết dưỡng sinh pháp": Chui (吹 thổi), Hu (呼 thở), Xu (嘘 hà hơi), He (呵 ha), Xi (嘻 hì hì). 6 chữ trong dưỡng sinh là một phương pháp dưỡng sinh được truyền lại từ thời cổ đại thuộc phương pháp Thổ Nạp. Trong "Vân thất thiêm" của Đạo gia và "Tu tập chỉ quan tọa thiền pháp yếu" của Phật gia Trung Quốc đều ghi lại 6 câu quyết pháp đó, thậm chí còn có cả phương pháp rèn luyện cụ thể, tức là: trong cơ thể con người, ngũ tạng là âm, lục phủ là dương, tạng phủ đối ứng nhau, đọc to 6 từ quyết đó cũng là rèn luyện cho lục phủ ngũ tạng tăng cường sức khỏe trị bệnh cho con người. 5 từ quyết pháp dưỡng sinh đó cụ thể là: làm tăng khả năng của các cơ quan trong cơ thể, thông qua đặc điểm lớn nhất của động tác hít thở là điều động và dẫn đến thúc đẩy chức năng của phủ tạng để chống lại các căn bệnh, phòng ngừa sự lão hóa sớm theo độ tuổi tăng lên của con người. "Ngũ tự quyết dưỡng sinh pháp" chính là đọc nhẹ nhàng, chậm rãi 6 từ: Chui, Hu, Xu, He, Xi trong tiếng Hán, dùng âm đọc của từ làm cho phủ tạng, khí quyết lưu thông, điều hòa, từ đó mà có được công hiệu chữa bệnh của dưỡng sinh. Bởi vì 5 chữ đó đọc rất nhẹ, có cảm giác như là có một dòng khí đang chạy dọc trong cơ thể. Khi đọc phải thả lỏng cơ thể, không lo lắng và phải tập trung toàn bộ tinh thần. Đọc Xu (嘘 hà hơi) có thể trị bệnh Gan; đọc He (呵 ha) có thể trị bệnh tim; đọc Hu (呼 thở) có thể trị bệnh tỳ; đọc Chui (吹 thổi) có thể chữa bệnh Thận; đọc Xi (嘻 hì) có thể chữa bệnh tam tiêu. Vậy tam tiêu là gì? Tam tiêu chính là nói đến hệ tiêu hóa. Tiêu có nghĩa là tiêu phủ, tam tiêu bao gồm: thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu. Thượng tiêu chính là phần từ dạ dày trở lên đến miệng, công năng chính là hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa và vận chuyển thức ăn. Trung tiêu là dạ dày, công dụng chính là làm lợi cho việc tiêu hóa thức ăn. Hạ tiêu là phần phía dưới bàng quang, công dụng chính là đào thải và bài tiết.
Danh y Tôn Tư Mao đời Đường đã hoàn thành Lục tự quyết trị bệnh. Ông theo trật tự của tương sinh Ngũ hành, phối hợp 4 mùa, viết ra 6 câu hát dưỡng sinh, ý nghĩa là: mùa xuân dùng Hư (嘘) để trị bệnh gan, mùa hạ dùng Ha (呵) để trị bệnh tim, mùa thu dùng Hư để trị bệnh phổi, mùa đông dùng Xuy (吹) để trị bệnh thận. Hồ trị bệnh tỳ và Hi (嘻) trị bệnh tam tiêu. Căn cứ vào tiết khí mà dùng 6 chữ này để dưỡng sinh trị bệnh thì có hiệu quả rất tốt. 6 chữ này vô cùng đặc biệt, không những có thể chữa được bệnh ở phủ tạng, mà còn có thể điều chỉnh chức năng của những cơ quan trong cơ thể. Ví dụ như khi cơ thể cảm thấy lạnh có thể dùng Xuy (吹) để làm cơ thể nóng lên, khi cơ thể cảm thấy nóng bức khó chịu dùng Hồ (呼) để trị, dùng Hi (嘻) để trị khớp xương đau nhức, dùng Ha (呵) để trị phiền muộn. Khi có đờm dùng Hư (嘘) để trị. Khi mệt mỏi chán chường dùng Hư để trừ bỏ nó. Nói tóm lại, Xuy trừ hàn, Hư trừ nhiệt, Hi trừ đau đớn, Ha trừ phiền muộn.
Dùng chữ Hán để trị bệnh và phòng bệnh chỉ là một phần dưỡng sinh. Trong quá trình chữa bệnh bằng thuốc, nên kết hợp phương pháp đọc chậm Lục Tự quyết có thể nâng cao hiệu quả trị bệnh. Tại sao tên họ lại có ảnh hưởng tới sức khỏe? Đầu tiên phải nói tới âm đọc của chữ, tỷ lệ sử dụng tên chữ vô cùng nhiều, do đó chúng ta không thể không chú ý đến ảnh hưởng của âm đọc đối với sức khỏe. Cổ nhân đã nghiên cứu rất triệt để về âm thanh:
"Thanh thành văn vị trí âm, âm trí số ngũ xưa ngũ âm là chỉ quan thương giác, vũ, luật lệ trí viết quan giả, trung dã, cư trung ương sướng tứ phương, sương thỉ thy sinh vị vị tứ thanh tri kính. Phương giả, trương giả, vận hành sự minh dã, giác giả xúc dã. Vũ giả vũ dã, vật tàng tụ huy, vũ phúc tri dã".
Có nghĩa là: từ thính giác và cảm giác mà nói, âm quan mộc mạc hơi đục, từ xa có thể nghe thấy âm dương, cao lãnh lảnh mà hài hòa; âm giác hài hòa mà không tàn ác, thuận mà không khô khan; âm khô khan âm vũ thanh tròn. Hơn 200 năm trước, nhà sử học Tư Mã Thiên đã viết về mối quan hệ tương ứng của Ngũ hành và ngũ tạng trong sử ký. Tư Mã Thiên nói:
"Cố quan động ti nhi hòa chính thánh, thương động phế nhi hòa chính nghĩa, giác động can nhi hòa chính nhân, động tâm nhi hòa chính lễ, vũ động thận nhi hòa chính trí".
Tức là: ngũ âm có mối quan hệ mật thiết với ngũ hành, quan trọng ngũ hành thuộc Thổ ảnh hưởng tới tỳ vị của con người. Hỏa trong ngũ hành ảnh hưởng đến tim, tương ứng với Kim trong ngũ hành có ảnh hưởng đến phổi. Vũ ứng với Thủy trong ngũ hành ảnh hưởng đến thận, giác ứng với Mộc ảnh hưởng đến gan. Như vậy ngũ âm và âm dương ngũ hành trở thành thế du dương trầm bổng bao hàm sinh khắc chế cơ. Ngũ âm dùng trong danh tính học có thể hướng dẫn trạng thái cơ thể. Tứ thanh trong tiếng Hán hiện đại cũng có mối quan hệ tương ứng với lục phủ ngũ tạng của con người. Trong tiếng Hán có hơn 400 âm tiết đều do thanh và vận tạo thành, mỗi âm tiết đều có 4 thanh: bình, thượng, khứ, nhập. Do đó tạo thành hơn 1.200 thông tin âm chất khác nhau. Sự biến hóa 4 thanh này đều do sự biến đổi trạng thái tình cảm ngũ tạng của con người gây nên: bình thanh có ảnh hưởng đến gan, thượng thanh (thanh 3) có ảnh hưởng các chức năng của tim; khứ thanh (thanh 4) có ảnh hưởng đến phổi; nhập thanh có ảnh hưởng đến thận.
Hơn nữa, từ ý nghĩa mà nói, những người mà tên họ có ý nghĩa tốt thì thường khỏe mạnh sống thọ. Những người có tên họ xấu không chỉ đoản mệnh mà còn dễ mắc bệnh hơn. Ví dụ: Thủy (nước) là nguồn cội của sinh mệnh, người có họ Thủy đặt tên là Thủy Tĩnh, gợi cho người nghe cảm giác yên bình. Chữ "băng" có thể làm cho khả năng của con người thu hẹp lại hoặc các phản ứng tự khép kín, giống như là nước đông lại. Người có họ Hạ đặt tên là Hạ Băng có tác dụng giải nhiệt. Nước từ dưới phun lên gọi là Tuyền làm mọi người liên tưởng đến dưỡng sinh có thể trị bệnh. Người có họ Khang đặt tên là Khang Phúc Tuyền sẽ tạo cảm giác về sự khỏe mạnh, hạnh phúc của suối nguồn, khiến cho con người luôn vui vẻ. Người có họ Bạch đặt tên là Bạch Cát Thọ bao hàm ý nghĩa là người đó không sống được bao lâu, vì họ Bạch và tên Cát Thọ khi kết hợp với nhau có nghĩa xấu làm tổn hại đến sức khỏe.
Căn cứ vào các nghiên cứu, việc đổi tên đối với những tên họ không tốt có thể mang lại những hiệu quả sau: điều tiết vận khí, có điều kiện để phát triển bản thân; đối với những người bệnh tật, việc đổi tên có thể sẽ có lợi cho sức khỏe; những người có cuộc sống hôn nhân không thuận lợi, đổi tên sẽ có lợi cho việc có được duyên, càng có lợi đối với sự hòa thuận trong gia đình; những người mà việc làm ăn không thuận lợi, đổi tên sẽ có lợi cho vận khí, tài vận; những người ở trong hoàn cảnh khó khăn một thời gian dài, đổi tên có lợi cho việc thay đổi trạng thái tâm lý, điều tiết tâm trạng, từ đó có thể tạo ra những cơ hội mới; những người có tính cách lập dị, đổi tên có lợi cho việc bồi dưỡng một tính cách tốt, có được mối quan hệ tốt với người khác. Các chuyên gia tâm lý từng thống kê và đưa ra kết quả cho thấy rằng, những người có một cái tên lạ, ít gặp bình thường, khả năng giao tiếp bình thường, chỉ là tính cách của họ có chút lập dị. Đổi một cái tên thường gặp, dễ đọc, phát âm vang sẽ có lợi cho việc bồi dưỡng tính cách, có nhân duyên tốt.
